TRUYỀN HÌNH TRỰC TUYẾN

http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/BT-TRUA_08_12.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 8/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/BT TRUA_08_12.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/thoi-su_12.jpg
Bản tin sáng ngày 8/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/BT SANG_08_12.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/QT_3.jpg
Bản tin quốc tế sáng ngày 8/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/BT QUOC TE SANG_08_12.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/tuoi-tre_0.jpg
CM tuổi trẻ xứ lạng ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/CM04_07_12.flv tuoi tre.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/dang_0.jpg
CM đảng trong cuộc sống ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/CM03_07_12_LAI.flv dang.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/CM02_07_12.flv-quoc-phong.jpg
CM quốc phòng toàn dân ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/CM02_07_12.flv quoc phong.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/thoi-su_11.jpg
Chương trình thời sự tổng hợp ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/thoi su_3.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/thoi-su_10.jpg
Chương trình thời sự trưa ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/BT TRUA_07_12.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/thoi-su_9.jpg
Bản tin sáng ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/BT SANG_07_12.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/QT_2.jpg
Bản tin quốc tế sáng ngày 7/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/BT QUOC TE SANG_07_12.flv
http://langsontv.vn/sites/default/files/illustration/2016/12/TH-nhan-dao.jpg
Cm truyền hình nhân đạo lạng sơn ngày 6/12/2016
http://langsontv.vn/sites/default/files/videos/2016/12/CM04_06_12_LAI.flv TH nhan dao.flv


 

Sáng 7/12, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc về nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân. Tại điểm cầu Lạng Sơn, đồng chí Hồ Tiến Thiệu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng lãnh đạo các sở, ngành tham dự hội nghị.
EVN miền Bắc vừa có phản hồi chính thức về việc mua biển cảnh báo an toàn với giá 31 tỷ đồng rồi hạch toán vào giá điện.
So với phiên trước giá vàng SJC tăng 50.000 đồng/lượng trong khi giá vàng thế giới tăng đạt mức 1.176 USD/oz.
Mô hình dạy học cả ngày của Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) đã làm thay đổi quan niệm về trường tiểu học, về giáo dục tiểu học trong toàn Ngành, xã hội; đặc biệt là ở cha mẹ học sinh và cộng đồng dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; giúp các cấp quản lý giáo dục thống nhất chỉ đạo thực hiện dạy học cả ngày trên cả nước.
LSTV - Nhằm để cung cấp cho cán bộ chiến sỹ Công an những kiến thức cơ bản và kỹ năng xử lý thương tích trong khi chiến đấu và khi làm nhiệm vụ bị thương, ngày 7/12/2016, Cục y tế Bộ Công an đã tổ chức Hội nghị tập huấn sơ cấp cứu chấn thương, tai nạn thương tích tại Lạng Sơn.
LSTV - Nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ chiến sỹ trong lực lượng CAND về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe và môi trường cũng như tuyên truyền về Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL), ngày 6/12/2016 tại Lạng Sơn, Cục Y tế Bộ Công an đã tổ chức Hội nghị tập huấn về thực thi Luật PCTHTL.
LSTV - Ngày 5/12/2016, công an huyện Chi Lăng ra quyết định khởi tố vụ án mua bán trái phép chất ma túy, đối với bị cáo Vi Huy Bình - Ssinh năm 1986, trú tại Khu Hòa Bình 1, thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
Trong 5 năm qua, quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các đơn vị; sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam…
Nhân dịp kỉ niệm 5 năm được UNESSCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới (2011-2016), khu di sản Thành nhà Hồ sẽ mở cửa miễn vé cho khách tham quan.
Số thương vong trong trận động đất mạnh 6,5 độ Richter ở tỉnh Aceh - Indonesia hôm 7-12 không ngừng tăng khi lực lượng cứu hộ khẩn trương tìm kiếm nạn nhân mắc kẹt trong đống đổ nát.
Mức giảm sâu nhất so với tháng 11 dành cho Mazda6 với 170 triệu trong khi CX-5 và Mazda3 cũng giảm cao nhất 90 triệu.
Với số lượng người chơi và độ lan tỏa khổng lồ, game di động này đứng đầu danh sách các trò chơi tạo nên xu hướng trên chợ ứng dụng dành cho thiết bị Android năm nay.
Bầu cử ĐBQH khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021
LSTV - Ngày 13/6/2016, Ủy ban bầu cử đại biểu HĐND thành phố Lạng Sơn (TPLS), nhiệm kỳ 2016 - 2021 đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2016 - 2021

CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 7/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/KINH TOI 7-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng tày, nùng ngày 7/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/TAY 7-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 7/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/CT DAO 7-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng kinh tối ngày 6/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/KINH TOI 6_12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng tày, nùng ngày 6/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/TAY 6_12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng dao ngày 6/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/DAO 6_12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 5/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/CT KINH TOI 5-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 5/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/TAY 5-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 5/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/DAO 5-12.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng kinh ngày 4/12/2016
sites/default/files/audio/2016/12/CA NHAC KINH 4-11.mp3
Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 8/12/2016

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

6h02' : Bản tin sáng ngày 8/12/2016

 

6h08' : Bản tin Quốc tế ngày 8/12/2016

  

6h15’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 294

 

6h21’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 310

 

6h24’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 174

 

6h34’: Chuyên mục  Quốc phòng toàn dân

 

6h46’: Ký sự  Ký sự Hỏa Xa – Tập 6/26

 

7h05’: Bay cùng cánh lạc  Tập 75

 

7h13’: Chuyên mục  Truyền hình nhân đạo

 

7h23’: Phim khoa giáo  Trái đất năm 2100 – Tập 4/4

 

7h43’: Rada TV  Thành lũy và công trình ngầm – P1

 

8h12’: Trái tim nhân ái  Kỳ 244 – Nguyễn Minh Kha

 

8h39’: Ca nhạc Việt  Số 44

 

9h00’: Bản tin sáng ngày 8/12/2016

 

9h06’: Bản tin quốc tế ngày  8/12/2016

 

9h13’: Bản tin tiếng trung ngày  7/12/2016

 

9h27’: Thông tin TT vùng cao  Số 49

 

9h39’: Chuyên mục  Trả lời bạn xem truyền hình

 

9h39’: Hành tinh thể thao ngày 8/12/2016

 

10h00’: Thời sự tổng hợp ngày ngày 7/12/2016

 

10h30’: Trang THCS  Số 341

 

10h43’: Chuyên mục  Vì màu xanh cuộc sống

 

10h54’: Phim truyện  Truyền thuyết thiếu lâm tự 3 - Tập 25/60 Phim TQ

 

11h45’: Bản tin trưa ngày 8/12/2016

 

12h00’: Phim truyện  Lấp lánh ước mơ – Tập 47/55 Phim TQ

 

12h45’: Bay cùng cánh lạc  Tập 75

 

12h54’: Tác phẩm mới  Số 11/2016

 

13h18’: Đội dự thi huyện Cao Lộc Hội thi tìm hiểu các mô hình HTX kiểu mới tỉnh LS năm 2016 – Số 9

 

12h45’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 8/12/2016

 

15h16’: Phim truyện  Ngự y của Hoàng Đế – Tập 41/75 Phim HQ

 

16h01’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 294

 

16h04’: Sức khỏe 365 ngày  Số 85

 

16h14’: Chuyên mục  Chống buôn lậu và gian lận thương mại – Số 46

 

16h25’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

 

16h34’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 7/12/2016

 

17h06’: Chuyên mục  Tuổi trẻ Xứ Lạng

 

17h17’: Trang THCS  Số 342

 

17h35’: Phim hoạt hình  Chiến binh Gormiti dũng cảm – Tập 27/52

 

17h47’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 310

 

17h51’: Bay cùng cánh lạc  Tập 76

 

18h00’: Phim truyện  Ngự y của Hoàng Đế – Tập 42/75 Phim HQ

 

18h45’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h50': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 8/12/2016

 

20h27’: Bản tin thể thao ngày 8/12/2016

 

20h31’: Chuyên mục  Đại đoàn kết toàn dân

 

20h43’: Chuyên mục  Khoa học công nghệ và Đời sống

 

20h53’: Chuyên mục  Bảo hiểm xã hội với cuộc sống

 

21h02’: Phim truyện  Truyền thuyết thiếu lâm tự 3 – Tập 26/60 Phim TQ

 

21h53’: Phim truyện  Lấp lánh ước mơ – Tập 48/55 Phim TQ

 

22h38’: Chuyên mục  Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

 

22h47’: Chuyên mục  Chuyện thời sự

 

22h58’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 310

 

23h01’: Bản tin tiếng Trung ngày 8/12/2016

 

23h16’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 175

 

23h27’: Văn hóa dân tộc  Số 65

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 6 tháng 12 năm 2016

 

Câu 1. Bà Nguyễn Thị Thủy, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Sau khi ly hôn, con được giao cho người cha trực tiếp nuôi dưỡng. Nay người mẹ muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vấn đề này được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

 

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, như: Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

 

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

 

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

 

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

 

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

 

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, quy định: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc.

 

Hồ sơ đề nghị thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn:  Đơn đề nghị thay đổi quyền nuôi con; Bản án ly hôn; Các tài liệu chứng minh cho yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là có căn cứ và hợp pháp.

Như vậy, căn cứ vào các quy định như trên, người mẹ muốn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau

khi ly hôn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người cha cư trú, làm việc xem xét, giải quyết.

 

Câu 2. Ông Trần Văn Dũng, trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hành vi hành chính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 01/7/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của tòa án.

 

- Về quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án: Điều 6 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định:

 

1. Người phải thi hành án có các quyền theo quy định của Luật tố tụng hành chính và các quyền sau đây:

 

a) Được thông báo về thi hành án;

 

b) Yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ, đính chính sai sót trong bản án, quyết định để thi hành;

 

c) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án hành chính.

 

2. Người phải thi hành án có các nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính và các nghĩa vụ sau đây:

 

a) Chấp hành đúng, đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định của Tòa án;

 

b) Thông báo cho người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

 

c) Thông báo kết quả thi hành án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong trường hợp người phải thi hành án là cơ quan;

 

d) Cung cấp thông tin, các tài liệu có liên quan về quá trình và kết quả thi hành án theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan có thẩm quyền.

 

- Về thi hành bản án, quyết định của Tòa án về hành vi hành chính: Điều 18 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định:

 

1. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên bố hành vi hành chính đã thực hiện là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải chấm dứt thực hiện hành vi hành chính đó kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Việc chấm dứt thực hiện hành vi hành chính phải được lập thành biên bản, có sự chứng kiến và ký tên vào biên bản của Chấp hành viên.

 

Người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự lập biên bản về việc người phải thi hành án vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật sau khi đã bị Tòa án tuyên là trái pháp luật. Người đứng đầu cơ quan của người thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật có trách nhiệm yêu cầu người đó chấm dứt thực hiện hành vi hành chính theo đúng bản án, quyết định của Tòa án.

 

2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên bố hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án.

 

Người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự lập biên bản về việc người phải thi hành án vẫn không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Người đứng đầu cơ quan của người không thực hiện hành vi hành chính có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo đúng bản án, quyết định của Tòa án.



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 11 năm 2016

 

Câu 1. Nguyễn Văn Nam, trú tại xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Do nhu cầu sử dụng, tôi muốn chuyển mục đích sử dụng đất vườn thành đất ở, thủ tục này được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 57 Luật Đất đai 2013 về chuyển mục đích sử dụng đất:

 

1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

 

a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

 

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

 

c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

 

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

 

đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

 

e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

 

g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

 

2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng.

 

Về trình tự thủ tục thì Ông phải chuẩn bị một bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 11 Thông tư 02/2015/TT-BTNMT bao gồm:

 

“2. Người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ, gồm có:

 

a) Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 09/ĐK ban hành kèm Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT;

 

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

 

3. Trình tự, thủ tục đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền như sau:

 

a) Người sử dụng đất nộp hồ sơ tại nơi tiếp nhận hồ sơ quy định tại các Khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 60 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;

 

b) Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận vào Đơn đăng ký; xác nhận mục đích sử dụng đất vào Giấy chứng nhận; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có); trao Giấy chứng nhận cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đổi với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.”

 

Câu 2. Bà Hoàng Thị Thanh, trú tại xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Hành vi tự ý chặt phá cây rừng gây thiệt hại về tài sản của người khác bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình: Hành vi tự ý chặt phá cây rừng gây thiệt hại về tài sản của người khác thuộc trường hợp áp dụng hình phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.

 

Đồng thời, người có hành vi vi phạm còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 604 của Bộ luật Dân sự: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

 

Nếu hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác có dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999:

 

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: Có tổ chức; Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; Gây hậu quả nghiêm trọng; Để che giấu tội phạm khác; Vì lý do công vụ của người bị hại; Tái phạm nguy hiểm; Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Căn cứ các quy định nêu trên, nếu có hành vi tự ý chặt phá cây rừng gây thiệt hại về tài sản, Bà có thể viết đơn trình báo đến Công an huyện để được xem xét giải quyết.

 

Nhắn tin:

 

1. Đơn của Ông Hứa Văn Quang và Hoàng Văn Vấn trú tại thôn Phạc Táng, xã Bảo Lâm, huyện Cao Lộc. Chúng tôi chuyển đến Ủy ban nhân xã Bảo Lâm xem xét trả lời.

 

2. Đơn của Ông Hoàng Văn Shịch, trú tại thôn Khau Phầy, xã Quang Bản, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Chúng tôi đã chuyển đơn đến Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Lộc Bình xem xét, trả lời.

 

3. Đơn của Bà Chu Thị Thương, trú tại xã Toàn Tâm, xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn: Đề nghị bà liên hệ trực tiếp tại Công an huyện Hữu Lũng đển được xem xét trả lời.

 

 

4. Đơn của Bà Vi Liên Mai, trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình đã chuyển đến đúng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 11 năm 2016



Câu 1. Bà Lương Thị Hương, trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Tiêu chuẩn công nhận gia đình văn hóa được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 4 Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương, quy định tiêu chuẩn Danh hiệu “Gia đình văn hóa” như sau:

1. Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

a) Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

b) Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;

c) Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm;

d) Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng.

2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

a) Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

b) Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình;

c) Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

d) Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng.

3. Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:

a) Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

b) Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng;

c) Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao.

 

Về Thẩm quyền, thời hạn công nhận:

“Gia đình văn hóa” do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) công nhận mỗi năm một (01) lần; công nhận và kèm theo Giấy công nhận ba (03) năm một (01) lần.

Về trình tự, thủ tục:

Hộ gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hóa với Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư;

Trưởng Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư chủ trì phối hợp với Trưởng thôn họp khu dân cư, bình bầu gia đình văn hóa;

Căn cứ vào biên bản họp bình xét ở khu dân cư, Trưởng Ban vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận “Gia đình văn hóa” hàng năm.

 

 

Câu 2. Ông Nông Văn Thế, trú tại xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Hành vi phơi thóc lúa trên đường, gây cản trở dẫn đến tai nạn giao thông thì bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì hành vi phơi thóc, lúa, rơm rạ, nông sản hoặc để vật khác trên đường bộ là một trong những hành vi bị nghiêm cấm. Nếu vi phạm sẽ áp dụng điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ:

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Phơi thóc, lúa, rơm, rạ, nông, lâm, hải sản trên đường bộ; đặt máy tuốt lúa trên đường bộ.

 

Trường hợp vi phạm mà gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cản trở giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt là phạt tiền từ 5 triệu đến 30 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Nếu vi phạm tại các đèo, dốc và đoạn đường nguy hiểm; gây hậu quả rất nghiêm trọng; đặc biệt nghiêm trọng thì khung hình phạt cao nhất đến 10 năm tù.

Đồng thời phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm hoặc tính mạng bị xâm phạm theo quy định tại Điều 609, 610 của Bộ luật Dân sự.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 11 năm 2016

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Đông, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định, nội quy về phòng cháy, chữa cháy; Trường hợp để xảy ra cháy nổ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, quy định như sau:

 

Điều 27. Vi phạm quy định trong việc ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

a) Chấp hành không đầy đủ nội quy, quy định về phòng cháy và chữa cháy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

 

b) Làm mất tác dụng hoặc để nội quy, tiêu lệnh, biển báo, biển cấm, biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy cũ mờ, không nhìn rõ chữ, ký hiệu chỉ dẫn;

 

c) Trang bị nội quy, tiêu lệnh, biển báo, biển cấm, biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy không đúng quy cách.

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

a) Không bố trí, niêm yết tiêu lệnh, biển báo, biển cấm, biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy;

 

b) Không chấp hành nội quy, quy định về phòng cháy và chữa cháy của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

 

c) Không phổ biến nội quy, quy định về phòng cháy và chữa cháy cho những người trong phạm vi quản lý của mình;

 

d) Ban hành các nội quy, quy định về phòng cháy và chữa cháy không đầy đủ nội dung hoặc không phù hợp với tính chất nguy hiểm cháy, nổ của cơ sở.

 

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không bố trí, niêm yết nội quy về phòng cháy và chữa cháy.

 

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không có hoặc có quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy nhưng trái với các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

 

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này.

 

Về xử lý hành chính:

 

Điều 48 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định hành vi vi phạm trong việc để xảy ra cháy, nổ:

 

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại dưới 2.000.000 đồng.

 

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vô ý vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.

 

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi vô ý vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 10.000.000 đồng đến dưới 25.000.000 đồng.

 

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vô ý để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

 

5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi do thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy, nổ.

 

6. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vô ý để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại trên 50.000.000 đồng.

 

Xử lý về hình sự:

 

Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy:

 

1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến tám năm.

 

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

 

4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Câu 2. Ông Chu Văn Tiến, trú tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Hành vi lái xe ô tô gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường và bỏ trốn bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Xử lý về hành chính:

 

Theo Điểm b khoản 7, Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông, hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn sẽ có mức phạt tiền 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng và áp dụng hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 2 đến 4 tháng.

 

Xử lý về hình sự:

 

“Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

 

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

 

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

 

 

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn…”

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 08 tháng 11 năm 2016

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Lâm, trú tại thôn Vĩnh Tiến, xã Hữu Lân, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định Điều 66 Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất:

 

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

 

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

 

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

 

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

 

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

 

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

 

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

 

Như vậy theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, chỉ có Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất.

 

Đồng thời Luật đất đai còn quy định chỉ thu hồi đất:

 

- Vì mục đích quốc phòng, an ninh;

 

- Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

 

- Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

 

- Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

 

Về tình tự, thủ tục thu hồi đất, ông có thể liên hệ trực tiếp tại Ủy ban nhân dân xã để được xem xét trả lời.

 

Câu 2. Ông Nông Văn Hưng, trú tại xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Cấp nào có thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng và thu hồi rừng đã giao, cho thuê hộ gia đình, cá nhân?

 

Trả lời:

 

Thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng: Theo Điều 28 Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 2004 quy định thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng: Thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng được quy định như sau:

 

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao rừng, cho thuê rừng đối với tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê rừng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

 

- Uỷ ban nhân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao rừng, cho thuê rừng đối với hộ gia đình, cá nhân;

 

Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền giao, cho thuê rừng nào thì có quyền thu hồi rừng đó.

 

Về vấn đề thu hồi rừng: Điều 26 Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Điều 26 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng: Nhà nước thu hồi rừng trong những trường hợp sau đây:

 

- Nhà nước sử dụng rừng và đất để phát triển rừng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia;

 

- Nhà nước có nhu cầu sử dụng rừng và đất để phát triển rừng cho lợi ích công cộng, phát triển kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt;

 

- Tổ chức được Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng hoặc được giao rừng có thu tiền sử dụng rừng có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê rừng trả tiền hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng rừng;

 

- Chủ rừng tự nguyện trả lại rừng;

 

- Rừng được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết hạn;

 

- Sau mười hai tháng liền kể từ ngày được giao, được thuê rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất để bảo vệ và phát triển rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng;

 

- Sau hai mươi bốn tháng liền kể từ ngày được giao, được thuê đất để phát triển rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động phát triển rừng theo kế hoạch, phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

 

- Chủ rừng sử dụng rừng không đúng mục đích, cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;

 

- Rừng được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;

 

- Chủ rừng là cá nhân khi chết không có người thừa kế theo quy định của pháp luật.

 

- Việc thu hồi rừng được thực hiện theo quy định tại Điều 22, khoản 1 Điều 28 và khoản 3 Điều 29 Luật Bảo vệ và phát triển rừng.

 

- Thẩm quyền thu hồi rừng: cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng đối với chủ rừng nào thì có quyền quyết định thu hồi rừng đối với chủ rừng đó. Trong trường hợp nhà nước thu hồi rừng đồng thời với việc thu hồi đất thì việc thu hồi đất, thu hồi rừng được thực hiện theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật về đất đai.

           

NHẮN TIN:

 

1. Chúng tôi nhận được đơn của Vi Văn Ánh, trú tại Thôn Làng Càng 1, xã Hòa Bình, huyện Chi Lăng: Hỏi về hưởng chế độ tai nạn lao động xảy ra từ năm 2012, đề nghi ông liên hệ trực tiếp tại đơn vị nơi ông ký hợp đồng lao động để được xem xét, giải quyết.

 

2. Đơn của Ông Hoàng Minh Lý, trú tại thôn Dốc Mới 1, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng và Đơn của Ông Hà Văn Kiên trú tại Thôn Bản Chang, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng: Nội dung đơn liên quan đến vấn đề tranh chấp đất đai và tài sản gắn liền với đất: Chúng tôi hướng dẫn theo Điều 202 và 203 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

 

- Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

 

- Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 01 tháng 11 năm 2016

 

Câu 1. Bà Nông Thị Tuyết, trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Theo Bản án ly hôn của Tòa án yêu cầu người chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên người chồng cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, pháp luật quy định vấn đề này như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 82 và Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”; “Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

 

Trường hợp người này cố tình trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, Bà “có quyền yêu cầu tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”, theo quy định tại khoản 1 Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

 

Xử lý về hình sự: Theo quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

 

 

Xử lý về hành chính: Trường hợp có bản án của tòa án mà người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện theo quyết định của bản án thì theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự thì hành vi này có thể bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

 

Câu 2. Bà Trần Thị Lan, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Vợ chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Điều 38

Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Trừ các trường hợp việc chia:

 

- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

 

- Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;       Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

Nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

 

Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

 

 

Câu 3: Bà Nguyễn Thị Loan trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong những trường hợp nào?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức, Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

- Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ;

- Viên chức bị buộc thôi việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 của Luật này ( khoản 1 Điều 57 quy định: Viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì bị buộc thôi việc, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật);

- Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục, viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 06 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Khi sức khỏe của viên chức bình phục thì được xem xét để ký kết tiếp hợp đồng làm việc;

- Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn;

- Khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

 

 

Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 29 quy định những trường hợp người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức:

- Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

- Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

- Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 25 tháng 10 năm 2016

 

Câu 1. Ông Trần Văn Cường, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Tôi là nguyên đơn trong vụ án dân sự, đề nghị cho tôi biết về nội quy phiên tòa, nếu vi phạm bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Nội quy phiên tòa được quy định tại Điều 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:

 

1.     

Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa


2. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

 

3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

 

4. Nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử phải được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, người tham gia tố tụng khác phải được sự đồng ý của họ.

 

5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.

 

6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa; không sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa.

 

7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng.

 

Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.

 

8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.

 

9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi, trả lời, phát biểu.

 

Xử lý hành vi vi phạm nội quy phiên tòa được quy định tại điều Điều 491 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:

 

1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa quy định tại Điều 234 của Bộ luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

 

2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.

 

3. Trường hợp người vi phạm nội quy phiên tòa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

 

4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.

 

Câu 2. Bà Nguyễn Thị Thu, trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm ý tế cho trẻ em dưới 6 tuổi được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

       

Theo Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 04/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án liên thông thực hiện các thủ tục hành chính: Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT, ngày 15/5/2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Y tế, quy định như sau:

         

Đối tượng áp dụng là trẻ em dưới 6 tuổi được cha, mẹ, ông, bà, người thân thích khác đi đăng ký khai sinh, và đồng ý thực hiện phương thức liên thông giải quyết các thủ tục hành chính liên quan sau đăng ký khai sinh bao gồm: đăng ký thường trú và cấp Thẻ Bảo hiểm y tế.

 

Theo quy định của Luật hộ tịch, UBND cấp xã nơi cư trú (bao gồm cả nơi thường trú và nơi tạm trú) của người cha hoặc người mẹ đều có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em, do đó, cơ quan tiếp, giải quyết thủ tục đăng ký thường trú và cấp thẻ Bảo hiểm y tế phải cùng thuộc địa bàn một huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cùng thuộc địa bàn một quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.

         

Các cơ quan thực hiện liên thông các thủ tục hành chính là các cơ quan trực tiếp thực hiện việc đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi, gồm:

         

- Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký khai sinh.

       

 - Cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú: Công an xã, thị trấn thuộc huyện của các tỉnh; Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh của các tỉnh; Công an quận, huyện, thị xã của các thành phố trực thuộc Trung ương;

         

- Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh của các tỉnh, Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã của các thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Bảo hiểm xã hội cấp huyện).

 

Các cơ quan có thẩm quyền thực hiện liên thông các thủ tục hành chính nêu trên phải bảo đảm nguyên tắc cùng thuộc địa bàn một huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cùng thuộc địa bàn một quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.

       

Ủy ban nhân dân cấp xã là đầu mối tiếp nhận hồ sơ ban đầu, trả kết quả cuối cùng; chịu trách nhiệm về tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ thực hiện liên thông các thủ tục hành chính; có trách nhiệm lập và chuyển hồ sơ tương ứng theo quy định cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.

     

 Cá nhân có yêu cầu giải quyết các thủ tục hành chính có quyền lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng thực hiện liên thông các thủ tục hành chính. Người đi đăng ký khai sinh có thể quyết định việc đăng ký liên thông cả 3 thủ tục: khai sinh – đăng ký thường trú – cấp Thẻ bảo hiểm y tế hoặc liên thông 2 thủ tục (khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế) hoặc đăng ký từng thủ tục riêng rẽ tại từng cơ quan có thẩm quyền và được niêm yết công khai tại cơ quan tiếp nhận yêu cầu.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 18 tháng 10 năm 2016


 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Hòa, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Đơn khởi kiện vụ án hành chính bị trả lại trong trường hợp nào? Đương sự có được khiếu nại về việc bị trả lại đơn khởi kiện không?

 

Trả lời:

Về việc trả lại đơn khởi kiện: Điều 123 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 quy định: Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:

 

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

 

Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ;

 

Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

 

Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

 

Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

 

Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật này;

Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này;

Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng.

Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.

Về việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện: Điều 124 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quy định:

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.

Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại. Trường hợp người khởi kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người khởi kiện có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây: Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp; Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây: Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện; Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng. Quyết định này phải được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.

 

Câu 2. Bà Hoàng Thị Kiều, trú tại xã Hòa Bình, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Hành vi thường xuyên lăng mạ, chửi mắng người khác bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Về xử phạt hành chính:

Căn cứ Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì hành vi thường xuyên lăng mạ, chửi mắng người khác bị có thể bị xử phạt hành chính, cụ thể:

 

"1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:  Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;"

Về xử lý về hình sự:

Căn cứ Điều 121 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội làm nhục người khác thì:

"1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:
a) Phạm tội nhiều lần;

 

b) Đối với nhiều người;

 

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

d) Đối với người thi hành công vụ;

 

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

 

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

 

NHẮN TIN:

1. Chúng tôi nhận được đơn của Ông Nguyễn Khắc Lượng đại diện cho các hộ dân của thôn Bản Chu, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định. Đơn đã được gửi đến đúng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

2. Đơn của Bà Nông Thị Kim, trú tại thôn Nà Phước, xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng: Hỏi về việc chia thừa kế. Nội dung đơn không rõ,  Bà có thể liên hệ tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn để được trợ giúp.

3. Đơn của Bà Hoàng Thị Lệ, trú tại thôn Nà Khàn, xã Tràng Các, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, chúng tôi chuyển đến Phòng Giáo dục huyện Văn Quan xem xét trả lời.

4. Đơn của Bà Hà Hồng Chuyên, trú tại thôn Nà Lốc, xã Khánh Khê, huyện Văn Quan, Nội dung đơn chúng tôi đã trả lời tại Chuyên mục ngày 13 tháng 9 năm 2016, Chúng tôi sẽ chuyển nội dung trả lời bằng văn bản cho bà tham khảo.

5. Đơn của Ông Nông Văn Nhi, trú tại thôn Bản Rượi, xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn phản ánh về tình trạng đất đá lở gây ách tắc giao thông. Chúng tôi chuyển đến UBND xã Hữu Lễ xem xét giải quyết.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 11 tháng 10 năm 2016

 

Câu 1. Bà Nông Thị Thủy, trú tại xã Vân Mộng, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự, tòa án sẽ tiến hành hòa giải giữa các bên tranh chấp. Pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?

 

Trả lời:

 

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:

 

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, như: Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự và Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.

 

Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

 

- Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;

 

- Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

 

Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:

 

- Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

 

- Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

 

- Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

 

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

 

- Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;

 

- Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

 

-        

Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.

 

Trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.

 

Câu 2. Ông Hoàng Văn Phan, trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Tôi có một căn nhà cấp 4, do không có nhu cầu sử dụng, tôi muốn cho người khác thuê với giá 3 triệu đồng một tháng, thời hạn thuê 3 năm, Hợp đồng chỉ có tôi và người thuê ký có được không và tôi có quyền, nghĩa vụ gì?

 

Trả lời:

 

Về hình thức hợp đồng thuê nhà:

 

 Điều 492 của Bộ luật Dân sự 2005 quy định Hợp đồng cho thuê nhà như sau: hình thức hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ 6 tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

Về quyền của người cho thuê nhà:

 

Thứ nhất, Nhận đủ tiền thuê nhà đúng kỳ hạn đã thoả thuận;

 

Thứ hai, Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà khi bên thuê có hành vi sau: Không trả tiền thuê nhà liên tiếp trong ba tháng trở lên mà không có lý do chính đáng; Sử dụng nhà không đúng mục đích thuê; Cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng; Sửa chữa, đổi hoặc cho người khác thuê lại toàn bộ hoặc một phần nhà đang thuê mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê; Làm mất trật tự công cộng nhiều lần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của những người xung quanh; Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường.

 

Thứ ba, Cải tạo, nâng cấp nhà cho thuê khi được bên thuê đồng ý, nhưng không được gây phiền hà cho bên thuê sử dụng chỗ ở;

 

Thứ tư, Được lấy lại nhà cho thuê khi thời hạn thuê đã hết; nếu hợp đồng không quy định thời hạn thuê thì bên cho thuê muốn lấy lại nhà phải báo cho bên thuê biết trước sáu tháng.

 

Nghĩa vụ của bên cho thuê nhà ở:

 

- Giao nhà cho bên thuê theo đúng hợp đồng;

 

- Bảo đảm cho bên thuê sử dụng ổn định nhà trong thời hạn thuê;

 

- Bảo dưỡng, sửa chữa nhà theo định kỳ hoặc theo thoả thuận; nếu bên cho thuê không bảo dưỡng, sửa chữa nhà mà gây thiệt hại cho bên thuê thì phải bồi thường.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 4 tháng 10 năm 2016

 

Câu 1. Ông Hoàng Hán Thành, trú tại xã Xuân Lễ, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Con trai tôi có giấy gọi đi khám sơ tuyển nghĩa vụ quân sự tại xã, do khách quan không đến khám và bị xử phạt 500 nghìn đồng, pháp luật quy định về việc này như thế nào?

   

Trả lời:

 

Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015, quy định: Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật này.

  

- Về độ tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự:  Công dân nam đủ 17 tuổi trở lên, công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân do Chính phủ quy định, đủ 18 tuổi trở lên phải đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định (trừ đối tượng không được đăng ký hoặc được miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự).

  

- Về độ tuổi gọi nhập ngũ: Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

  

- Về xử lý vi phạm: Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

 

- Xử lý về hành chính:

+ Theo quy định tại Nghị định 120/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu thì hành vi không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu đối với công dân nam đủ 17 tuổi trong năm thuộc diện phải đăng ký nghĩa vụ quân sự bị phạt cảnh cáo. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi không đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu, trừ trường hợp được áp dụng hình thức cảnh cáo.

 

+ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung sơ tuyển ghi trong giấy gọi sơ tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

 

+ Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

 

+ Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định.

 

- Xử lý về hình sự: Theo quy định tại Điều 259 Bộ luật Hình sự về tội Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự thì người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

Theo quy định trên, việc con ông bị Chủ tịch UBND xã xử phạt là đúng quy định của pháp luật.

  

Câu 2. Bà Hoàng Thị Tú, trú tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha, mẹ được pháp luật quy định như thế nào?

   

Trả lời:

 

Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn như sau:

  

- Thẩm quyền: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú thực hiện đăng ký khai sinh.

 

- Đối tượng: Trường hợp trẻ em không phải là trẻ bị bỏ rơi, mà được người thân thích (tự nhận là ông, bà, bác, cô, dì ...) chăm sóc nuôi dưỡng, nhưng không xác định được người mẹ, người cha chưa làm thủ tục nhận con.

   

- Hồ sơ, trình tự giải quyết:

 

+ Trường hợp trẻ em có Giấy chứng sinh, đồng thời qua kiểm tra, xác minh khẳng định thông tin về người mẹ là xác thực thì đăng ký khai sinh theo diện trẻ chưa xác định được cha, hồ sơ, trình tự giải quyết như thủ tục đăng ký khai sinh thông thường.

 

+ Trường hợp trẻ em có Giấy chứng sinh, nhưng qua kiểm tra, xác minh thông tin về người mẹ là không xác thực (không có người mẹ ghi trong Giấy chứng sinh hoặc có người ghi tên như người mẹ trong Giấy chứng sinh, nhưng thực tế không phải con của người này) thì thực hiện việc đăng ký khai sinh theo diện trẻ không xác định được cha, mẹ.

 

+ Trường hợp vào thời điểm đăng ký khai sinh, người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

 

+ Trường hợp chưa xác định được cha và mẹ thì hồ sơ đăng ký khai sinh và trình tự giải quyết tương tự thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi, trong hồ sơ phải có Biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ. Người có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh là người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ; trong Sổ đăng ký khai sinh ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 27 tháng 9 năm 2016 


Câu 1. Ông Nguyễn Văn Công, trú xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ đối với công an xã được quy định như thế nào?

Trả lời:

Pháp lệnh Công an xã ngày 21/11/2008 quy định: Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân, làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.

1. Công an xã có nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu như sau:

Nắm tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã, đề xuất với cấp ủy Đảng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch, biện pháp đó.

Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã và tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý, giáo dục các đối tượng phải chấp hành hình phạt quản chế, cải tạo không giam giữ, người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo cư trú trên địa bàn xã; quản lý người được đặc xá, người sau cai nghiện ma túy và người chấp hành xong hình phạt tù thuộc diện phải tiếp tục quản lý theo quy định của pháp luật.

Thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú, chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại khác; quản lý vật liệu nổ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường; quản lý về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trên địa bàn xã theo phân cấp và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an.

Tiếp nhận, phân loại, xử lý theo thẩm quyền các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; kiểm tra người, đồ vật, giấy tờ tùy thân, thu giữ vũ khí, hung khí của người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang; tổ chức cấp cứu nạn nhân, bảo vệ hiện trường và báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền; lập hồ sơ ban đầu, lấy lời khai người bị hại, người biết vụ việc, thu giữ, bảo quản vật chứng theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, thông tin thu thập được và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý vụ việc.

Tổ chức bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn xã; dẫn giải người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp.

Xử phạt vi phạm hành chính; lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người vi phạm pháp luật trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an.

Được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã phối hợp hoạt động, cung cấp thông tin và thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trong trường hợp cấp thiết, để cấp cứu người bị nạn, cứu hộ, cứu nạn, đuổi bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm, được huy động người, phương tiện của tổ chức, cá nhân và phải trả lại ngay phương tiện được huy động khi tình huống chấm dứt và báo cáo ngay với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

Được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và thực hiện một số biện pháp công tác công an theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an để bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.

2. Tiền lương, phụ cấp, chế độ, chính sách đối với Công an xã

Trưởng Công an xã được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của pháp luật. Phó trưởng Công an xã và Công an viên được hưởng phụ cấp hàng tháng.

Trưởng Công an xã có thời gian công tác liên tục từ đủ 60 tháng trở lên được hưởng phụ cấp thâm niên; có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì được hưởng trợ cấp một lần. Phó trưởng Công an xã và Công an viên có thời gian công tác liên tục từ đủ 15 năm trở lên nếu nghỉ việc vì lý do chính đáng thì được hưởng trợ cấp một lần.

Phó trưởng Công an xã và Công an viên khi được cử đi tập trung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chính trị, pháp luật, nghiệp vụ được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng mức tiền ăn cơ bản của chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân; khi đi công tác được hưởng chế độ công tác phí.

Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên khi làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu tại những nơi thuộc địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự được hưởng chế độ theo quy định.

Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên trong khi thi hành nhiệm vụ nếu bị thương hoặc hy sinh thì được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; Phó trưởng Công an xã, Công an viên trong thời gian công tác nếu ốm đau được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế và được xem xét hỗ trợ tiền khám, chữa bệnh từ nguồn ngân sách địa phương.

Câu 2. Bà Hoàng Thi Hường, trú tại xã Tràng Phái, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Điều luật nào quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở?

Trả lời:

Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án:

Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải.

 

Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án:

Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;

Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý;

Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận;

Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

 

Đối chiếu với quy định trên, Nếu Bà có yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành phải gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 20 tháng 9 năm 2016  

 

Câu 1. Ông Hoàng Đình Tân, trú xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo khi tham gia chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp được hỗ trợ như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp được hưởng học bổng chính sách, các khoản hỗ trợ mua đồ dùng cá nhân, hỗ trợ trong dịp tết Nguyên đán và hỗ trợ đi lại.

 

Quy định như sau:

 

1. Đối tượng được hưởng chính sách nội trú khi tham gia chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm:

 

Người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật;

 

Người tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú;

 

Người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc là người khuyết tật có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.

 

2. Mức học bổng chính sách:

 

100% mức tiền lương cơ sở/tháng đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật;

 

80% mức tiền lương cơ sở /tháng đối với học sinh, sinh viên tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú; học sinh, sinh viên người dân tộc Kinh là người khuyết tật có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.

 

60% mức tiền lương cơ sở /tháng đối với học sinh, sinh viên người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo.

 

3. Các khoản hỗ trợ khác

 

Hỗ trợ một lần số tiền 1.000.000 đồng/khóa đào tạo để mua đồ dùng cá nhân như: chăn cá nhân, áo ấm (nếu cần), màn cá nhân, chiếu cá nhân, áo đi mưa và quần áo bảo hộ lao động theo nghề đào tạo;

 

Hỗ trợ 150.000 đồng đối với học sinh, sinh viên ở lại trường trong dịp tết Nguyên đán;

 

Mỗi học sinh, sinh viên được hỗ trợ mỗi năm một lần tiền đi lại từ nơi học về gia đình và ngược lại:

 

+ Mức 300.000 đồng/năm đối với học sinh, sinh viên ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

 

+ Mức 200.000 đồng/năm đối với các đối tượng còn lại.

 

Ngoài ra các đối tượng này còn được miễn, giảm học phí; hỗ trợ chi phí học tập; lệ phí tuyển sinh; cấp sổ khám sức khoẻ, khám sức khoẻ hàng năm; cấp Thẻ bảo hiểm y tế; cấp học bổng khuyến khích học tập theo quy định hiện hành.

Câu 2. Bà Lê Thị Thảo, trú tại xã Hòa Bình, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn hỏi về chế độ trợ cấp đối với người khuyết tật, điều kiện để người khuyết tật được nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội?

 

Trả lời:

 

Chế độ trợ cấp đối với người khuyết tật: Theo quy định của Luật người khuyết tật năm 2010, Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:

 

Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và Người khuyết tật nặng.

 

Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. Người khuyết tật đặc biệt nặng khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận không còn khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên

 

Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc. Người khuyết tật nặng khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả năng tự phục vụ sinh hoạt nếu có người, phương tiện trợ giúp một phần hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%

 

Điều kiện để người khuyết tật được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội: Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội.

 

Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm: Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng; Mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày; Mua thẻ bảo hiểm y tế; Mua thuốc chữa bệnh thông thường; Mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng; Mai táng khi chết; Vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với người khuyết tật là nữ.

 

Thủ tục để được nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội cần các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật năm 2010./.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 13  tháng 9 năm 2016

 

Câu 1. Bà Vũ Kim Doanh, trú tại tổ 4, khối 9, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Tôi tham gia thanh niên xung phong từ tháng 9/1978 đến tháng 10/1980 và nhập ngũ từ tháng 12/1980 đến năm 1983 thì phục viên. Pháp luật quy định về chế độ chính sách đối với trường hợp này như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC ngày 05/01/2012 của Bộ Quốc phòng - Bộ Lao động Thương binh và Xã Hội - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, quy định về việc thực hiện chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thuộc địa bàn và thời gian quy định tại Điều 3 Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

 

Về đối tượng áp dụng:

 

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, bao gồm cả lực lượng công an nhân dân vũ trang, bộ đội Biên phòng qua các thời kỳ, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân, nhập ngũ, tuyển dụng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, có dưới 20 năm phục vụ trong quân đội, cơ yếu, hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ bệnh binh hàng tháng thuộc một trong các trường hợp: Đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;

 

- Thanh niên xung phong tập trung sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, đã về gia đình, hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hàng tháng.

 

Về địa bàn, thời gian xảy ra chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế: Ở biên giới phía Bắc từ tháng 02 năm 1979 đến ngày 31 tháng 12 năm 1988

 

Về cách tính thời gian hưởng chế độ

 

Thời gian tính hưởng chế độ theo quy định là thời gian công tác thực tế trong quân đội, cơ yếu bao gồm thời gian là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, cơ yếu cộng với thời gian trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế thuộc các nhóm đối tượng khác nhau; Trường hợp, đối tượng nêu trên có thời gian trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế thuộc các nhóm đối tượng khác nhau hoặc có gián đoạn thì được cộng dồn.

 

Chế độ trợ cấp một lần mức hưởng: Từ đủ 2 năm trở xuống mức trợ cấp một lần bằng 2.500.000 đồng; Trên 2 năm, thì từ năm thứ 3 trở đi cứ mỗi năm được cộng thêm 800.000 đồng.

 

Nếu thuộc trường hợp như trên và chưa được hưởng chế độ đối với thanh niên xung phong tập trung sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,  đề nghị bà liên hệ với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội huyện để được hướng dẫn cụ thể.

 

Câu 2. Ông Lành Tuấn Tú, trú tại thôn Chục Pình, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hỏi về chế độ phụ cấp độc hại đối với nhân viên thư viện trường học được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 9 của Quy định về tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 01/2003/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: “Mỗi trường đều phải bố trí cán bộ, giáo viên làm công tác thư viện. Nếu là giáo viên kiêm nhiệm làm công tác thư viện thì phải được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về thư viện trường học, được hưởng lương và các tiêu chuẩn khác như giáo viên đứng lớp. Cán bộ thư viện trường học không phải là giáo viên, nhưng được đào tạo nghiệp vụ thư viện thì được hưởng lương và các chế độ phụ cấp như ngành văn hóa - thông tin quy định”.

 

Căn cứ Thông tư số 26/2006/TT-BVHTT ngày 02/2/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Văn hóa - Thông tin quy định: Mức 2: Hệ số 0,20 so với lương tối thiểu áp dụng đối với những người trực tiếp làm các nghề, công việc sau:

 

- Kiểm kê, bảo quản, xử lý kỹ thuật các hiện vật, tài liệu, sách báo, phim ảnh trong kho lưu trữ của bảo tàng, thư viện và viện lưu trữ;

 

- Tu sửa, phục chế tài liệu, hiện vật của thư viện, viện lưu trữ và bảo tàng;

 

Nguồn kinh phí, cách tính và chi trả chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa - thông tin được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 07/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức.

 

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, nếu công dân đang làm công tác trực tiếp tại thư viện của trường phổ thông, không phải là giáo viên đứng lớp, đã được đào tạo nghiệp vụ thư viện thì được hưởng lương và các chế độ phụ cấp độc hại  như ngành Văn hóa - Thông tin quy định tại Thông tư số 26/2006/TT-BVHTT ngày 02/02/2006. Nếu công dân đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định trên nhưng chưa được hưởng chế độ phụ cấp của người làm công tác thư viện thì đề nghị đến cơ quan quản lý (Phòng Giáo dục & Đào tạo, UBND huyện) để được xem xét, giải quyết.

 

Nhắn tin: Trong tuần qua, chúng tôi nhận được đơn tố cáo của bà Vy Thị Thanh Mai, trú tại số 41, khối 10, Chu Văn An, Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn . Đề nghị bà trực tiếp liên hệ với Công an thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 6  tháng 9 năm 2016

1. Ông Chu Văn Hà, trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Tôi và người bạn cùng góp tiền mua một mảnh đất để phát triển sản xuất kinh doanh, chúng tôi muốn đứng tên 2 người trong sổ đỏ có được không?

 

Trả lời:

 

Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, quy định như sau:

Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà những người được hưởng thừa kế có văn bản thỏa thuận chưa phân chia thừa kế và đề nghị cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích đất, tài sản gắn liền với đất để thừa kế thì cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đó, thì Giấy chứng nhận được cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sau khi đã xác định được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của từng người.

 

Trên mỗi Giấy chứng nhận ghi thông tin đầy đủ về người được cấp Giấy chứng nhận theo quy định; tiếp theo ghi "Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng sở hữu tài sản) với... (ghi lần lượt tên của những người còn lại có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)".

 

Trường hợp thửa đất có nhiều tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất mà có thỏa thuận bằng văn bản cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện (có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật) thì Giấy chứng nhận được cấp cho người đại diện đó. Trên Giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định, dòng tiếp theo ghi "Là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất (hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cùng sử dụng đất và cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất)gồm:... (ghi lần lượt tên của những người cùng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất)".

Trường hợp có nhiều người cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất ghi trên trang 1 không hết thì dòng cuối trang 1 ghi "và những người khác có tên tại điểm Ghi chú của Giấy chứng nhận này"; đồng thời tại điểm Ghi chú của Giấy chứng nhận được ghi: "Những người khác cùng sử dụng đất (hoặc cùng sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất) gồm:... (ghi lần lượt tên của những người cùng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất còn lại)".

Như vậy, Ông và người cùng góp vốn sẽ được cấp mỗi người một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

 

2. Bà Hoàng Thị Thêm, trú tại xã Xuân Tình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Pháp luật hiện nay quy định như thế nào về việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân?

 

Trả lời:

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thực hiện theo quy định của Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch. Theo quy định, UBND cấp xã nơi thường trú của công dân Việt Nam là cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì UBND cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Quy định này cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu.

Để đảm bảo việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đúng quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, quy định:

1. UBND cấp xã chỉ được cấp 01 bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho mỗi lẫn yêu cầu với mục đích cụ thể.

2. Đối với người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau, cá nhân có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người dân không tự chứng minh được, thì UBND cấp xã nơi tiếp nhận hồ sơ phải tiến hành xác minh. Nếu việc xác minh không có kết quả, thì cho phép người yêu cầu làm giấy cam đoan và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam đoan của mình.

 

3. Khi cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ:

 

- Nếu chưa bao giờ kết hôn thì ghi “Chưa đăng ký kết hôn với ai”.

 

- Nếu đang có vợ/chồng thì ghi “Hiện tại đang có vợ/chồng là bà/ông... (Giấy chứng nhận kết hôn số..., do... cấp ngày... tháng... năm...)”.

 

- Nếu có đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn và chưa kết hôn mới thì ghi “Có đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo Bản án/Quyết định ly hôn số... ngày... tháng... năm... của Tòa án nhân dân...; hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai”.

 

- Nếu có đăng ký kết hôn, nhưng vợ/chồng đã chết và chưa kết hôn mới thì ghi “Có đăng ký kết hôn, nhưng vợ/chồng đã chết (Giấy chứng tử/Trích lục khai tử/Bản án số:...do... cấp ngày...tháng.. năm...); hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai”.

 

- Nếu là trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và vẫn chung sống với nhau mà chưa đăng ký kết hôn thì ghi “Hiện tại đang có vợ/chồng là bà/ông...”.

 

4. Giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là 6 tháng, nếu cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cùng mục đích sử dụng, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đây. Nếu không thể nộp lại được, thì UBND cấp xã tiến hành xác minh, làm rõ để giải quyết có cấp lại hay từ chối.

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 30  tháng 8 năm 2016

 

1. Ông Hứa Văn Liên, trú tại xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Trong lúc lâm bệnh nặng, bà ngoại tôi có lập di chúc cho người cháu gái được thừa kế nhà và đất. Nay bà ngoại đã khỏe mạnh, bà tôi có thể hủy bỏ di chúc đã lập được không?

 

Trả lời:

 

Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

 

Một di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

 

Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

 

Về người lập di chúc được quy định tại Điều 647: Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

 

Về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc, Điều 662 quy định :

 

Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào.

 

Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

 

Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ.

 

Đối chiếu với các quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bà ngoại của ông có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc.

 

2. Bà Nông Thị Sơn, trú tại xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Năm 2000, tôi được cha mẹ chia cho một thửa đất vườn đồi, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên tôi. Nay bố mẹ đêu đã mất, các em các em tôi tranh chấp đòi tôi phải chia phần thửa đất trên. Phát luật quy định vấn đề này thế nào? Nếu bị kiện ra tòa án, tôi có quyền gì?

 

Trả lời:

 

- Về hòa giải tranh chấp đất đai: Tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định:

 

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

 

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

 

3. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

 

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp.

 

- Về thẩm quyền giải quyết: Tại khoản 1 Điều 203 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

 

Đất đai đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi có tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

 

- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quy định: Nếu bị khởi kiện ra tòa, với tư cách là bị đơn, bà có quyền, nghĩa vụ như sau:

 

1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.

 

2. Được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện.

 

3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

 

4. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.

 

5. Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.

 

6. Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 23  tháng 8 năm 2016 

 


1. Ông Nguyễn Văn Hùng, trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Pháp luật dân sự mới quy định thế nào về ranh giới giữa các bất động sản và Trách nhiệm bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại?

 

Trả lời:

 

Về ranh giới giữa các bất động sản (Điều 175 – BLDS năm 2015):

 

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

 

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

 

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

 

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

 

Về nghĩa vụ bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại (Điều 177 – BLDS năm 2015)

 

1. Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.

 

2. Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.

 

Khi xây dựng công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại và các công trình khác mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản đó phải xây cách mốc giới một khoảng cách và ở vị trí hợp lý, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn và không làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu bất động sản khác.

 

3. Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.

 

Vấn đề này hiện nay vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, Ngày Bộ Luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực.

 

2. Bà Hoàng Thị Đèm, trú tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hỏi một số nội dung sau:

 

- Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học?

 

- Huân chương kháng chiến bị mất có được cấp lại không?

 

- Việc xác nhận thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ?

 

Trả lời

 

1. Hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học:

 

Tại Điều 39 Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ quy định điều kiện để hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học:

 

- Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ ngày 1/8/1961 đến ngày 30/4/1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K (kể cả 10 xã thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị).

 

- Do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp bệnh tật sau: Mắc bệnh theo danh mục bệnh tật do Bộ Y tế quy định làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; Vô sinh; Sinh con dị dạng, dị tật theo danh mục dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định.

 

Ngày 18/11/2013 Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH hướng dẫn khám giám định bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ: hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ, ban hành danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm CĐHH/DIOXIN làm suy giảm khả năng lao động.

 

Về Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ: Thực hiện theo Điều 27 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân thì Hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

 

2. Về việc cấp lại huân chương kháng chiến bị mất

 

Thực hiện theo quy định tại Điều 42 Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ quy định mẫu huân chương, huy chương, huy hiệu, kỷ niệm chương; mẫu bằng, khung, hộp, cờ của các hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua; quản lý, cấp phát, cấp đổi, cấp lại, thu hồi hiện vật khen thưởng.

 

Đồng thời theo hướng dẫn của Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương về việc cấp đổi hiện vật khen thưởng về các hiện vật được cấp đổi nếu bị hư hỏng hoặc mất, gồm: Bằng Huân chương kháng chiến, Bằng Huy chương kháng chiến, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích kháng chiến, Bằng có công với nước. Bằng Huân chương, Bằng Huy chương, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Bằng giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh.

 

Về thủ tục cấp đổi: Công dân có thể liên trực tiếp tại bộ phận Thi đua khen thưởng (Phòng Nội vụ huyện) để được hướng dẫn chi tiết.  

 

3. Xác nhận thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ:

 

Theo Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Điều 6 của Thông tư liên tịch số 28/2013/TT-BLĐTBXH-BQP ngày 22/10/2013 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Quốc phòng, hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ:

 

* Căn cứ chứng minh quá trình tham gia cách mạng

 

a) Người thoát ly tham gia cách mạng hoặc hoạt động không thoát ly nhưng sau đó thoát ly tham gia công tác tại các cơ quan nhà nước phải có một trong các giấy tờ sau: lý lịch cán bộ; lý lịch đảng viên; lý lịch quân nhân; lý lịch công an nhân dân; quyết định phục viên, xuất ngũ, thôi việc; hồ sơ bảo hiểm xã hội hoặc các giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước.

 

Trường hợp không còn một trong các giấy tờ nêu trên nhưng đã được hưởng trợ cấp theo các Quyết định sau đây của Thủ tướng Chính phủ:

 

- Quyết định số 47/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 về chế độ đối với quân nhân, công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống pháp đã phục viên (giải ngũ, thôi việc) từ 31/12/1960 trở về trước;

 

- Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 về chế độ, chính sách đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước;

 

- Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương;

 

- Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc;

 

- Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.

 

Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến.

 

b) Đối với người hoạt động không thoát ly và sau đó không tiếp tục tham gia công tác tại các cơ quan nhà nước thì phải có bản khai chi tiết quá trình tham gia cách mạng, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

 

* Căn cứ chứng minh bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu:

 

a) Giấy tờ có ghi sức ép hoặc chấn thương; danh sách quân nhân bị thương (hoặc người bị thương) của cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng khi bị thương có ghi tên cá nhân bị thương;

 

b) Giấy tờ, tài liệu của cơ quan, đơn vị lập từ ngày 31/12/1994 trở về trước có ghi nhận cá nhân bị thương khi tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu. Trường hợp giấy tờ, tài liệu không ghi các vết thương cụ thể thì căn cứ vào kết quả kiểm tra vết thương thực thể của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền;

 

c) Người bị thương thuộc lực lượng quân đội, công an có vết thương thực thể nhưng không còn danh sách quân nhân bị thương do cơ quan, đơn vị quản lý quân nhân khi bị thương đã giải thể hoặc không lưu giữ được.

 

Trường hợp không có vết thương thực thể nhưng còn dị vật kim khí trong cơ thể thì phải có kết quả chiếu, chụp và kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên hoặc bệnh viện quân đội, công an khẳng định còn dị vật kim khí trong cơ thể.

 

Đối chiếu với các tiêu chuẩn nêu trên, nếu đủ điều kiện xem xét theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 28/2013/TT-BLĐTBXH-BQP, đề nghị liên hệ trực tiếp cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương hoặc cơ quan quân sự nơi cư trú để được hướng dẫn cụ thể theo thẩm quyền.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16  tháng 8 năm 2016


Câu 1. Bà Liễu Thị Thọ, trú tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Quy định của Nhà nước về đăng ký khai sinh, Trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi và Trẻ em sinh ra tại khu vực biên giới được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Đăng ký khai sinh là việc Nhà nước ghi nhận sự ra đời, tồn tại của trẻ em, ghi nhận các thông tin hộ tịch cơ bản nhất của con người bao gồm: họ, tên, ngày tháng năm sinh, dân tộc, quốc tịch, họ tên cha, mẹ …. Đăng ký khai sinh và cấp Giấy khai sinh là cơ sở pháp lý để xác định tư cách công dân, thiết lập mối quan hệ chính thức giữa công dân với Nhà nước, là cơ sở để xác lập các quyền nhân thân khác của cá nhân. Việc đăng ký khai sinh có thể nói là sự kiện hộ tịch quan trọng “hàng đầu” của mỗi cá nhân.

Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, có ý nghĩa quan trọng, bởi Giấy khai sinh là căn cứ để thực hiện các quyền lợi khác của công dân như: đăng ký hộ khẩu, làm thẻ bảo hiểm y tế, đi học, làm Chứng minh nhân dân. Trẻ em không được đăng kí khai sinh thì khó tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu như: chăm sóc y tế, giáo dục. Tất cả các giấy tờ khác của cá nhân đều phải bảo đảm thông tin đúng với Giấy khai sinh.

* Quyền được đăng ký khai sinh: Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Cá nhân sinh ra có quyền được khai sinh”.

Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”. Quyền khai sinh của trẻ em là tiền đề để trẻ em được hưởng các quyền khác của trẻ em, như: quyền được chăm sóc, quyền được học tập, quyền có tài sản,…

Điều 6 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch”.

* Về trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi:

          + Thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi.

          + Trình tự, thủ tục:

Bước 1: Lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi.

Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng nếu có ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.

Bước 2: Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 07 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi .

Bước 3: Đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi

- Người có trách nhiệm đăng ký khai sinh là cá nhân hoặc đại diện tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

- Hồ sơ đăng ký khai sinh tương tự như hồ sơ đăng ký khai sinh thông thường; Biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi có giá trị thay thế Giấy chứng sinh trong trường hợp trẻ không có Giấy chứng sinh.

- Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. 

* Về trường hợp đăng ký khai sinh tại khu vực biên giới:

- Đối tượng: Trẻ sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã ở khu vực biên giới, người kia là công dân nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú.

- Thẩm quyền: Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới nơi cha hoặc mẹ trẻ em là công dân Việt Nam thường trú.

- Thành phần hồ sơ:

+ Giấy tờ phải xuất trình:

(1) Hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân của người có yêu cầu đăng ký khai sinh.

(2) Giấy tờ chứng minh nơi cư trú của người cha/mẹ là công dân Việt Nam để chứng minh thẩm quyền đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng ký kết hôn thì phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

(3) Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực các giấy tờ phải xuất trình nêu trên.

+ Giấy tờ phải nộp:

(1) Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu

(2) Bản chính Giấy chứng sinh; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ.

(3) Văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc lựa chọn quốc tịch cho con. Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước mà cha mẹ lựa chọn quốc tịch cho con.

(4) Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, giấy tờ chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của người mẹ/cha là công dân nước láng giềng.

(5) Văn bản ủy quyền đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật trong trường hợp ủy quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh.

 

Câu 2. Ông Hoàng Thế Bắc, trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Hiện nay có nhiều trường hợp chưa xác định được cha, mẹ, con? Pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

          Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hộ tịch và văn bản quy định chi tiết thi hành thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định cha, mẹ, con như sau :

- Trường hợp có tranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con (tranh chấp trong thực tế về quan hệ cha, mẹ, con hoặc tranh chấp về nguyên tắc pháp luật) ; trường hợp yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con nhưng một trong hai bên đã chết thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng.

- Trường hợp không có tranh chấp (việc nhận cha, mẹ, con do cả hai bên tự nguyện) thì tùy loại việc có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền giải quyết thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã theo trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch.

* Điều 90, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền nhận cha, mẹ, con như sau:

- Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

- Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.

- Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

- Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

* Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những người sau đây có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con:

- Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân.

- Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng;

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng:

+ Cha, mẹ, con, người giám hộ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.

* Về thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Cả hai bên trong quan hệ nhận cha, mẹ, con (người nhận và người được nhận) đều là công dân Việt Nam, cư trú ở trong nước.

* Về thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con:

- Giấy tờ phải nộp:

(1) Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

(2) Giấy tờ, đồ vật hoặc chứng cứ khác chứng minh quan hệ cha, con hoặc quan hệ mẹ, con, gồm:

+ Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

+ Trường hợp không có văn bản nêu trên nhưng có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng thì cũng được coi là cơ sở để giải quyết.

- Giấy tờ phải xuất trình:

(1) Giấy tờ tùy thân của người đi đăng ký nhận cha, mẹ, con là một trong các loại giấy tờ như: hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng chứng minh về nhân thân.

(2) Giấy tờ chứng minh nơi cư trú để xác định thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Giấy tờ này chỉ xuất trình trong giai đoạn Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc chưa được xây dựng xong và thực hiện thống nhất trên toàn quốc.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 9  tháng 8 năm 2016

 

Câu 1. Ông Phan Ngọc Xuân, trú tại khối 4, phường Đông Kinh , thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật những người tố cáo sai sự thật sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác. Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: "Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân".

 

Khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

 

Tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều 30 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”; Khoản 10 Điều 8 Luật Tố cáo 2011 quy định nghiêm cấm hành vi “Cố ý tố cáo sai sự thật; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; mạo danh người khác để tố cáo”.

 

Đồng thời Điều 48 Luật Tố cáo cũng quy định: “Người tố cáo và những người khác có liên quan có hành vi quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 Điều 8 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật".

 

Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

 

Nếu Đảng viên vi phạm các quy định về khiếu nại, tố cáo thì còn phải chịu xử lý kỷ luật của Đảng. Tại Điều 14 Quyết định số 181-QĐ/TW ngày 30/3/2013 của Ban Chấp hành Trung ương quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định:

 

"1. Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

 

a) Viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Cùng người khác tham gia viết, ký tên trong cùng một đơn tố cáo.

 

2. Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

 

g) Tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, đả kích có dụng ý xấu, bôi nhọ thanh danh, gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của người khác".

 

Hiện nay, tuy chưa có một văn bản riêng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo nhưng đã có nhiều Nghị định quy định xử phạt hành chính liên quan đến khiếu nại, tố cáo như: Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định sô 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình...

 

Câu 2. Bà Nguyễn Thị Hùng, trú tại ngõ 2, khối 1, đường Tam Thanh, phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Luật nhà ở năm 2014, Luật kinh doanh bất động sản 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hiện nay có hiệu lực thi hành không?

 

Trả lời:

 

1. Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015. Hiện nay vẫn còn hiệu lực thi hành.

 

2. Luật kinh doanh Bất động sản số 66/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015. Hiện nay vẫn còn hiệu lực thi hành.

 

3. Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13: Theo Khoản 2,3,4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa XIII về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13, và bổ sung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016; cụ thể:

 

"2. Lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 từ ngày 1 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều này.

 

3. Tiếp tục áp dụng Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12); Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11; Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12); Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 98/2002/NĐ-CP và Nghị định số 09/2011/NĐ-CP của Chính phủ) cho đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành.

 

4. Kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2016:

 

a) Thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự; tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết số 109/2015/QH13;

 

b) Áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Nghị quyết số 109/2015/QH13 tại điểm a khoản này;

 

c) Các quy định khác tại Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự và tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự có ghi thời điểm “ngày 01 tháng 7 năm 2016” được lùi đến thời điểm “ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành”.

 

Nhắn tin:

 

1. Chúng tôi đã nhận được đơn của ông Đồng Văn Thảo, trú tại thôn Hoan Thượng, xã Chiến Thắng, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất gắn liến với tài sản trên đất. Qua nghiên cứu nội dung đơn, chúng tôi đề nghị ông gửi đơn đến  UBND xã Chiến thắng để tiến hành hòa giải; nếu không hòa giải được thì ông có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện để giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

2. Đơn của bà Chu Thị Nhình, trú tại thôn Bắc Đông II, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp quyền sử dụng đất; Qua nội dung đơn thư phản ánh đề nghị bà liên hệ với UBND xã Gia Cát tiến hành hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai, nếu không hòa giải được thì bà có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện để giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

3. Đơn của bà Hoàng Thị Liên trú tại thôn Nà Rạ, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn về việc tố cáo. Đề nghị bà trực tiếp liên hệ với Công an huyện Bình Gia để xem xét, giải quyết.

 

4. Đơn của ông Lê Kim Ngọc, trú tại đường Văn Miếu, khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng; Qua nội dung đơn thư phản ánh chúng tôi đề nghị ông như sau:

 

- Về việc đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề nghị ông gửi đơn đến UBND TP Lạng Sơn để được xem xét, giải quyết.

 

- Về việc xin hoãn phiên toàn: đề nghị ông liên hệ trực tiếp với thẩm phán đang giải quyết vụ việc để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

- Việc chia tài sản khi ly hôn ông được bao nhiêu % thuộc thẩm quyền xem xét giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.

 

5. Đơn của bà Hoàng Thị Xường, trú tại thôn Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn khiếu nại về việc xét duyệt hộ nghèo, đề nghị bà gửi đơn đến UBND xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình để được xem xét, giải quyết.

 

6. Đơn của ông Hoàng Trọng Hùng, trú tại Thôn Cốc Rặc, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi về chế độ thờ cúng liệt sỹ. Nội dung này chúng tôi đã trả lời tại Chuyên mục "Trả lời bạn nghe đài" và "Trả lời bạn xem truyền hình" ngày 02/8/2016, Chúng tôi sẽ chuyển nội dung trả lời bằng văn bản cho ông tham khảo.

 
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 2  tháng 8 năm 2016

 

Câu 1.  Bà Hoàng Thị Thủy trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Mẹ tôi là người đang thờ cúng bác tôi là liệt sĩ; Mẹ tôi vừa mất, cho tôi hỏi gia đình tôi có tiếp tục được hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ nữa không; thủ tục, hồ sơ như thế nào?

 

Trả lời:

 

Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định cụ thể chế độ trợ cấp tiền tuất hằng tháng đối với thân nhân liệt sĩ và trợ cấp thờ cúng liệt sĩ.

 

Tại Khoản 3,4 Điều 4 Nghị định quy định:

 

"3. Người thờ cúng là người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.

 

4. Người thờ cúng liệt sĩ là người con hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ; trường hợp không có hoặc không còn con thì là người được ủy quyền theo quy định của pháp luật."

 

Theo quy định tại Điều 21 Nghị định, liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp thờ cúng mỗi năm một lần, mức trợ cấp 500.000 đồng.

 

Về hồ sơ, thủ tục:

 

Theo quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 Hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân (đã được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư liên tịch số 45/2014/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 25/11/2014), cụ thể:

 

Hồ sơ hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ (quy định tại Điều 10 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH):

 

Liệt sĩ không còn thân nhân hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người thờ cúng lập hồ sơ như sau:

 

1. Đơn đề nghị (theo mẫu).

 

2. Biên bản ủy quyền (theo mẫu).

 

3. Hồ sơ liệt sĩ.

 

4. Quyết định trợ cấp thờ cúng liệt sĩ.

 

Thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp thờ cúng liệt sĩ (quy định tại Điều 11 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH):

 

1. Người thờ cúng liệt sĩ có trách nhiệm lập và gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú:

 

a) Đơn đề nghị hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã;

 

b) Biên bản ủy quyền.

 

2. Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời gian 05 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra, lập danh sách kèm giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm tổng hợp, lập danh sách kèm giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ gốc của liệt sĩ đang quản lý, ra quyết định trợ cấp thờ cúng.

 

Trường hợp hồ sơ gốc của liệt sĩ do địa phương khác quản lý thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có văn bản đề nghị di chuyển hồ sơ gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi quản lý hồ sơ gốc của liệt sĩ.

 

5. Trường hợp người thờ cúng liệt sĩ chết hoặc không tiếp tục thờ cúng liệt sĩ thì cá nhân khác được gia đình, họ tộc của liệt sĩ ủy quyền thờ cúng liệt sĩ thực hiện thủ tục theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

 

Như vậy, Mẹ của bà là người thờ cúng liệt sĩ đã mất, thì gia đình bà cử một người đại diện được gia đình hoặc họ tộc liệt sĩ thống nhất uỷ quyền bằng biên bản sẽ là người thờ cúng liệt sĩ hợp pháp và được hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ.

 

Câu 2. Chị Lê Thị Hương trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là người Việt Nam lấy chồng là người nước ngoài, vợ chồng tôi muốn mua một căn nhà riêng lẻ để sinh sống. Tôi và chồng tôi có cùng được đứng tên chủ sở hữu căn nhà riêng lẻ này được hay không?

 

Trả lời:

 

Thứ nhất, Về việc sở hữu nhà ở riêng lẻ của người nước ngoài có vợ là người Việt Nam:

 

Điều 75 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở quy định như sau:

 

Khu vực tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở

 

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở (bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

 

2. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm xác định cụ thể các khu vực cần bảo đảm an ninh, quốc phòng tại từng địa phương và có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm căn cứ chỉ đạo Sở Xây dựng xác định cụ thể danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại trên địa bàn không cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở.

 

Như vậy, người nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở (bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ) trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

 

Thứ hai, về việc vợ chồng cùng đứng tên vào Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất:

 

Vì chồng là người nước ngoài kết hôn với vợ là người Việt Nam, theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung, nên để mua nhà ở tại Việt Nam thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện của người Việt Nam mua nhà ở tại Việt Nam thì cần phải đáp ứng thêm điều kiện của người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Viêt Nam. Tuy nhiên, người chồng là người nước ngoài không đáp ứng được điều kiện sở hữu nhà ở riêng lẻ (trừ trường hợp nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại), nên cũng sẽ không được đứng tên vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26  tháng 7 năm 2016

 
 

Câu 1. Bà Lộc Thị Tầu, trú tại thôn Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình hỏi: Pháp luật quy định những trường hợp nào được hưởng chế độ, chính sách đối với dân công hỏa tuyến?

Trả lời:

Ngày 14/10/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg về một số chế độ, chính sách đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

Tại Điều 2 Quyết định này quy định về Đối tượng và điều kiện áp dụng, cụ thể như sau:

1. Đối tượng

Dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

2. Điều kiện

Người được Ủy ban hành chính hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên hoặc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền huy động, quản lý tập trung, được giao làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu cho các đơn vị Quân đội hoặc phục vụ các chiến trường, trong thời gian và địa bàn như sau:

a) Dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp từ tháng 9 năm 1945 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954; tham gia kháng chiến chống Mỹ từ sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi cả nước và ở Lào, Campuchia.

b) Dân công hỏa tuyến tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 07 tháng 01 năm 1979, ở biên giới phía Bắc từ tháng 02 năm 1979 đến tháng 12 năm 1988, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào từ tháng 5 năm 1975 đến ngày 31 tháng 12 năm 1988, ở Campuchia từ tháng 01 năm 1979 đến ngày 31 tháng 8 năm 1989. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là các huyện biên giới, các huyện tiếp giáp với huyện biên giới có yêu cầu phục vụ, bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu.

c) Đối với một số địa bàn đặc biệt, thời gian tham gia của dân công hỏa tuyến có thể được tính sớm hơn hoặc muộn hơn so với thời gian nêu trên do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Nếu các đối tượng trên thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được áp dụng chính sách này:

Thứ nhất, hiện đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ bệnh binh, chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học hằng tháng hoặc đang công tác trong cơ quan Nhà nước, làm việc trong doanh nghiệp Nhà nước hưởng lương từ ngân sách Nhà nước có tham gia BHXH bắt buộc.

Thứ hai, đã từ trần nhưng không còn vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.

Thứ ba, đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân; hoặc người bị kết án về một trong những tội về xâm phạm đến an ninh quốc gia.

Thứ tư, xuất cảnh trái phép, đang định cư ở nước ngoài bất hợp pháp hoặc bị tòa án tuyên bố là mất tích; hoặc thoái thác nhiệm vụ, đầu hàng, phản bội, chiêu hồi.

Các đối tượng đáp ứng đủ các điều kiện thì được hưởng chế độ trợ cấp một lần; chế độ bảo hiểm y tế và chế độ trợ cấp mai táng phí.

Trợ cấp một lần từ 2.000.000 đồng – 3.500.000 đồng.

Theo quy định, mức trợ cấp một lần được ấn định theo các mốc thời gian thực tế trực tiếp tham gia dân công hỏa tuyến (trường hợp có thời gian tham gia dân công hoả tuyến ở các đợt khác nhau hoặc có gián đoạn thì được cộng dồn). Cụ thể: Dưới 1 năm, mức trợ cấp bằng 2.000.000 đồng; đủ 1 năm đến dưới 2 năm, mức trợ cấp bằng 2.700.000 đồng; từ đủ 2 năm trở lên, mức trợ cấp bằng 3.500.000 đồng.

Người đã từ trần, một trong những thân nhân sau đây của người từ trần được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo mức thống nhất tương ứng nêu trên: Vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp.

Quyết định quy định, người chưa được hưởng chế độ Bảo hiểm y tế thì được hưởng chế độ Bảo hiểm Y tế tương tự như đối tượng quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm Y tế (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Khi từ trần, người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng phí theo mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Người tham gia dân công hỏa tuyến được cấp "Giấy chứng nhận" tham gia dân công hỏa tuyến.

Câu 2: Ông Hoàng Thái Dương trú tại xã Hoàng Đồng, thanh phố Lạng Sơn hỏi: Bố tôi có 01 lô đất ở rộng hơn 100m2, hiện đất này đang nằm trong khu vực quy hoạch đã hơn 6 năm nay nhưng dự án vẫn chưa được triển khai thực hiện. Cho đến hiện nay chúng tôi vẫn chưa nhận được thông báo sẽ thu hồi đất, chưa có quyết định gì về việc thu hồi đất nhưng khi bố tôi đi làm thủ tục để tặng cho quyền sử dụng đất cho tôi thì cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất không chấp nhận với lý do đất đã quy hoạch, xin hỏi như vậy có đúng quy định của pháp luật không?

Trả lời:

Tại khoản 2,3 Điều 49 Luật Đất đai 2013  đã có những quy định cụ thể về vấn đề này như sau:

"2. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.

3. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.

Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền theo quy định tại khoản 2 Điều này".

Như vậy, trong trường hợp này, thửa đất thuộc quyền sử dụng của bố ông mặc dù đã nằm trong quy hoạch sử dụng đất, nhưng đã 6 năm mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, chưa có Thông báo thu hồi đất, Quyết định thu hồi đất nên căn cứ những quy định pháp luật đã viện dẫn ở trên, bố ông vẫn có quyền thực hiện các quyền của người sử dụng đất trong đó có quyền được tặng cho quyền sử dụng đất khi đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật.

 

 

 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19  tháng 7 năm 2016

 

Câu 1. Bà Hoàng Thị Hồng trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với người tham gia bán hàng đa cấp có hành vi vi phạm được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Khoản 37 Điều 1 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định việc xử phạt hành vi vi phạm về hoạt động bán hàng đa cấp, cụ thể các hành vi vi phạm của người tham gia bán hàng đa cấp sẽ bị xử phạt như sau:

 

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Thực hiện hoạt động bán hàng đa cấp khi chưa được cấp thẻ thành viên theo quy định;

 

b) Không xuất trình thẻ thành viên khi giới thiệu hàng hóa hoặc tiếp thị bán hàng;

 

c) Không cung cấp đầy đủ những thông tin về doanh nghiệp và hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp của doanh nghiệp theo quy định khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

 

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không tuân thủ quy định trong quy tắc hoạt động, chương trình trả thưởng của doanh nghiệp trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;

 

b) Cung cấp thông tin không trung thực hoặc không chính xác về hàng hóa được chào bán.

 

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có hành vi yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.

 

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có hành vi cung cấp thông tin sai lệnh hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp hoặc tính chất, công dụng của hàng hóa hoặc hoạt động của thương nhân bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

 

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tổ chức hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm hoặc đào tạo mà không được thương nhân bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

 

b) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của thương nhân khác tham gia vào mạng lưới của thương nhân bán hàng đa cấp mà mình đang tham gia;

 

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.

 

Ngoài ra Nghị định cũng quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi nêu trên trong trường hợp hành vi vi phạm được thực hiện trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Mạnh Thức trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Tôi cho thuê nhà, nhưng trong hợp đồng lại không xác định thời gian cho thuê là bao lâu, Nay tôi muốn lấy lại nhà có được không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 492 Bộ luật Dân sự 2005: Hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ sáu tháng trở lên thì phải có công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 

 

Điều 494 Bộ luật Dân sự 2005 quy định Quyền của bên cho thuê nhà ở, Bên cho thuê nhà ở có các quyền sau đây:

 

1. Nhận đủ tiền thuê nhà đúng kỳ hạn đã thoả thuận;

 

2. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 498 của Bộ luật này;

 

3. Cải tạo, nâng cấp nhà cho thuê khi được bên thuê đồng ý, nhưng không được gây phiền hà cho bên thuê sử dụng chỗ ở;

 

4. Được lấy lại nhà cho thuê khi thời hạn thuê đã hết; nếu hợp đồng không quy định thời hạn thuê thì bên cho thuê muốn lấy lại nhà phải báo cho bên thuê biết trước sáu tháng.

 

Như vậy, theo khoản 4 Điều 494 ở trên, trường hợp trong hợp đồng không xác định thời gian thuê nhà thì ông có quyền lấy lại nhà mà không cần lý do gì nhưng phải báo trước cho bên thuê ít nhất 6 tháng. Nếu sau 6 tháng kể từ ngày ông thông báo về việc lấy lại nhà cho thuê mà bên thuê không trả lại nhà thì ông có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bên thuê chuyển nhà và thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho ông.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12  tháng 7 năm 2016


 

Câu 1. Ông Lê Văn Thành trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bố mẹ tôi muốn tặng cho tôi quyền sử dụng đất, cho tôi hỏi Trình tự, thủ tục tặng cho con quyền sử dụng đất như thế nào?

Trả lời:

Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất, cụ thể:

"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính".

Về trình tự, thủ tục làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất:

Theo quy định tại điểm a, d, Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định:

“a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này

d) VIệc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp xã”.

Như vậy, để thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất từ bố mẹ sang con trước tiên ông và bố mẹ ông phải đến một tổ chức công chứng trên địa bản tỉnh, thành phố nơi có đất hoặc UBND cấp xã để công chứng/chứng thực hợp đồng tặng cho này. Sau khi có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng/chứng thực thì ông có thể tiến hành thủ tục đăng ký sang tên tại văn phòng đăng ký đất đai, hồ sơ bao gồm:

+ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

+ Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp

+ Giấy tờ khác, như chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu…

Về nghĩa vụ thuế, phí phải nộp:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ  Quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuếa thu nhập cá nhân (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015) thì:

"1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (bao gồm cả nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản) giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị em ruột với nhau" là thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Ngoài ra, quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 23/2013/NĐ-CP ngày 25/3/2013 về sửa đổi khoản 10 Điều 4 Nghị định 45/2011/NĐ-CP Quy định các trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ:

“Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Như vậy, trường hợp bố mẹ ông tặng cho ông quyền sử dụng đất thì sẽ được miễn lệ phí trước bạ.

 

Câu 2: Ông Nguyễn Mạnh Dũng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, con tôi đang học đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân thì có được miễn học phí theo Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH mới ban hành không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 4 Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/3/2016 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 – 2021:

“2. Đối tượng được miễn học phí:

a) Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được hợp nhất tại Văn bản số 01/VBHN-VPQH ngày 30/7/2012 của Văn phòng Quốc hội. Cụ thể:

- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh; Người hưởng chính sách như thương binh; Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến (nếu có);

- Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 (nếu có); con của người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (nếu có); con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sĩ; con của thương binh; con của người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học”.

Đối chiếu với quy định trên của Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH thì con của người tham gia kháng chiến có Huân chương kháng chiến hạng Nhất không thuộc diện được miễn học phí.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5  tháng 7 năm 2016

Câu 1.  Ông Nguyễn Đức Huy trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật thì các trường hợp nào không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013, các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm:

 Một là, tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai.

(Cụ thể Điều 8 Luật Đất đai quy định về Người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với đất được giao để quản lý như sau:

1. Người đứng đầu của tổ chức chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất trong các trường hợp sau đây:

a) Tổ chức được giao quản lý công trình công cộng, gồm công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê, đập; quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm;

b) Tổ chức kinh tế được giao quản lý diện tích đất để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư;

c) Tổ chức được giao quản lý đất có mặt nước của các sông và đất có mặt nước chuyên dùng;

d) Tổ chức được giao quản lý quỹ đất đã thu hồi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất sử dụng vào mục đích công cộng được giao để quản lý, đất chưa giao, đất chưa cho thuê tại địa phương.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm đối với việc quản lý đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người ở thuộc địa phương.

4. Người đại diện cho cộng đồng dân cư là người chịu trách nhiệm đối với đất được giao cho cộng đồng dân cư quản lý).

Hai là, người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

Ba là, người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

Bốn là, người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

Năm là, người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Sáu là, người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bảy là, tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

Câu 2. Ông Trịnh Văn Mùi trú tại xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng hỏi: Theo quy định của pháp luật những trường hợp nào được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù?

 

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 2, Điều 3 Luật Thi hành án hình sự 2010: Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.

Điều 4 Thông tư liên tịch số 03/2013/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế  hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân, quy định điều kiện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân như sau:

1. Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp dưới đây:

a) Phạm nhân bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ, do đó, cần thiết phải cho họ tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để có điều kiện chữa bệnh, trừ người không có thân nhân hoặc không có nơi cư trú rõ ràng.

Người bị bệnh nặng quy định tại khoản này là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng;

b) Nữ phạm nhân có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nếu họ bị xử phạt tù lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng;

c) Phạm nhân là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình, nếu họ tiếp tục chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (không có nguồn thu nhập nào khác, không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng những người thân thích là người già, trẻ em hoặc những người khác không có khả năng lao động trong gia đình họ), trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;

d) Phạm nhân bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ, cần thiết sự có mặt của họ để thực hiện công vụ nhất định.

2. Phạm nhân thuộc các trường hợp đã quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, chỉ được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

3. Phạm nhân thuộc các trường hợp đã quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này, nếu bị kết án về các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia hoặc bị kết án tù chung thân mà chưa được giảm xuống tù có thời hạn, chỉ được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 

 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 28  tháng 6 năm 2016

 

Câu 1. Chị Lê Thị Hạnh, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi:

Chúng tôi sinh sống với nhau không có đăng ký kết hôn. Hiện nay tôi vừa mới sinh một con trai. Vậy khi làm giấy khai sinh cho con có thể cho con mang họ cha và điền đầy đủ thông tin về người cha không, thủ tục đăng ký khai sinh như thế nào?

Trả lời:

Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

- Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

- Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Điều 29 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh”. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng nêu rõ: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”.

Trường hợp của chị mặc dù khi chị sinh con, chị và bố đứa trẻ không có đăng ký kết hôn, nhưng theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, cháu bé con của chị vẫn có quyền được đăng ký khai sinh.

Về việc đăng ký khai sinh cho con:

Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định việc Đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

2. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

5. Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ.

Như vậy đối với trường hợp của chị, mặc dù hai ngươi chưa đăng ký kết hôn nhưng chị vẫn có quyền được đăng ký khai sinh theo họ cũng như quê quán của chị, nếu khi đăng ký khai sinh mà bố cháu bé có văn bản nhận con thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh cho cháu bé, trong Giấy khai sinh của cháu sẽ có thêm thông tin về người cha, còn nếu không thì phần thông tin về người cha sẽ để trống.

Theo đó, lúc này, bố đứa trẻ sẽ điền thông tin vào tờ khai nhận con, và đồng thời xuất trình chứng cứ chứng minh quan hệ cha con.

Về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con được quy định tại Điều 11 Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp, cụ thể như sau:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Điều 12 Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định:

Khi đăng ký khai sinh cho trẻ em mà có người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch kết hợp giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:

1. Hồ sơ gồm:

a) Tờ khai đăng ký khai sinh và Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;

b) Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật hộ tịch;

c) Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 11 của Thông tư này.

2. Các giấy tờ khác, trình tự giải quyết được thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 16 và Điều 25 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã; theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 36 và Điều 44 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Nội dung đăng ký khai sinh xác định theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Giấy khai sinh và Trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con được cấp đồng thời cho người yêu cầu.

Theo quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 thì trong trường hợp thực hiện thủ tục nhận cha, mẹ, con thì các bên phải có mặt theo quy định của pháp luật.

Câu 2: Ông Nguyễn Mạnh Dũng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi mua xe máy điện cho con tôi đi học nhưng không có hóa đơn, chứng từ. Cho tôi hỏi tôi có đăng ký xe được không?

Trả lời:

Theo Thông tư 54/2015/TT-BCA ngày 22/10/2015 của Bộ Công an bổ sung Điều 25a vào Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe, thì việc thực hiện đăng ký xe mô tô điện, xe máy điện được thực hiện như sau:

Từ ngày 06 tháng 12 năm 2015 đến ngày 30 tháng 6 năm 2016, việc giải quyết đăng ký, cấp biển số xe đối với xe mô tô điện, xe máy điện thực hiện như sau:

1. Hồ sơ, thủ tục đăng ký xe, gồm:

a) Giấy khai đăng ký xe mô tô điện, xe máy điện (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này);

b) Bản photocopy Sổ hộ khẩu (đối với trường hợp chủ xe là cá nhân); giấy giới thiệu của cơ quan, tổ chức (đối với trường hợp chủ xe là cơ quan, tổ chức);

c) Xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân của người đến đăng ký xe; trường hợp chủ xe là cá nhân xuất trình thêm bản chính Sổ hộ khẩu để đối chiếu.

Như vậy, ông không cần phải có các loại giấy tờ liên quan đến xe mà chỉ cần Giấy khai đăng ký xe máy điện, bản photocopy Sổ hộ khẩu và xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân. Cùng với đó là bản chính Sổ hộ khẩu để đối chiếu.

Nơi đăng ký là Công an cấp huyện (Khoản 3 Điều 3 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe).

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký xe giải quyết cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ xe.

Chúng tôi khuyên ông nên đi đăng ký xe càng sớm càng tốt bởi sau ngày 30/06/2016, các trường hợp đến đăng ký xe phải có thêm các giấy tờ theo thủ tục thông thường như: hóa đơn bán hàng, chứng từ lệ phí trước bạ xe, giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với xe nhập khẩu) hoặc phiếu kiểm định chất lượng xuất xưởng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (đối với xe sản xuất, lắp ráp trong nước).

 

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 21  tháng 6 năm 2016

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Lợi trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi muốn chuyển đổi mục đích từ đất trồng lúa nước sang đất ở. Cho tôi được hỏi điều kiện để được chuyển đổi và hồ sơ, thủ tục như thế nào??

 

Trả lời:

 

Tại Điểm a, d  Khoản 1 Điều 57 Luật đất đai 2013 quy định về các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

 

- Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

 

- Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.

 

Như vậy, trường hợp ông muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa nước sang đất ở thì cần phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Khoản 1 Điều 134 Luật đất đai năm 2013 có quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, hạn chế chuyển đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp…”. Do vậy, việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất ở sẽ được hạn chế.

 

Thêm vào đó, tại Khoản 1 Điều 52 Luật đất đai năm 2013 có quy định về căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là: "kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt"

 

Vì thế, việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất ở phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của huyện đã được phê duyệt thì mới được chuyển đổi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước. Theo đó, muốn biết thửa đất nêu trên của gia đình ông có được phép chuyển mục đích sử dụng đất hay không còn phải phụ thuộc vào các điều kiện đã nêu ở trên.

 

Về trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Điều 69 Nghị định 43/2014/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01/07/2014 và được hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMTquy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất như sau:

 

- Về Hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất:

 

Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hồ sơ gồm:

 

+ Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này;

 

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

 

- Về Hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gồm:

 

+ Các giấy tờ quy định được viện dẫn phía trên;

 

+ Biên bản xác minh thực địa;

 

+ Bản sao bản thuyết minh dự án đầu tư đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, dự án không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư; bản sao báo cáo kinh tế - kỹ thuật của tổ chức sử dụng đất đối với trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình; văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất; thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CPđã lập khi cấp giấy chứng nhận đầu tư hoặc thẩm định dự án đầu tư hoặc xét duyệt dự án đối với dự án phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, phải cấp giấy chứng nhận đầu tư;

 

+ Văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CPđối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư và trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình.

 

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải bổ sung văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 59 của Luật Đất đai;

 

+ Trích lục bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất;

 

+ Tờ trình kèm theo dự thảo quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này.

 

Nhắn tin:

 

1. Chúng tôi nhận được đơn của Phạm Thị Hường, hiện đang công tác tại Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Sở lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn. Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội để xem xét, giải quyết.

 

2. Đơn của ông Nguyễn Văn Ngân, trú tại thôn Nà Phước, xã Vân Thuỷ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Khiếu nại về việc ông chưa nhận đủ số tiền trợ cấp đối với người tham gia hoạt động kháng chiến. Việc khiếu nại của ông đã được Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn giải quyết tại Quyết định số 340/QĐ-SLĐTBXH ngày 26/02/2015.

 

3. Đơn của các ông Hoàng Văn Nội trú tại thôn Làng Thẳm, xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về việc thanh toán tiền công xây dựng đình Làng Mỏ. Qua nội dung đơn thư phản ánh, đề nghị các ông làm thủ tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn để giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

4. Đơn của ông Lường Văn Trí và vợ là Hoàng Thị Be trú tại Khu 5A, thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về việc khiếu nại Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình. Đề nghị ông bà gửi đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình để giải quyết theo theo quy định.

 

5. Đơn của ông Chu Văn Ngôn, trú tại xã Tân Việt, huyện Văn Lãng về việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc. Đề nghị ông liên hệ với Phòng Nội vụ huyện Văn Lãng để được hướng dẫn giải quyết.

 

6. Đơn khiếu nại của tập thể nhân viên tổ quản lý chợ Cửa khẩu Tân Thanh trực thuộc Trung tâm quản lý cửa khẩu Tân Thanh – Cốc Nam về việc thực hiện chế độ hợp đồng lao động. Đơn cũng đã được gửi đến Ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.
 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14  tháng 6 năm 2016

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Nghiệp trú tại thôn Bắc Nam, xã Đồng Giáp, huyện Văn Quan hỏi: Tôi đã được hưởng trợ cấp một lần theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ; Cho tôi hỏi khi tôi chết thân nhân có được hưởng mai táng phí không và tôi có được Nhà nước công nhận là người có công với cách mạng không?

Trả lời: Về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương thì Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008; và Liên bộ Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 144/2008/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC ngày 27/11/2008 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg.

Tại khoản 2, Điều 2 Quyết định 142/2008/QĐ-TTg quy định: "Người được hưởng trợ cấp hàng tháng từ trần thì thôi hưởng từ tháng tiếp theo; thân nhân của người từ trần được hưởng trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp hiện hưởng của người từ trần".

Trường hợp được hưởng trợ cấp một lần: (Quy định tại Điều 3 Quyết định 142/2008/QĐ-TTg, cụ thể:

"Quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ từ          ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước, có dưới 15 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương (bao gồm cả số tiếp tục công tác sau đó thôi việc), được hưởng chế độ trợ cấp một lần tính theo số năm công tác thực tế trong quân đội, mức hưởng cụ thể như sau:

Có đủ 2 năm công tác thực tế trong quân đội trở xuống, mức trợ cấp bằng 2.000.000 đồng; từ năm thứ 3 trở đi, mỗi năm được tính hưởng trợ cấp bằng 600.000 đồng.

Khi tính thời gian hưởng chế độ trợ cấp một lần, nếu có tháng lẻ thì đủ 6 tháng trở lên được tính tròn một năm, dưới 6 tháng được tính nửa (1/2) năm".

Đối chiếu với các quy định trên, ông thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp một lần nên khi từ trần sẽ không được hưởng các chế độ trợ cấp khác theo quy định.

Theo quy định tại văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH ngày 30/7/2012 của Văn phòng Quốc hội về việc hợp nhất văn bản Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng:

Tại khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh thì người có công với cách mạng bao gồm:

"a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

c) Liệt sĩ;

d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;

e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

h) Bệnh binh;

i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

m) Người có công giúp đỡ cách mạng".

Tại Điều 30 Pháp lệnh quy định:

"Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh này là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến".

Các chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được quy định tại Điều 31 Pháp lệnh, bao gồm:

1. Trợ cấp một lần;

2. Bảo hiểm y tế;

3. Khi người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí.

Như vậy, trường hợp của ông tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến thì mới được công nhận là người có công với cách mạng.

Câu 2. Ông Nông Văn Mỹ trú tại thôn Kéo Ái, xã Trấn Ninh, huyện Văn Qun hỏi: Anh trai tôi đi bộ đội từ năm 1962 đến năm 1970 được xuất ngũ về địa phương và chết năm 1980. Cho tôi hỏi thân nhân có được hưởng chế độ, chính sách gì không và thủ tục như thế nào?

 

Trả lời:

Ngày 27/10/2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg Về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương.

Quyết định này quy định thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhập ngũ từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước, có dưới 20 năm công tác trong quân đội, đã phục viên, xuất ngũ về địa phương hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng.

Đối tượng không áp dụng

- Những người đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng.

- Những người thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 Quyết định này mà đầu hàng địch, phản bội, người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; tính đến ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành mà đang chấp hành án tù chung thân hoặc đã bị kết án về một trong các tội về xâm phạm an ninh quốc gia mà chưa được xoá án tích.

- Đối tượng đã được hưởng chế độ trợ cấp một lần quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2005; khoản 2 Điều 1 Quyết định số 92/2005/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ thì không hưởng chế độ trợ cấp một lần quy định tại Điều 3 Quyết định này.

 

Tại Điều 4 Quyết định này quy định: "Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 đã từ trần trước ngày 01 tháng 01 năm 2009, đối tượng quy định tại Điều 3 đã từ trần trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành (bao gồm cả số từ trần khi tại ngũ) thì một trong những người sau đây: vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của người từ trần được hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 3.000.000 đồng.

Anh trai ông đã từ trần năm 1980 nên theo quy định trên thì chỉ những người người sau đây: vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của người từ trần được hưởng chế độ trợ cấp một lần bằng 3.000.000 đồng.

 

 

 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 7  tháng 6 năm 2016

 

Câu 1.  Ông Lê Quốc Hưng trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi đang lưu thông xe trên đường thì bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe ngay trên đường cao tốc. Cho tôi hỏi việc yêu cầu dừng xe này có đúng không?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 5 Thông tư 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an về nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông quy định về quyền hạn như sau:

 

Được dừng các phương tiện đang tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát phương tiện, giấy tờ của phương tiện; kiểm soát người và giấy tờ của người điều khiển phương tiện, giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát, việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ theo quy định pháp luật.

 

Xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác theo quy định của pháp luật.

 

Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; tạm giữ giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe và giấy tờ khác có liên quan đến phương tiện, người điều khiển phương tiện hoặc những người trên phương tiện khi có hành vi vi phạm pháp luật, giấy tờ liên quan đến hoạt động vận tải để bảo đảm cho việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

 

Điều 8 Thông tư 01/2016/TT-BCA cũng quy định về tuần tra, kiểm soát công khai như sau:

 

1. Phương thức tuần tra, kiểm soát công khai

 

a) Tuần tra, kiểm soát cơ động;

 

b) Kiểm soát tại Trạm Cảnh sát giao thông;

 

c) Kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông;

 

d) Tuần tra, kiểm soát cơ động kết hợp kiểm soát tại một điểm trên đường giao thông.

 

Việc tuần tra, kiểm soát công khai trên đường cao tốc được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản này.

 

2. Tuần tra, kiểm soát công khai phải có kế hoạch được Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng Công an cấp huyện trở lên phê duyệt. Kế hoạch tuần tra, kiểm soát phải ghi rõ thời gian, tuyến đường, địa điểm thực hiện tuần tra, kiểm soát.

 

3. Khi tuần tra, kiểm soát công khai phải thực hiện các quy định sau đây:

 

a) Sử dụng trang phục theo đúng quy định của Bộ Công an.

 

b) Sử dụng phương tiện giao thông hoặc đi bộ để tuần tra, kiểm soát trong phạm vi địa bàn được phân công.

 

c) Sử dụng các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật và Thông tư này.

 

Như vậy, Cảnh sát giao thông có quyền yêu cầu dừng các phương tiện khi đang tham gia giao thông trên đường bộ cao tốc theo quy định tại Thông tư 01/2016/TT-BCA của Bộ Công an.

 

Câu 2. Bà Nguyễn Thu Huyền trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Mẹ tôi mắc bệnh hiểm nghèo, có thể không qua khỏi nên muốn chia thừa kế cho các con. Việc mẹ tôi lâm trọng bệnh có ảnh hưởng gì đến giá trị pháp lý của di chúc không? Việc lập di chúc như thế nào để di chúc có giá trị pháp lý?

 

Trả lời:

 

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự quy định: Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

 

Với quy định này, tuy mẹ của bà mắc bệnh hiểm nghèo nhưng vẫn tỉnh táo, minh mẫn, vẫn làm chủ được hành vi của mình thì mẹ của bà có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Tuy nhiên để di chúc được xác định là hợp pháp thì ngoài những điều kiện trên, tại khoản 1 điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 còn quy định:

 

- Người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn sáng suốt; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.

 

- Nội dung của di chúc không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái với quy định của pháp luật.

 

Về hình thức của di chúc, Điều 649 quy định di chúc có hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc bằng miệng.

 

Theo điều 650 Bộ luật Dân sự 2005, Di chúc bằng văn bản bao gồm:

 

1) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

 

2) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

 

3) Di chúc bằng văn bản có công chứng;

 

4) Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

 

Điều 653 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, di chúc bằng văn bản phải ghi rõ những nội dung sau đây: ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản và nơi để lại di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

 

Khi lập di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

 

Điều 655 quy định di chúc bằng văn bản không có người làm chứng theo đó người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc, đồng thời di chúc phải có đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 653 như đã nêu trên.

 

Trong trường hợp mẹ của bà không thể tự tay viết được bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, di chúc cũng phải có đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 653 và phải có ít nhất hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

 

Pháp luật quy định người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự không được làm chứng cho việc lập di chúc.

Ngoài ra mẹ của bà có thể lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều 658 hoặc mời công chứng viên đến lập di chúc tại chỗ ở theo quy định của pháp luật.

 

Về di chúc miệng, theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2005: "Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ".

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 31  tháng 5 năm 2016

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Vinh trú tại khối 5, xã Hợp Thành, thị trấn Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những trường hợp nào phải tiến hành bầu cử thêm, bầu cử lại?

Trả lời:

Việc bầu cử thêm, bầu cử lại được quy định tại điều 79 và điều 80 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, cụ thể như sau:

Bầu cử thêm:

- Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Quốc hội chưa đủ số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử ở tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.

- Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chưa đủ hai phần ba số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó để quyết định ngày bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.

- Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên nhưng không trúng cử. Người trúng cử là người được quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ và có số phiếu bầu cao hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.

Bầu cử lại:

- Trường hợp đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu ở cấp đó.

- Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri.

- Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri sau khi đã báo cáo và được sự đồng ý của Hội đồng bầu cử quốc gia.

- Trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.

Ngoài ra Điều 81 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định:

- Hội đồng bầu cử quốc gia tự mình hoặc theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh hủy bỏ kết quả bầu cử ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đó.

- Trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên.

Câu 2. ông Nguyễn Văn Sơn, trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi không chính xác họ tên của tôi theo giấy Chứng minh nhân dân, cho tôi hỏi phải làm thế nào để sửa sai sót trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

Trả lời:

Để sửa sai sót trong Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất thì ông cần làm thủ tục đề nghị đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình (gọi chung là Giấy chứng nhận) đã cấp như sau:

“Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận”.

Về thủ tục đính chính Giấy chứng nhận đã cấp:

Theo quy định tại khoản 1, Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai: "Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính.

Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai phát hiện Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót thì thông báo cho người sử dụng đất biết và yêu cầu người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để thực hiện đính chính".

Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính, khi thực hiện thủ tục đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đính chính Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp gồm có:

- Đơn đề nghị đính chính đối với trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản phát hiện sai sót trên Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp;

- Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.

Theo các quy định trên, khi phát hiện phần tên chủ sử dụng có sai sót thì ông cần làm đơn đề nghị đính chính gửi tới Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện, kèm theo đơn là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ khác chứng minh thông tin có sai lệch để đề nghị giải quyết.

Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra, trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai

 

 

 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 24  tháng 5 năm 2016

 

Câu 1. ông Nguyễn Văn Sơn, trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi lăng hỏi: Thế nào là vi phạm pháp luật về bầu cử? Người có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

Người vi phạm các quy định của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 126 Bộ luật hình sự quy định về tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân:

1. Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến hai năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 127 Bộ luật hình sự quy định về tội làm sai lệch kết quả bầu cử:

 

1. Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Câu 2: Ông Hoàng Văn Tuyên trú tại xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Việc công bố kết quả bầu cử và giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Việc Công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử được quy định tại Điều 86 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, cụ thể:

1. Hội đồng bầu cử quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 20 ngày sau ngày bầu cử.

2. Ủy ban bầu cử căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.

Giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử (Quy định tại Điều 87 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015):

1. Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội.

Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi đến Ủy ban bầu cử chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

2. Hội đồng bầu cử quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Ủy ban bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

3. Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

 

Câu 3: Bà Hoàng Thị Nguyệt trú tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan hỏi: Con tôi vừa mới nhập ngũ, cho tôi hỏi theo quy định của pháp luật thì thân nhân có được hưởng chế độ, chính sách gì không ?

 

Trả lời:

Ngày 06/4/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/2016/NĐ-CP Quy định một số chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, xuất ngũ và thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ.

Khoản 2 Điều 2 của Nghị định quy định: "Thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ, gồm: Bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc bố, mẹ chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp của hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ".

Về Chế độ, chính sách đối với thân nhân hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ được quy định tại Điều 6 của Nghị định, cụ thể:

1. Thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định này được trợ cấp khó khăn đột xuất trong các trường hợp sau đây:

a) Khi nhà ở của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ gặp tai nạn, hoả hoạn, thiên tai dẫn đến bị sập nhà, trôi nhà, cháy nhà hoặc phải di dời chỗ ở hoặc tài sản bị hư hỏng, thiệt hại nặng về kinh tế thì được trợ cấp mức 3.000.000 đồng/suất/lần;

b) Thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ ốm đau từ 01 tháng trở lên hoặc Điều trị 01 lần tại bệnh viện từ 07 ngày trở lên thì được trợ cấp mức 500.000 đồng/thân nhân/lần;

c) Chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất quy định tại Điểm a Khoản này được thực hiện không quá 02 lần/năm đối với một hạ sĩ quan, binh sĩ; chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất quy định tại Điểm b Khoản này được thực hiện không quá 02 lần/năm đối với mỗi thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ;

d) Thân nhân của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ hy sinh, từ trần hoặc mất tích thì được trợ cấp mức 2.000.000 đồng/người.

2. Con đẻ, con nuôi hợp pháp của hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ được miễn, giảm học phí khi học tại cơ sở giáo dục phổ thông công lập, ngoài công lập theo quy định tại Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2016. Các chế độ, chính sách quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 17  tháng 5 năm 2016

 

Câu 1. Ông Lê Quốc Khánh trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Phiếu bầu cử như thế nào là không hợp lệ, Việc kiểm phiếu được tiến hành khi nào; Việc xác định người trúng cử phải tuân theo nguyên tắc nào?

Trả lời:

Những phiếu bầu cử không hợp lệ:

Điều 74 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định những phiếu bầu sau đây là phiếu bầu không hợp lệ:

- Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát ra;

- Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

- Phiếu để số người được bầu nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Phiếu gạch xóa hết tên những người ứng cử;

- Phiếu ghi thêm tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu có ghi thêm nội dung khác.

Trường hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trường Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ xem xét, quyết định. Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên ghi trên phiếu bầu.

Việc kiểm phiếu:

Việc kiểm phiếu được quy định tại Điều 73 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, cụ thể:

Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.

Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu.

Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được ủy nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.

Việc kiểm đếm số phiếu bầu cho từng người ứng cử được thực hiện theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 02/2016/TT-BNV ngày 01/02/2016 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021

Giải quyết các khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu:

Những khiếu nại, tố cáo tại chỗ về những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử nhận, giải quyết và ghi nội dung giải quyết vào biên bản.

Trong trường hợp Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải ghi rõ ý kiến của Tổ bầu cử vào biên bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Ban bầu cử.

Nguyên tắc xác định người trúng cử:

Điều 78 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định nguyên tắc xác định người trúng cử cụ thể như sau:

- Kết quả bầu cử được tính, trên số phiếu bầu hợp lệ và chỉ được công nhận khi đã có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri tại đơn vị bầu cử tham gia bầu cử, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 80 của Luật này.

- Người trúng cử phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ.

- Trường hợp số người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều hơn số lượng đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu thì những người trúng cử là những người có số phiếu bầu cao hơn.

- Trường hợp cuối danh sách trúng cử có nhiều người được số phiếu bầu bằng nhau và nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.

Câu 2: Bà Hoàng Thị Mai trú tại xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng hỏi: Cơ quan Công an bắt tạm giam con tôi vì tội cố ý gây thương tích đến nay là ngày thứ 18, nhưng phía Công an không cho tôi vào thăm, gặp gỡ con tôi. Cho tôi hỏi công an không cho người thân vào thăm người bị bắt tạm giam có đúng hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 88 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự nhằm để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.  Bên cạnh đó, tại Điều 89 cũng quy định về chế độ tạm giữ, tạm giam, theo đó nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các chế độ khác được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 21 Quy chế về Tạm giữ, tạm giam tại Văn bản hợp nhất số 13/VBHN-BCA ngày 07/04/2014 của Bộ Công an quy định về các trường hợp trích xuất người bị tạm giam, tạm giữ, cụ thể:

1. Việc trích xuất người bị tạm giam, tạm giữ để tiến hành các hoạt động ở bên ngoài khu vực Trại tạm giam, Nhà tạm giữ trong các trường hợp sau:

a) Đưa đi khám, chữa bệnh, giám định pháp y; giám định pháp y tâm thần;

b) Để thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử;

c) Cho gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác;

d) Cho người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam tiếp xúc lãnh sự hoặc tiếp xúc với các tổ chức nhân đạo theo quy định tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, hoặc theo sự thoả thuận trực tiếp của Nhà nước Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam hoặc vì lý do đối ngoại đối với từng trường hợp cụ thể.

2. Ngoài những trường hợp trích xuất quy định tại khoản 1 Điều này, Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam có trách nhiệm bàn giao người bị tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp dưới đây:

a) Khi có quyết định của cơ quan quản lý trại giam đưa người bị kết án phạt tù đến trại giam;

b) Khi có quyết định của Hội đồng thi hành án tử hình đưa người bị kết án tử hình đi thi hành án tử hình;

c) Khi có quyết định của cơ quan thụ lý vụ án chuyển người bị tạm giữ, tạm giam đến nơi giam, giữ khác;

d) Để tiến hành các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này ở bên trong khu vực nhà tạm giữ, trại tạm giam. Trong trường hợp đó, Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam căn cứ vào quyết định phân công thụ lý vụ án, văn bản của cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý cho thân nhân, luật sư, người bào chữa khác, đại diện cơ quan, tổ chức nước ngoài thăm gặp, tiếp xúc với người bị tạm giữ, tạm giam để quyết định đưa người bị tạm giữ, tạm giam ra khỏi buồng giam, giữ.

Khoản 2, Điều 22 Quy chế này quy định: "Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định. Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định thời gian gặp nhưng không quá một giờ mỗi lần gặp. Nhà tạm giữ, Trại tạm giam phải bố trí buồng thăm gặp trong khu vực quản lý của mình để người bị tạm giữ, tạm giam gặp thân nhân trong trường hợp họ được phép. Luật sư hoặc người bào chữa khác được gặp người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tại buồng làm việc của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.

Căn cứ vào các quy định trên, thì việc gặp thân nhân đối với người bị tạm giam, tạm giữ phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan đang thụ lý vụ án. Gia đình, thân nhân muốn được thăm nom người thân của mình đang bị tạm giam, tạm giữ cần làm đơn gửi cơ quan có thẩm quyền trong từng giai đoạn tố tụng, chỉ khi được cơ quan thụ lý đồng ý thì gia đình bà mới được vào thăm người bị tạm giam. Nếu việc gặp người thân có ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ án thì cơ quan công an có quyền không cho người bị tạm giam gặp người thân. Vì vậy việc cơ quan công an không cho người thân vào thăm người bị bắt tạm giam là có căn cứ và không trái với quy định pháp luật.
 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 10  tháng 5 năm 2016

 

Câu 1. Ông Nguyễn Đức Hiếu trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: Việc bỏ phiếu phải tuân theo nguyên tắc nào; quy định về thời gian bỏ phiếu, nếu cử tri đi bầu đã đạt 100% thì có thể kết thúc việc bỏ phiếu và tiến hành kiểm phiếu không?

 

Trả lời:

 

Điều 69 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về nguyên tắc bỏ phiếu như sau:

 

1. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.

 

2. Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.

 

3. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

 

4. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.

 

5. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.

 

6. Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.

 

7. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

 

8. Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.

 

Về thời gian bỏ phiếu:

 

Điều 71 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về thời gian bỏ phiếu như sau:

 

- Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín giờ tối cùng ngày.

 

- Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.

 

- Việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.

 

- Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 02/2016/TT-BNV ngày 01/02/2016 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đã quy định: Sau khi đã hết giờ bỏ phiếu theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì tổ bầu cử mới được mở hòm phiếu để kiểm phiếu.

 

Như vậy, trường hợp cử tri đi bầu đã đạt 100%, nhưng chưa hết giờ bỏ phiếu thì Tổ bầu cử cũng chưa được mở hòm phiếu để tiến hành kiểm phiếu.

 

Câu 2. Ông Lê Việt Hoàng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Công ty tôi là Công ty TNHH có 02 thành viên, nay muốn thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty có được không; Trình tự, thủ tục thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

 

Công ty ông có quyền thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều 43 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

 

Điều 43 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

 

Đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần:

 

1. Hồ sơ đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần bao gồm các giấy tờ sau:

 

a) Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật;

 

b) Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân của người bổ sung, thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;

 

c) Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật;

 

Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật làm thay đổi nội dung Điều lệ công ty;

 

Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần trong trường hợp việc thay đổi người đại diện theo pháp luật không làm thay đổi nội dung của Điều lệ công ty ngoài nội dung họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp.

 

Quyết định, biên bản họp phải ghi rõ những nội dung được sửa đổi trong Điều lệ công ty.

 

2. Nội dung Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật gồm:

 

a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);

 

b) Họ, tên, số Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này, chức danh, địa chỉ thường trú của người đang là đại diện theo pháp luật của công ty và của người bổ sung, thay thế làm đại diện theo pháp luật của công ty;

 

c) Họ, tên và chữ ký của một trong những cá nhân sau:

 

Chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ sở hữu là cá nhân.

 

Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ sở hữu là tổ chức.

 

Chủ tịch Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật thi người ký thông báo là Chủ tịch Hội đồng thành viên mới được Hội đồng thành viên bầu.

 

Chủ tịch Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì người ký thông báo là Chủ tịch Hội đồng quản trị mới được Hội đồng quản trị bầu.

 

Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty bỏ trốn khỏi nơi cư trú, bị tạm giam, bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được bản thân hoặc từ chối ký tên vào thông báo của công ty thì phải có họ, tên và chữ ký của các thành viên Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các thành viên Hội đồng quản trị đã tham dự và biểu quyết nhất trí về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty.

 

 

Khi nhận Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 3  tháng 5 năm 2016
 

Câu 1.  Ông Hoàng Văn Long trú tại xã Tân Văn, huyện Bình Gia hỏi: Đề nghị cho biết nguyên tắc, thời gian, hình thức vận động bầu cử; những hành vi nào bị cấm trong vận động bầu cử theo quy định của pháp luật hiện hành?

Trả lời:

Điều 63, 64, 65 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về nguyên tắc, thời gian, hình thức vận động bầu cử, cụ thể như sau:

Về nguyên tắc vận động bầu cử:

- Việc vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

- Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử nào thì thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó.

- Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho người ứng cử.

Về thời gian tiến hành vận động bầu cử: Thời gian vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ.

Về hình thức vận động bầu cử:

- Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử.

- Thông qua phương tiện thông tin đại chúng.

Những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử (Quy định tại Điều 68 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015):

Thứ nhất, lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.

Thứ hai, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.

Thứ ba, lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

Thứ tư, sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

 

Câu 2.  Ông Nguyễn Quốc Thịnh trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và việc vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời:

Việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri được quy định tại Điều 66 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, cụ thể:

1. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp) tỉnh chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tại đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

Ủy ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.

2. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:

a) Tuyên bố lý do;

b) Đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;

c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

đ) Người chủ trì hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc hội nghị.

3. Sau hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia và Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ban thường trực ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi đến Ủy ban bầu cử cùng cấp và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.

Về việc vận động bầu cử thông qua phương tiện thông tin đại chúng được quy định tại Điều 67 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015:

1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương nơi mình ứng cử và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử quốc gia.

2. Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có).

3. Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc đăng tải chương trình hành động của người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26  tháng 4 năm 2016

 

Câu 1. ông Hoàng Văn Vị, trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Trình tự khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 61 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:

 

1. Công dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được thực hiện như sau:

 

a) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng bầu cử quốc gia. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng;

 

b) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì được gửi tới Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định, cuối cùng;

 

c) Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị nhận được theo thẩm quyền.

 

2. Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.

 

Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bầu cử quốc gia (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) quyết định xóa tên người đó trong danh sách chính thức những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

 

3. Không xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo không có họ, tên người tố cáo hoặc mạo danh người khác để tố cáo.

 

4. Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ủy ban bầu cử ở huyện, Ủy ban bầu cử ở xã chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết đến Ủy ban thường vụ Quốc hội (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân khóa mới ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) để tiếp tục xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

 

Câu 2: Ông Vy Văn Mạy trú tại xã Hải Yến, huyện Cao Lộc hỏi: Việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo thực hiện theo Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2014 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo.

 

Nguyên tắc rút ngắn thời gian thử thách của án treo (Điều 3 Thông tư):

 

1. Tuân thủ quy định của pháp luật.

 

2. Bảo đảm chính sách khoan hồng, nhân đạo xã hội chủ nghĩa.

 

3. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được hưởng án treo.

 

4. Khuyến khích người được hưởng án treo tự giác phấn đấu, tích cực học tập, lao động, chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định thi hành án và nghĩa vụ của người được hưởng án treo.

 

Điều kiện và mức rút ngắn thời gian thử thách của án treo (Quy định tại Điều 4 Thông tư):

 

1. Người được hưởng án treo có thể được Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ các điều kiện sau:

 

a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo;

 

b) Có nhiều tiến bộ, được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người được hưởng án treo; chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế nơi làm việc; tích cực lao động, học tập và sửa chữa lỗi lầm; thực hiện đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ khác theo quyết định của bản án;

 

c) Được Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát giáo dục người được hưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản.

 

2. Người được hưởng án treo một năm chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ một tháng đến một năm. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư thời gian thử thách Tòa án đã tuyên.

 

3. Trường hợp người được hưởng án treo đã được cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, nhưng không được Tòa án chấp nhận, nếu sau đó có tiến bộ mới thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát giáo dục người được hưởng án treo tiếp tục đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho họ.

 

4. Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

 

Lập công là trường hợp người được hưởng án treo có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của Nhà nước, tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn; có những sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc có thành tích xuất sắc trong lao động, học tập, chiến đấu, công tác, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khen thưởng hoặc xác nhận.

 

 

Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp mà bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện quân đội cấp quân khu trở lên có kết luận là người được hưởng án treo đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19  tháng 4 năm 2016

 

Câu 1. Ông Lê Văn Hội trú tại xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: Việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được pháp luật quy định như thế nào ?

Trả lời: Việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 57 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, cụ thể:

1. Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia biên bản hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.

2. Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương.

3. Căn cứ vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử quốc gia gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh danh sách và hồ sơ những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương.

4. Hội đồng bầu cử quốc gia lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách do Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử ở tỉnh gửi đến chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử.

5. Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C...

Người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở một đơn vị bầu cử.

6. Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.

7. Chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương mình theo quyết định, của Hội đồng bầu cử quốc gia.

Việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 58 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, cụ thể:

1. Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

2. Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử phải lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử.

Việc lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 57 của Luật này.

3. Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ít nhất là hai người; nếu đơn vị bầu cử được bầu từ bốn đại biểu trở lên thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ít nhất là ba người. Hội đồng bầu cử quốc gia hướng dẫn đối với trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng.

Câu 2: Ông Hoàng Xuân Tiến trú tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan hỏi: Việc đăng ký nghĩa vụ quân sự được thực hiện tại cơ quan nào; Chế độ chính sách đối với công dân trong thời gian thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự ?

Điều 15 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định về cơ quan đăng ký nghĩa vụ quân sự như sau:

 

1. Ban Chỉ huy quân sự cấp xã thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân cư trú tại địa phương.

2. Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân làm việc, học tập tại cơ quan, tổ chức và tổng hợp báo cáo Ban Chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương (sau đây gọi chung là cấp huyện) nơi cơ quan, tổ chức đặt trụ sở; trường hợp cơ quan, tổ chức không có Ban Chỉ huy quân sự ở cơ sở thì người đứng đầu hoặc người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức cho công dân thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự tại nơi cư trú.”.

Chế độ chính sách của công dân trong thời gian đăng ký nghĩa vụ quân sự được quy định tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/02/2016 của Chính phủ Quy định trình tự, thủ tục đăng ký và chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự, cụ thể:

“Điều 11. Chế độ chính sách của công dân trong thời gian thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự:

1. Công dân đang làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trong thời gian thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự được hưởng nguyên lương, phụ cấp và tiền tàu xe đi, về theo chế độ quy định hiện hành của pháp luật.

2. Công dân không thuộc các cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trong thời gian thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự được đảm bảo các chế độ sau:

a) Tiền ăn bằng mức tiền một ngày ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh;

b) Thanh toán tiền tàu xe đi, về theo chế độ quy định hiện hành của pháp luật.

3. Chế độ chính sách quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này được thực hiện đối với các trường hợp công dân trong thời gian thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu, đăng ký phục vụ trong ngạch dự bị".

Ngoài ra, nếu sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự ông nhận được lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện thì ông sẽ được hưởng chế độ chính sách của công dân trong thời gian thực hiện khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự quy định tại điều 12 Nghị định 13/2016/NĐ-CP như sau:

1. Công dân đang làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trong thời gian thực hiện khám, kiểm tra sức khỏe theo lệnh gọi của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện được hưởng nguyên lương, phụ cấp hiện hưởng và tiền tàu xe đi, về theo chế độ quy định hiện hành của pháp luật.

2. Công dân không thuộc các cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trong thời gian thực hiện khám, kiểm tra sức khỏe theo lệnh gọi của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện được đảm bảo các chế độ sau:

a) Tiền ăn bằng mức tiền một ngày ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh;

b) Thanh toán tiền tàu xe đi, về theo chế độ quy định hiện hành của pháp luật”.

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12  tháng 4 năm 2016

 

Câu 1. Ông Lê Văn Phú trú tại xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng hỏi: Chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ và sau khi thực hiện xong nghĩa vụ quân sự được quy định như thế nào?

Trả lời: Điều 50 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định Chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, xuất ngũ và thân nhân, cụ thể như sau:

 

Đối với hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời gian phục vụ tại ngũ:

- Được bảo đảm cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đúng chất lượng về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; được bảo đảm chỗ ở, phụ cấp hàng tháng, nhu yếu phẩm và nhu cầu về văn hóa, tinh thần phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội; được bảo đảm chế độ trong các ngày lễ, tết; được bảo đảm chăm sóc sức khỏe khi bị thương, bị ốm đau, bị tai nạn theo quy định của pháp luật;

- Từ tháng thứ mười ba trở đi được nghỉ phép theo chế độ; các trường hợp nghỉ vì lý do đột xuất khác do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định;

- Từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi được hưởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng;

- Được tính nhân khẩu trong gia đình khi gia đình được giao hoặc điều chỉnh diện tích nhà ở, đất xây dựng nhà ở và đất canh tác;

- Được tính thời gian phục vụ tại ngũ vào thời gian công tác;

- Được ưu đãi về bưu phí;

- Có thành tích trong chiến đấu, công tác, huấn luyện được khen thưởng theo quy định của pháp luật;

- Trong trường hợp bị thương, bị bệnh khi làm nhiệm vụ thi được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật;

- Được Nhà nước bảo đảm chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế;

- Được tạm hoãn trả và không tính lãi suất khoản vay từ Ngân hàng chính sách xã hội mà trước khi nhập ngũ là thành viên hộ nghèo, học sinh, sinh viên theo quy định của pháp luật;

- Được ưu tiên trong tuyển sinh quân sự.

 

Đối với hạ sĩ quan, binh sĩ khi xuất ngũ:

- Được cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi đường, trợ cấp xuất ngũ;

- Trước khi nhập ngũ đang học tập hoặc có giấy gọi vào học tập tại các trường thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học thì được bảo lưu kết quả, được tiếp nhận vào học ở các trường đó;

- Được trợ cấp tạo việc làm;

- Trước khi nhập ngũ đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thì khi xuất ngũ cơ quan, tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm thu nhập không thấp hơn trước khi nhập ngũ; trường hợp cơ quan, tổ chức đó đã giải thể thì cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm bố trí việc làm phù hợp;

- Trước khi nhập ngũ đang làm việc tại tổ chức kinh tế thi khi xuất ngũ tổ chức đó phải có trách nhiệm tiếp nhận lại, bố trí việc làm và bảo đảm tiền lương, tiền công tương xứng với vị trí việc làm và tiền lương, tiền công trước khi nhập ngũ; trường hợp tổ chức kinh tế đã chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc phá sản thì việc giải quyết chế độ, chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ được thực hiện như đối với người lao động của tổ chức kinh tế đó theo quy định của pháp luật;

- Được giải quyết quyền lợi về bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội;

- Đối với hạ sĩ quan, binh sĩ xuất ngũ theo quy định tại khoản 1 Điều 43 và khoản 1 Điều 48 của Luật nghĩa vụ quân sự, khi về địa phương được chính quyền các cấp, cơ quan, tổ chức ưu tiên sắp xếp việc làm và cộng điểm trong tuyển sinh, tuyển dụng công chức, viên chức; trong thời gian tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của ngạch tuyển dụng tương ứng với trình độ đào tạo.

 

 

 

 

Câu 2. Ông Đỗ Hồng Việt trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc tổ chức hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được pháp luật quy định như thế nào?

 

 

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị quyết liên tịch số 11/2016/NQLT/UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 01/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội – Chính phủ - Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, cụ thể:

 

Đối với việc hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội:

 

 

Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba

1. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba được tổ chức trong khoảng thời gian từ ngày 13 tháng 4 năm 2016 đến ngày 17 tháng 4 năm 2016.

2. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triệu tập và chủ trì được thực hiện theo quy định tại Điều 48 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

3. Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở địa phương do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh triệu tập và chủ trì được thực hiện theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

 

Nội dung, thủ tục tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba

1. Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (đối với hội nghị hiệp thương ở trung ương), Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh (đối với hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh) báo cáo về tình hình và kết quả tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, nơi công tác hoặc nơi làm việc đối với những người ứng cử, trong đó cần nêu rõ những trường hợp người ứng cử không được sự tín nhiệm của cử tri và những trường hợp cần xem xét do có vụ việc cử tri nêu.

2. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương báo cáo dự kiến danh sách người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

Trường hợp không thoả thuận được thì hội nghị quyết định biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Nếu hội nghị quyết định biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu kín thì cử tổ kiểm phiếu từ ba đến năm người. Phiếu biểu quyết phải có dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương. Chỉ các đại biểu thuộc thành phần hiệp thương có mặt tại hội nghị mới được quyền biểu quyết.

3. Hội nghị thông qua biên bản và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

4. Việc gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 48 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; ở cấp tỉnh được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là ngày 22 tháng 4 năm 2016.

 

Đối với việc hiệp thương giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

 

 

Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba

 

Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở mỗi cấp được tổ chức trong khoảng thời gian từ ngày 13 tháng 4 năm 2016 đến ngày 17 tháng 4 năm 2016 do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp triệu tập và chủ trì được thực hiện theo quy định tại Điều 56 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

 

 

Nội dung, thủ tục tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba

1. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương báo cáo về tình hình và kết quả tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú, nơi công tác hoặc nơi làm việc đối với những người ứng cử, trong đó cần nêu rõ những trường hợp người ứng cử không được sự tín nhiệm của cử tri và những trường hợp cần xem xét do có vụ việc cử tri nêu.

2. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương báo cáo dự kiến danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Trường hợp không thoả thuận được thì hội nghị quyết định biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Nếu hội nghị quyết định biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu kín thì cử tổ kiểm phiếu từ ba đến năm người. Phiếu biểu quyết phải có dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương. Chỉ các đại biểu thuộc thành phần hiệp thương có mặt tại hội nghị mới được quyền biểu quyết.

3. Hội nghị thông qua biên bản và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

4. Việc gửi biên bản hội nghị hiệp thương và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 56 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là ngày 22 tháng 4 năm 2016.

Đối với những nơi thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội thì biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

 

 

 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5  tháng 4 năm 2016

 

Câu 1.  Ông Hoàng Mạnh Cường trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Việc thành lập Tổ bầu cử được pháp luật quy định như thế nào; nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 25 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015:

 

1. Chậm nhất là 50 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương.

 

Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương.

 

Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành lập một Tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.

 

Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.

 

2. Tổ bầu cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

 

a) Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;

 

b) Bố trí phòng bỏ phiếu, chuẩn bị hòm phiếu;

 

c) Nhận tài liệu và phiếu bầu cử từ Ban bầu cử; phát thẻ cử tri, phiếu bầu cử có đóng dấu của Tổ bầu cử cho cử tri;

 

d) Thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử;

 

đ) Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về bầu cử và nội quy phòng bỏ phiếu;

 

e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử quy định tại Điều này; nhận và chuyển đến Ban bầu cử tương ứng khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, khiếu nại, tố cáo khác không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tổ bầu cử;

 

g) Kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử để gửi đến Ban bầu cử tương ứng;

 

h) Chuyển biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử và toàn bộ phiếu bầu cử đến Ủy ban nhân dân cấp xã khi kết thúc việc kiểm phiếu;

 

i) Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên;

 

k) Thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại tại khu vực bỏ phiếu (nếu có).

 

Câu 2.  Bà Lê Thị Nga trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào được miến, giảm tiền sử dụng đất.

 

Trả lời:

 

Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất được quy định tại Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.

 

Điều 11, Điều 12 Nghị định 45/2014/NĐ-CP quy định về các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, cụ thể:

 

Miễn tiền sử dụng đất trong những trường hợp sau đây:

 

1. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công; hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà ở cho người phải di dời do thiên tai.

 

Việc xác định hộ nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc xác định hộ gia đình hoặc cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ.

 

2. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định.

 

3. Miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở cho các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 

4. Miễn tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở để bố trí tái định cư hoặc giao cho các hộ gia đình, cá nhân trong các cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 

5. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc miễn tiền sử dụng đất đối với các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình trên cơ sở đề xuất của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh".

 

 Giảm tiền sử dụng đất

 

1. Giảm 50% tiền sử dụng đất trong hạn mức đất ở đối với hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các địa bàn không thuộc phạm vi quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định này khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất; công nhận (cấp Giấy chứng nhận) quyền sử dụng đất lần đầu đối với đất đang sử dụng hoặc khi được chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở.

 

Việc xác định hộ nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc xác định hộ gia đình hoặc cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ.

 

2. Giảm tiền sử dụng đất đối với đất ở trong hạn mức giao đất ở (bao gồm giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận cho người đang sử dụng đất) đối với người có công với cách mạng mà thuộc diện được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công.

 

 

3. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc giảm tiền sử dụng đất đối với các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình trên cơ sở đề xuất của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh".

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 3 năm 2016

 

Câu1. Ông Nguyễn Quốc Tuấn trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn gì?

 

Trả lời: Khoản 2 Điều 23 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định trong việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử ở các cấp có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

 

- Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình ở địa phương; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

 

- Quản lý và phân bổ kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;

 

- Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

 

- Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

 

- Ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;

 

- Nhận và xem xét hồ sơ của những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội; đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, thôn, tổ dân phố ở địa phương giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình; gửi danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để tiến hành hiệp thương;

 

- Lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình theo từng đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xóa tên người ứng cử trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình;

 

- Nhận tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân từ Ủy ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử;

 

- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình ở từng đơn vị bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến; lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cấp mình;

 

- Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân

 

- Xác nhận và công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

 

- Trình Hội đồng nhân dân khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp được bầu;

 

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình;

 

- Bàn giao các biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cho Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp khóa mới.

 

Câu 2. Anh Hoàng Mạnh Quỳnh trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi: Anh tôi hiện đang bị thụ án treo do Tòa án tuyên về tội gây rối trật tự công cộng. Nay, anh tôi muốn bán nhà và chuyển sang tỉnh khác sinh sống để thuận lợi cho cuộc sống và công việc của gia đình. Xin hỏi, anh tôi có thể chuyển nơi cư trú hay không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công an, các trường hợp dưới đây tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú:

 

1. Người dưới đây, trong thời gian bị hạn chế quyền tự do cư trú thì tạm thời chưa được giải quyết thủ tục thay đổi nơi cư trú (trừ trường hợp có sự đồng ý cho thay đổi nơi cư trú bằng văn bản của cơ quan đã áp dụng biện pháp đó):

 

a) Người đang bị cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

 

b) Người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế;

 

c) Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành.

 

2. Người đang bị áp dụng hình phạt cấm cư trú thì không giải quyết các thủ tục về đăng ký thường trú, tạm trú tại những địa phương mà Tòa án cấm người đó cư trú.

 

Như vậy, với quy định nêu trên, để được chuyển nơi cư trú thì anh của ông cần có văn bản đồng ý của tòa án.

 

Trường hợp anh của ông nếu được tòa án cho phép thay đổi nơi cư trú, thủ tục đăng ký thường trú như sau:

 

Theo điều 21 Luật Cư trú năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) về thủ tục đăng ký thường trú, người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

 

- Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

 

- Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

 

Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

 

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

 

- Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật Cư trú;

 

- Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật Cư trú.

 

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

 

Câu 3. Bà Hoàng Thị Thơm trú tại xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc hỏi: Mẹ tôi năm nay 80 tuổi, đang được hưởng trợ cấp tuất thân nhân người có công thì có được hưởng trợ cấp người cao tuổi nữa không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội: Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng là người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 

"5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

 

b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

 

c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng".

 

Đối chiếu với các quy định vừa viện dẫn trên, người cao tuổi thuộc các trường hợp được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng mà đang hưởng chính sách ưu đãi người có công thì vẫn được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 3 năm 2016

Câu 1. ông Lộc Minh Hùng, trú tại xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Việc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân phải tuân theo nguyên tắc nào để đảm bảo đúng quy định của pháp luật, thời gian bỏ phiếu được quy định như thế nào?

Trả lời:

Về nguyên tắc bỏ phiếu:

Điều 69 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về nguyên tắc bỏ phiếu như sau:

"1. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.

2. Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.

3. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

4. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.

5. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.

6. Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.

7. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

8. Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu."

Về thời gian bỏ phiếu:

Điều 71 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định về thời gian bỏ phiếu như sau:

- Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín giờ tối cùng ngày.

- Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.

- Việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.

- Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 02/2016/TT-BNV ngày 01/02/2016 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đã quy định như sau: Sau khi đã hết giờ bỏ phiếu theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì tổ bầu cử mới được mở hòm phiếu để kiểm phiếu. Như vậy, trường hợp cử tri đi bầu đã đạt 100%, nhưng chưa hết giờ bỏ phiếu thì Tổ bầu cử cũng chưa được mở hòm phiếu để tiến hành kiểm phiếu.

Câu 2: Bà Hoàng Thị Thảo trú tại xã Thụy Hùng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi đang công tác tại một bênh viện trên địa bàn tỉnh, cho tôi hỏi thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh như thế nào, cơ quan nào có thẩm quyền cấp?

Trả lời:

Việc cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thực hiện theo quy định tại Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư 41/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế).

Cụ thể khoản 5 Điều 1 Thông tư 41/2015/TT-BYT quy định:

“1. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:

a) Đơn đề nghị cấp chứng chhành nghề theo mẫu 01 quy định tại Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư này và hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;

b) Bn sao có chứng thực văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị cấp chứng ch hành nghề, cụ thể như sau:

- Văn bng chuyên môn y.

- Văn bng hoặc giấy chng nhận trình độ chuyên môn đối với lương y hoặc giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp khám bệnh, chữa bệnh gia truyn do Bộ trưng Bộ Y tế hoặc Giám đc SY tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tt là tnh) cấp;

- Văn bng chuyên môn của kỹ thuật viên: tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành kỹ thuật y học; nếu tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành hóa học, sinh học, dược sĩ đại học từ trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì phi có chng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo chuyên ngành kỹ thuật y học (xét nghiệm), thời gian học tối thiểu 3 tháng tại các đơn vị đã được cấp mã số đào tạo liên tục và thẩm định chương trình đào tạo theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế; trường hợp chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo đã được cấp trước ngày Thông tư s22/2013/TT-BYT có hiệu lực thì phi do cơ sở có chức năng đào tạo, cấp chứng chỉ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

- Văn bằng của bác sĩ y học dự phòng;

- Trường hợp người tốt nghiệp cử nhân y khoa trình độ đại học do nước ngoài cấp gm: cử nhân lâm sàng, cử nhân nội khoa và ngoại khoa, c nhân điều trị học (y đa khoa), cử nhân Trung Y (Y học ctruyền), cử nhân Răng Hàm Mặt, cử nhân Răng (Nha sĩ) phải có văn bằng, chứng ch sau đây:

+ Tốt nghiệp trước ngày 01 tháng 01 năm 2012: có bằng cử nhân y khoa trong trường hợp nước cấp bằng có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương hoặc có bng cử nhân y khoa và văn bản công nhận của Cục Kho thí, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường hợp nước cấp bằng chưa có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương; Văn bằng, chứng chỉ chuyên môn y tế đào tạo bổ sung theo ngành, chuyên ngành phù hợp, có thời gian đào tạo cộng dồn tối thiu là 12 tháng tại Trường Đại học y, dược hoặc bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Trung ương của Việt Nam.

+ Tốt nghiệp sau ngày 01 tháng 01 năm 2012: có bng cnhân y khoa trong trường hợp nước cấp bng có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương hoặc có bằng cử nhân y khoa và văn bản công nhận của Cục Khảo thí, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường hợp nước cấp bằng chưa có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương; Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học bổ sung theo ngành, chuyên ngành phù hợp, thời gian đào tạo ti thiu là 12 tháng tại trường đại học y, dược của Việt Nam đã được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo mã ngành tương ng theo chương trình đào tạo bổ sung cho từng ngành theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Y tế.

- Trường hợp mất văn bằng chuyên môn thì phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc bản sao chứng thực giấy chứng nhận thay thế bng tt nghiệp do cơ sở đào tạo nơi cấp văn bằng chuyên môn cấp;

c) Một trong các giấy tờ xác nhận quá trình thực hành sau đây:

- Giấy xác nhận quá trình thực hành theo quy định tại Điều 18 Thông tư này bng bác sĩ nội trú, bng chuyên khoa cấp I, bằng chuyên khoa cấp II, chứng chhoặc giấy chứng nhận chuyên khoa định hướng có tng số thời gian thực hành quy đi phi đủ theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;

Trường hợp thời gian đào tạo chuyên khoa định hướng không đủ thời gian theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh thì phải bổ sung giấy xác nhận quá trình thực hành đđủ thời gian thực hành theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.

d) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp;

đ) Phiếu lý lịch tư pháp;

e) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) nơi người hành nghề cư trú. Đối với người hành nghề đang làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì sơ yếu lý lịch phi có xác nhận của thủ trưng đơn vị nơi công tác. Sơ yếu lý lịch thực hiện theo mu 04 - Phụ lục 01 ban hành kèm theo Thông tư này. Sơ yếu lý lịch có giá trị trong thời hạn 6 tháng tính đến thời điểm nộp hồ đề nghị cấp chứng chhành nghề.”

Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề nộp tại Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi làm việc.

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 3 năm 2016

 

Câu 1. Ông Lê Quốc Khánh trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Theo quy định hiện nay số dư trong danh sách bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Đối với danh sách bầu cử đại biểu Quốc hội:

 

Theo quy định tại khoản 6 Điều 57 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 thì số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người.

 

Trong trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Quốc hội vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.

 

Đối với danh sách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

 

Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 thì số người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ít nhất là hai người; nếu đơn vị bầu cử được bầu từ bốn đại biểu trở lên thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ít nhất là ba người. Hội đồng bầu cử quốc gia hướng dẫn đối với trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng.

 

Theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội đồng bầu cử quốc gia về Xử lý trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng như sau:

 

Trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được hiểu là sau khi Ủy ban bầu cử công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử đến trước khi niêm yết danh sách những người ứng cử mà người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân vì lý do bất khả kháng (chết, vi phạm pháp luật …) không thể tiếp tục ứng cử theo quy định của pháp luật thì Ủy ban bầu cử sau khi thống nhất với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định theo một trong các hình thức sau đây, đồng thời báo cáo Ủy ban bầu cử cấp trên trực tiếp; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì báo cáo Hội đồng bầu cử quốc gia:

 

1. Quyết định giữ danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân còn lại khi số dư người ứng cử vẫn bảo đảm theo quy định của pháp luật;

 

2. Quyết định bổ sung người có số phiếu tín nhiệm cao nhất và đạt từ 50% số phiếu tín nhiệm trở lên trong số những người còn lại trong danh sách những người ứng cử được xem xét tại Hội nghị hiệp thương lần thứ ba khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

 

a) Số dư người ứng cử ở đơn vị bầu cử không bảo đảm theo quy định của pháp luật;

 

b) Trong danh sách hiệp thương lần thứ ba còn có người ứng cử đạt trên 50% số phiếu tín nhiệm trở lên;

 

c) Thời gian để bổ sung phải còn ít nhất là 02 ngày tính đến trước khi Ủy ban bầu cử niêm yết danh sách chính thức những người ứng cử.

 

3. Quyết định giảm số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở đơn vị bầu cử để bảo đảm số dư theo quy định của pháp luật nếu không có một trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này.

 

Câu 2: Ông Bùi Văn Duy trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi:

Bạn tôi lái xe do vượt ẩu, gây tai nạn giao thông làm chết 01 người, gia đình đã đến xin lỗi, thăm hỏi và đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại, gia đình nạn nhân. Vậy, liệu bạn tôi có bị xử lý hình sự về hành vi trên không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự thì người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

 

- Làm chết một người;

 

- Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

 

- Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

 

- Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 70 triệu đồng;

 

- Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 70 triệu đồng;

 

- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 70 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

 

Do vậy, trường hợp của bạn ông đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự.

 

Mặc dù gia đình người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án nhưng người bạn ông vẫn bị cơ quan điều tra khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự, vì không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 105 của Bộ luật Tố tụng hình sự (những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại ).

 

Việc gia đình người bạn đã đến thăm hỏi, chia buồn, bồi thường cho gia đình người bị hại chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 3 năm 2016

 
Câu 1. Ông Hoàng Văn Khánh trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất giấy đăng ký xe ôtô, xin hỏi có được cấp lại không? Nếu có, trong thời gian chờ đợi, xe có được tham gia giao thông không?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 quy định về việc cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe bị mất như sau:

 

Người xin cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe chuẩn bị hồ sơ bao gồm :

 

a) Giấy khai đăng ký xe (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).

 

b) Một trong các giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Thông tư này. Cụ thể, nếu chủ xe là người Việt Nam, xuất trình một trong những giấy tờ sau:

 

- Chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu.

 

- Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

 

- Trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, Giấy chứng minh Quân đội nhân dân phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác.

 

- Thẻ học viên, sinh viên học theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện; giấy giới thiệu của nhà trường.

 

Khoản 2 Điều 15 Thông tư quy định: “Khi cấp lại giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe thì giữ nguyên biển số. Trường hợp xe đang sử dụng biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì đổi sang biển 5 số theo quy định.

 

Trường hợp xe đã đăng ký, cấp biển số nhưng chủ xe đã làm thủ tục sang tên, di chuyển đi địa phương khác, nay chủ xe đề nghị đăng ký lại nguyên chủ thì giải quyết đăng ký lại và giữ nguyên biển số cũ; trường hợp biển số cũ là biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì cấp đổi sang biển 5 số theo quy định”.

 

Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký xe:

 

Theo Điều 3 Thông tư này quy định:

 

“1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt đăng ký, cấp biển số xe của Bộ Công an và xe ô tô của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế và người nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó; xe ôtô của các cơ quan, tổ chức quy định tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này.

 

2. Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Phòng Cảnh sát giao thông) đăng ký, cấp biển số các loại xe sau đây (trừ các loại xe của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này):

 

a) Xe ô tô, máy kéo, rơ moóc, sơ mi rơ moóc; xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175cm3 trở lên hoặc xe có quyết định tịch thu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các loại xe có kết cấu tương tự xe nêu trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, kể cả xe quân đội làm kinh tế có trụ sở hoặc cư trú tại địa phương.

 

b) Xe môtô, xe gắn máy, xe máy điện, xe có kết cấu tương tự xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện của cơ quan, tổ chức, cá nhân người nước ngoài, của dự án, tổ chức kinh tế liên doanh với nước ngoài tại địa phương và tổ chức, cá nhân có trụ sở hoặc cư trú tại quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi Phòng Cảnh sát giao thông đặt trụ sở.

 

3. Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) đăng ký, cấp biển số xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện và các loại xe có kết cấu tương tự xe nêu trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước có trụ sở hoặc cư trú tại địa phương mình (trừ các loại xe của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này)…”.

 

Theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, khi bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe, ông cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ nộp cho Cơ quan có thẩm quyền đăng ký để yêu cầu xin cấp lại đăng ký xe. Thời gian xác minh và hoàn thành thủ tục là không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (khoản 1 Điều 4 Thông tư 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ công an).

 

Tuy nhiên, cần lưu ý trong thời gian chờ giải quyết việc cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe ông không nên điều khiển phương tiện tham gia giao thông, bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì Đăng ký xe là một trong những giấy tờ mà người lái xe khi điều khiển phương tiện bắt buộc phải mang theo.

 

Câu 2. Bà Nguyễn Bích Ngọc trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về việc nộp hồ sơ ứng cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021?

 

Trả lời:

 

1. Khoản 1 Điều 36 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định việc nộp hồ sơ ứng cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

 

- Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Hội đồng bầu cử quốc gia;

 

- Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế ở địa phương giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên;

 

- Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật này thì Hội đồng bầu cử quốc gia chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ủy ban bầu cử ở tỉnh chuyển hồ sơ ứng cử của người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử tại địa phương đến Hội đồng bầu cử quốc gia; chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử tại địa phương đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, để đưa vào danh sách hiệp thương.

 

2. Khoản 2 Điều 36 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định việc nộp hồ sơ ứng cử của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân như sau:

 

Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân nộp một bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở đơn vị hành chính mà mình ứng cử. Người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của địa phương nào thì phải là người đang cư trú hoặc công tác thường xuyên ở địa phương đó.

 

Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người tự ứng cử, người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật này thì Ủy ban bầu cử chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của những người ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để đưa vào danh sách hiệp thương.

 

Luật cũng quy định, công dân chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân tối đa ở hai cấp trong cùng một nhiệm kỳ; nếu nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân ở một cấp.

 

Theo Thông báo số 02/TB-UBBC và Kế hoạch số 03/KH-UBBC ngày 19/02/2016 của Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND tỉnh Lạng Sơn nhiệm kỳ 2016-2021 thì thời hạn nhận hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 là trong giờ hành chính các ngày trong tuần, bắt đầu từ ngày 17/02/2016 và kết thúc vào lúc 17giờ 00 ngày 13/3/2016.

 

Về Hồ sơ ứng cử Đại biểu Quốc hội:

 

- Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội nộp 02 bộ hồ sơ ứng cử tại Hội đồng bầu cử quốc gia (qua Tiểu ban nhân sự và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Hội đồng bầu cử quốc gia, địa chỉ Nhà Quốc hội, số 02 đường Bắc Sơn, Ba Đình, Hà Nội);

 

- Người được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và người tự ứng cử đại biểu Quốc hội nộp 02 bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử tỉnh (thông qua Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn - Cơ quan thường trực Ủy ban bầu cử tỉnh).

 

Hồ sơ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nộp tại Ủy ban bầu cử ở đơn vị hành chính mà mình ứng cử.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 3 năm 2016

 

Câu 1.  Ông Lê Chiến Thắng trú tại xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng hỏi: Tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 2 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

 

Theo quy định của Nghị quyết số 1129/2016/UBTVQH13 ngày 14/01/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 được ấn định là ngày 22/5/2016. Như vậy, công dân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, sinh ngày 22/5/1998 trở về trước có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; sinh ngày 22/5/1995 trở về trước có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.

 

 Tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Quốc hội:

 

Khoản 1 Điều 3 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Quốc hội như sau: Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội. Cụ thể, Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định 05 tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội gồm:

 

+ Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

 

+ Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội.

 

+ Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.

 

+ Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.

 

Tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

 

 Khoản 2 Điều 3 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định tiêu chuẩn của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân như sau: Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương. Cụ thể, Điều 7 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định 04 tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân, gồm:

 

+ Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

 

+ Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.

 

+ Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.

 

Câu 2.  Ông Nguyễn Quang Thịnh trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Em trai tôi đang là sinh viên, hiện đang được một số bạn bè rủ rê bán hàng đa cấp thực phẩm chức năng. Xin hỏi việc tham gia bán hàng đa cấp có vi phạm pháp luật không? Việc bán hàng đa cấp cần những điều kiện gì.

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 3 Nghị định 42/2014/NĐ-CP, ngày 14 tháng 05 năm 2014 Về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp quy định: Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng.

 

Những hàng hóa sau không được kinh doanh theo phương thức đa cấp (Khoản 2, khoản 3  Điều 4 Nghị định 42/2014/NĐ-CP):

 

- Hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, Danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp buộc phải thu hồi, cấm lưu thông hoặc tạm ngừng lưu thông theo quy định của pháp luật;

 

- Hàng hóa là thuốc; trang thiết bị y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thủy sản), thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế; các loại hóa chất nguy hiểm và sản phẩm có hóa chất nguy hiểm theo quy định của pháp luật.

 

- Mọi loại hình dịch vụ hoặc các loại hình kinh doanh khác không phải là mua bán hàng hóa, không được tiến hành kinh doanh theo phương thức đa cấp, trừ trường hợp pháp luật cho phép.

 

Với tư cách là người tham gia bán hàng đa cấp, em trai ông cần tuân thủ các quy định pháp luật để hoạt động kinh doanh của mình được hợp pháp:

 

Trước tiên, em trai ông phải giao kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp hợp pháp được thành lập và hoạt động theo quy định tại Chương 2 Nghị định 42/2014/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan.

 

Về Điều kiện đối với người tham gia bán hàng đa cấp (Điều 19 Nghị định 42/2014/NĐ-CP):

 

Người tham gia bán hàng đa cấp là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Những trường hợp sau không được tham gia bán hàng đa cấp:

 

1. Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản.

 

2. Người nước ngoài không có Giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp.

 

 Đồng thời, phải được doanh nghiệp bán hàng đa cấp đào tạo và cấp chứng chỉ theo mẫu; được cấp Thẻ thành viên. Khi bán hàng đa cấp, em trai ông phải có trách nhiệm theo Điều 23 Nghị định 42/2014/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 

1. Xuất trình Thẻ thành viên trước khi giới thiệu hàng hóa hoặc tiếp thị bán hàng.

 

2. Cung cấp đầy đủ những thông tin về doanh nghiệp và hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp của doanh nghiệp khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

 

3. Thông tin trung thực, chính xác về hàng hóa được chào bán.

 

4. Tuân thủ quy định trong Quy tắc hoạt động, Chương trình trả thưởng của doanh nghiệp.

 

5. Trường hợp không tuân thủ các quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định này  và Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều này và gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia bán hàng đa cấp khác, người tham gia bán hàng đa cấp có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra theo quy định của pháp luật.

 

(Khoản 2 Điều 5 Nghị định 42/2014/NĐ-CP quy định cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

 

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp).

 

6. Các trách nhiệm khác theo quy định pháp luật.

 

Như vậy, em trai ông nếu có ý định kinh doanh theo phương thức đa cấp thì cần tìm hiểu về doanh nghiệp mình tham gia và thực hiện các quy định pháp luật mà chúng tôi viện dẫn ở trên nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và của người khác.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 23 tháng 2 năm 2016


Câu 1. ông Hoàng Văn Tiến, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc dự kiến cơ cấu, thành phần những người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

   

Trả lời:

 

Điều 8 và Điều 9 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định như sau:

1. Đối với đại biểu Quốc hội:

- Căn cứ vào dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội được bầu, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội; số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội.

-  Số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm có ít nhất 18% (mười tám phần trăm) tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số.

- Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% (ba mươi lăm phần trăm) tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.

 

2. Đối với đại biểu HĐND:

 

Căn cứ vào số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở mỗi đơn vị hành chính theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban nhân dân cùng cấp, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử:

- Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và các đơn vị hành chính cấp dưới, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương;

-  Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khóm (sau đây gọi chung là tổ dân phố), đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương

 

Câu 2: Bà Hoàng Thị Minh trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Con tôi được gọi đi khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự nhưng con tôi bận việc không đi được. Vậy con tôi có bị xử phạt không?

 

Trả lời:

Thực hiện nghĩa vụ quân sự là quyền và cũng là nghĩa vụ của mỗi công dân. Khám sức khỏe để thực hiện nghĩa vụ quân sự là một trong những điều kiện để thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên một số trường hợp lại trốn tránh, hoặc vì một số lý do nào đó không đến khám sức khỏe, nhưng cũng có trường hợp không đến khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự với lý do chính đáng, trong các trường hợp này đối tượng không đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự sẽ không bị xử phạt hành chính cũng như các chế tài khác.

Hành vi không đi khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự khi có giấy gọi của con bà có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu. Cụ thể như sau:

- Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng.

- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự;

Theo hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư số 95/2014/TT-BQP ngày 07/07/2014 của Bộ quốc phòng hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu, “Lý do chính đáng” là một trong các lý do sau:

a) Người phải thực hiện việc sơ tuyển nghĩa vụ quân sự; kiểm tra hoặc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự; khám sức khỏe tuyển chọn sĩ quan dự bị; chấp hành lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu (sau đây viết gọn là người thực hiện nghĩa vụ quân sự) nhưng bị ốm hoặc trên đường đi bị ốm, tai nạn.

b) Thân nhân của người thực hiện nghĩa vụ quân sự gồm bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc bố, mẹ chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp đang bị ốm nặng.

c) Thân nhân của người thực hiện nghĩa vụ quân sự gồm bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc bố, mẹ chồng; người nuôi dưỡng hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp chết nhưng chưa tổ chức tang lễ.

d) Nhà ở của người thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc nhà ở của thân nhân người thực hiện nghĩa vụ quân sự nằm trong vùng đang bị thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn làm ảnh hưởng đến cuộc sống.

đ) Người thực hiện nghĩa vụ quân sự không nhận được giấy gọi sơ tuyển nghĩa vụ quân sự; kiểm tra hoặc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự; khám sức khỏe tuyển chọn sĩ quan dự bị; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu do lỗi của người hoặc cơ quan có trách nhiệm hoặc do hành vi của người khác gây khó khăn hoặc cản trở quy định tại Điều 8 Chương II Thông tư này.

- Trường hợp quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc bệnh viện, trạm y tế cấp xã; trường hợp quy định tại Điểm c, Điểm d Khoản 1 Điều này phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
     


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16 tháng 2 năm 2016

 

Câu 1. Ông Nguyễn Hoàng Dương trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi điều khiển xe mô tô vi phạm an toàn giao thông bị lập biên bản xử phạt và bị tạm giữ giấy phép lái xe, nhưng vì đi làm xa nên chưa nộp phạt được. Xin hỏi tôi có bị phạt thêm tiền vì nộp trễ không? Trong thời gian chưa nộp tiền phạt mà vẫn sử dụng phương tiện thì bị xử lý thế nào?

 

Trả lời:

 

Khoản 1 điều 78 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên, thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp.

 

Số ngày nộp chậm được tính như sau:

 

Khoản 4 điều 1 Thông tư số 105/2014/TT-BTC ngày 07/8/2014 quy định:

 

a) Trường hợp quyết định xử phạt được giao trực tiếp thì ngày tính tiền nộp chậm thi hành quyết định xử phạt là sau 10 ngày (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ) kể từ ngày giao nhận quyết định xử phạt theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính;

 

b) Trường hợp quyết định xử phạt được gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm thì ngày tính tiền nộp chậm thi hành quyết định xử phạt là sau 10 ngày (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ) kể từ ngày quyết định xử phạt được phát hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật bưu chính.

 

c) Trường hợp tổ chức, cá nhân bị xử phạt không có xác nhận ngày giao nhận quyết định xử phạt, không xuất trình được ngày quyết định xử phạt được phát hợp lệ theo quy định tại điểm a, b khoản này, nhưng không thuộc trường hợp cố tình không nhận quyết định xử phạt theo quy định tại điểm d khoản này thì ngày tính tiền nộp chậm thi hành quyết định xử phạt là sau 12 ngày (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ) kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Trường hợp người nộp phạt chứng minh được ngày nhận quyết định xử phạt và việc chứng minh là có cơ sở thì Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu phạt tính tiền nộp chậm thi hành quyết định xử phạt sau 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt mà người nộp phạt đã chứng minh;

 

d) Đối với các trường hợp cố tình không nhận quyết định xử phạt thì thực hiện theo quy định tại Điều 70 Luật xử lý vi phạm hành chính. Cơ quan có thẩm quyền xử phạt, cưỡng chế thông báo cho Kho bạc Nhà nước nơi thu phạt hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu phạt về thời điểm được coi là giao quyết định xử phạt để Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu phạt tính tiền chậm nộp phạt.

 

đ) Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình không nộp tiền nộp chậm thi hành quyết định xử phạt, thì các đơn vị Kho bạc Nhà nước nơi thu phạt hoặc ngân hàng thương mại nơi Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thu phạt thu tiền nộp phạt vi phạm hành chính trên quyết định xử phạt; đồng thời, vẫn tính tiền nộp chậm thi hành quyết định xử phạt và ghi rõ trên biên lai thu phạt số tiền chậm nộp tính đến ngày nộp tiền mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt chưa nộp”.

 

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 75 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014): Đối với trường hợp bị tạm giữ giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc nhưng người vi phạm chưa tới giải quyết mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện tham gia giao thông sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.

 

Cụ thể: Theo quy định tại Khoản 5, Điểm b Khoản 7 Điều 21 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì: Người điều khiển xe mô tô, xe máy không có giấy phép lái xe bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000; không có giấy phép lái xe đối với xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

 

Câu 2: Ông Lê Mạnh Hùng trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Đề nghị cho biết việc vận động bầu cử theo quy định của pháp luật hiện hành?

 

Trả lời:

 

Điều 63, 64, 65 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định cụ thể như sau:

 

Về nguyên tắc vận động bầu cử:

 

- Việc vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

 

- Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử nào thì thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó.

 

- Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho người ứng cử.

 

Về thời gian tiến hành vận động bầu cử: Thời gian vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử và kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ.

Về hình thức vận động bầu cử:

 

- Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử.

 

- Thông qua phương tiện thông tin đại chúng.

 

Những hành vi nào bị cấm trong vận động bầu cử:

 

Điều 68 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định cụ thể những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử như sau:

 

1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.

 

2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.

 

3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

 

4.Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 9 tháng 2 năm 2016

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Hậu trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những ai có quyền bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; người bị tạm giữ, tạm giam có quyền bầu cử không ?

 

Trả lời:

 

Điều 2 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử:

 

Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.

 

Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định 05 nguyên tắc lập danh sách cử tri sau:

 

1. Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này.

 

2. Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.

 

3. Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân.

 

4. Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú) hoặc bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nêu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

 

5. Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

 

Điều 30 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri như sau:

 

- Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.

 

- Người thuộc các trường hợp trên nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri theo quy định

 

-Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người thay đổi nơi thường trú ra ngoài đơn vị hành chính cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi thường trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; những người chuyển đến tạm trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi tạm trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

 

- Cử tri được quy định tại khoản 5 Điều 29 của Luật này, nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký thường trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã hoặc được bổ sung vào danh sách, cử tri tại nơi đăng ký tạm trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

 

- Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.

 

Câu 2. Bà Lê Thị Na trú tại xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng hỏi: Điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 49 Luật Việc làm quy định: Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

 

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

 

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

 

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

 

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

 

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

 

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

 

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

 

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

 

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

 

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

 

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

 

e) Chết.

 

Mức hưởng (quy định tại Điều 50 Luật Việc làm):

 

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

 

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

 

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 2 tháng 2 năm 2016

 

Câu 1. Ông Lý Quốc Khánh trú tại xã Mai Sao, huyện Chi lăng hỏi: Tháng 9/2015 Anh trai tôi bị truy tố về tội cố ý gây thương tích và đến hôm xét xử sơ thẩm thì anh tôi đã bị tạm giam hai tháng. Tòa án tuyên anh trai tôi 24 tháng tù giam và cho hưởng án treo với thời hạn thử thách là 48 tháng. Tuy nhiên, trong bản án không nhắc đến việc trừ thời gian hai tháng mà anh tôi bị tạm giam. Có sự sai sót nào không trong bản án mà Tòa án đã tuyên với anh trai tôi không ?

Trả lời:

Trước ngày 25/12/2013 - ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao tại điểm b tiểu mục 6.4 quy định:

"Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Toà án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và phân biệt như sau:

b) Trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giam thì lấy mức hình phạt tù trừ đi thời gian đã bị tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành. Thời gian thử thách trong trường hợp này bằng hai lần mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành, nhưng không được dưới một năm và không được quá năm năm".

Tuy nhiên, Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP không quy định trừ thời gian tạm giam để xác định mức hình phạt tù còn lại phải chấp hành và thời gian thử thách. Hơn nữa, tại khoản 2 Điều 8 của nghị quyết quy định: "Các hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về án treo trái với hướng dẫn của Nghị quyết này đều bãi bỏ"

Bộ luật Hình sự không có quy định về việc thời gian tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời gian thử thách mà chỉ quy định thời gian tạm giam, tạm giữ chỉ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù có thời hạn.

Như vậy, theo quy định Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì bản án mà Tòa án tuyên đối với anh trai ông không trừ thời gian đã bị tạm giam là đúng. Thời hạn tạm giam chỉ được trừ khi anh trai ông bị chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ.

Nếu trong thời gian thử thách mà anh trai ông phạm tội mới thì tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới đó và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 50, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nếu đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm mới cũng như thời gian bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm đã bị xét xử ở bản án trước mới được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Câu 2. Bà Hoàng Thị Vân trú tại xã Yên Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: Cách đây 01 tháng con tôi bị một nhóm thanh niên đánh làm con tôi bị chấn thương sọ não. Gia đình tôi đã báo công an, gửi đơn tố cáo, tuy nhiên sự việc xảy ra đã 01 tháng mà những kẻ đánh con tôi vẫn chưa bị xử lý. Vậy tôi xin hỏi:

1. Thời hạn giải quyết vụ việc của con tôi là bao nhiêu lâu?

2. Trường hợp của con tôi thì những người kia sẽ bị xử lý thế nào?

Trả lời:

1. Thời hạn giải quyết một vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

- Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự: Theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.

- Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định như sau:

+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

+ Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

- Thời hạn truy tố: Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây: (i) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; (ii) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; (iii) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Thời hạn xét xử:

+ Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

Theo quy định tại Điều 104 và Điều 8 của Bộ luật Hình sự thì tội phạm thuộc quy định tại khoản 1 Điều 104 là tội phạm ít nghiêm trọng; khoản 2 Điều 104 là tội phạm nghiêm trọng; khoản 3 Điều 104 là tội phạm rất nghiêm trọng; khoản 4 Điều 104 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Về hình phạt đối với người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều 104 của Bộ luật hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

- Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

- Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1.  Ông Lê Văn Hải trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Anh trai tôi có con ngoài giá thú nhưng chưa làm thủ tục nhận. Nay không may mẹ đứa trẻ qua đời, con còn nhỏ nên anh tôi có ý định đón về ở chung nhưng bị vợ phản đối. Xin hỏi mẹ đẻ của cháu đã chết, anh tôi có được nhận con nữa không? Nếu được, thủ tục như thế nào? Vợ anh tôi phản đối thì có ảnh hưởng đến việc nhận con không ?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nhận con: “Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia”. Do đó, anh trai ông vẫn có quyền nhận con mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ hiện tại.

Thủ tục đăng ký nhận con được thực hiện theo các quy định của Luật Hộ tịch và Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp Quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:

Thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con (Điều 24 Luật Hộ tịch):

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con (Điều 25 Luật Hộ tịch):

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Tại Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Như vậy, nếu có đủ điều kiện để đăng ký nhận cha, con theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, anh trai ông có thể làm hồ sơ nộp lên UBND cấp xã nơi anh trai ông hoặc nơi người mà anh trai ông muốn nhận làm con đang cư trú để thực hiện thủ tục. Việc mẹ cháu bé đã mất sẽ không ảnh hưởng đến việc nhận con của anh trai ông.

Câu 2: Bà Hoàng Thị Mến trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Con tôi sau khi kết hôn, bị tâm thần, thường xuyên bị chồng đánh đập. Vậy  bố mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn của con không? Luật hôn nhân và gia đình quy định vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo quy định trên, người được quyền yêu cầu ly hôn là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.

Tuy nhiên, khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền được yêu cầu ly hôn.

Cha, mẹ, người thân thích khác chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Khoản 9 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ.

Nếu cha, mẹ hay người thân thích của vợ hoặc chồng hoặc của cả 2 vợ chồng có ý cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn thì đây là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điểm e, Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Từ các quy đinh nêu trên, nếu vợ chồng hoàn toàn bình thường, không có ý muốn ly hôn thì việc bố mẹ của 1 trong 2 bên hoặc cả 2 bên vợ chồng ép buộc phải ly hôn là vi phạm pháp luật. Theo đó, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ.

"Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác".

 

 

 
 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1. Bà Nguyễn Thị Tám trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Vài hôm trước, tôi mua một hộp thực phẩm đóng sẵn, khi mở ra phát hiện có dị vật (sản phẩm lúc mua nguyên vẹn, không có dấu hiệu tác động bên ngoài). Xin hỏi tôi phải làm gì để bảo về quyền của mình và cũng để những người khác không mua phải những sản phẩm kém chất lượng như thế nữa?

 

Tôi có thể kiện nhà sản xuất ra tòa để đòi bồi thường được không?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:  Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.

 

Quyền của người tiêu dùng (quy định tại Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng):

 

1. Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

 

2. Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.

 

3. Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

 

4. Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

 

5. Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

 

6. Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

 

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

 

8. Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.

 

Theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, bà phát hiện sản phẩm không đảm bảo chất lượng thì cần thông báo cho nhà sản xuất để họ có biện pháp giải quyết kịp thời nhằm đảm bảo sức khỏe cũng như quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.

 

Trong trường hợp bà đã thông báo nhưng họ không hợp tác và hành vi của họ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng thì bà có thể tự mình hoặc đề nghị tổ chức xã hội yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết. Khi thông báo sự việc đến cơ quan có thẩm quyền, bà còn có nghĩa vụ cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (quy định tại Điều 25 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng).

 

Về quyền khởi kiện của người tiêu dùng

 

Quyền khởi kiện của người tiêu dùng được quy định tại khoản 7, Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể sử dụng một trong 4 hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ như thương lượng; hòa giải; trọng tài; tòa án. Tuy nhiên, Luật cũng quy định không được thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng.

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, người tiêu dùng có nghĩa vụ “thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan” được biết.

 

Tuy nhiên, cần lưu ý việc “thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan” không đồng nghĩa với việc lợi dụng sản phẩm không đảm bảo an toàn để có hành vi trục lợi, đe dọa, tống tiền.

 

Câu 2: Anh Hoàng Thế Trung trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi vi phạm Luật giao thông đường bộ và bị tạm giữ xe máy. Khi tạm giữ xe máy của tôi tại trụ sở Công an xe của tôi bị vỡ đèn xe và yếm, cho hỏi Tôi có được bồi thường thiệt hại không?

 

Trả lời:

 

Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 7 ngày trước khi ra quyết định xử phạt với những hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 75 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

 

Theo quy định tại khoản 5 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ; tịch thu theo thủ tục hành chính: Người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu. Trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định tạm giữ, tịch thu về việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện.

 

Theo Điều 10 Nghị định 115/2013/NĐ-CP, cơ quan, tổ chức, cá nhân có tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu có các quyền sau:

 

1. Khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

 

2. Kiểm tra trước khi nhận lại tang vật, phương tiện khi hết thời hạn bị tạm giữ.

 

3. Yêu cầu cán bộ quản lý lập biên bản về việc tài sản trong thời gian tạm giữ bị mất, đánh tráo, hư hỏng, thiếu hụt và yêu cầu cơ quan quản lý tang vật, phương tiện bồi thường theo quy định của pháp luật.

 

Với các quy định nêu trên, khi phát hiện phương tiện bị tạm giữ của mình bị hư hỏng, ông có quyền yêu cầu lập biên bản và yêu cầu được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1. Ông Trần Văn Mạnh trú tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Cháu tôi bị bắt vì tội trộm cắp tài sản nhưng cháu chưa đủ 16 tuổi nên bố cháu là người đại diện trong quá trình giải quyết vụ án. Do không hiểu biết nên gia đình đã không mời người bào chữa và cơ quan công an chỉ định người bào chữa cho cháu tôi. Tuy nhiên, hiện nay vụ án đang chuẩn bị xét xử gia đình muốn thay đổi người bào chữa cho cháu có được không ?

 

Trả lời:

 

Điều 57 Luật Tố tụng hình sự quy định:

 

1. Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn.

 

2. Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:

 

a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;

 

b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

 

Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

Do đó, trường hợp bị can chưa thành niên, người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự của bị can không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ. Tuy nhiên, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

 

Về việc thay đổi người bào chữa:

 

Tại điểm c, mục 3, phần II Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định như sau:

 

-        

Trước khi mở phiên tòa, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn bản, trong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa. Trường hợp họ trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản ghi rõ lý do của yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa và người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản. Văn bản về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa phải được lưu vào hồ sơ vụ án.

 

Về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa được giải quyết như sau:

 

-        

Trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 56 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hướng dẫn tại mục 1 Phần II của Nghị quyết này để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Nếu không chấp nhận thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết trong đó cần nêu rõ căn cứ của việc không chấp nhận. Nếu chấp nhận thì yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người khác bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tồ chức mình.

 

Câu 2. Ông Hứa Văn Hải trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Con tôi là sinh viên đại học năm thứ nhất (hệ chính quy) và là con trai duy nhất trong nhà, xin hỏi theo quy định mới hiện nay, con tôi có được hoãn tham gia nghĩa vụ quân sự không?

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 3 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 (có hiệu lực ngày 1/1/2016) quy định: “Đăng ký nghĩa vụ quân sự là việc lập hồ sơ về nghĩa vụ quân sự của công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

 

Theo Điều 12 Luật này, đối tượng đăng ký nghĩa vụ quân sự bao gồm:

 

- Công dân nam đủ 17 tuổi trở lên.

 

- Công dân nữ trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có ngành, nghề chuyên môn phù hợp yêu cầu của Quân đội nhân dân.

 

Điều 14 quy định: “Người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh tâm thần hoặc bệnh mãn tính theo quy định của pháp luật” thuộc đối tượng được miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự.

 

Độ tuổi gọi nhập ngũ:

 

Được quy định tại Điều 30, cụ thể như sau:

 

Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; công dân được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

 

Tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ: (Được quy định tại Điều 41)

 

"1. Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

 

a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe;

 

b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận;

 

c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

 

d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

 

đ) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định;

 

e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

 

g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

 

2. Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

 

a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một;

 

b) Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ;

 

c) Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên;

 

d) Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân;

 

đ) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

 

3. Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

 

Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ.

 

4. Danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày”.

 

Theo các quy định nói trên, nếu con ông đang là sinh viên đại học năm thứ nhất (hệ chính quy) thì thuộc đối tượng được tạm hoãn gọi nhập ngũ. Sau khi tốt nghiệp đại học, tùy theo tình hình thực tế tại thời điểm đó, con ông có thể được gọi nhập ngũ.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5 tháng 1 năm 2016

 

Câu 1. Ông Hoàng Quốc Biên trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất cắp một chiếc máy tính. Công an đã thu hồi lại máy và đang làm hồ sơ xử lí. Hiện tại tôi đang có nhu cầu sử dụng máy tính, vậy tôi phải chờ bao lâu mới được trả lại? Tôi phải làm thủ tục gì ?

 

Trả lời:

Trong trường hợp này ông là người bị hại trong vụ việc. Nếu vụ việc được khởi tố vụ án hình sự khi đó ông sẽ tham gia vụ án với tư cách là người bị hại theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”.

Cũng theo quy định tại Điều 74, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 thì "Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội". Trong trường hợp này, máy tính là vật mang dấu vết phạm tội, là đối tượng của tội phạm có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội nên cơ quan điều tra giữ máy tính của ông để phục vụ việc điều tra.

Về thời gian tạm giữ tài sản:

Tại khoản 3, Điều 76, Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: "Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.", do đó thời gian tạm giữ máy tính của ông sẽ do cơ quan điều tra xem xét và quyết định mà không có quy định cụ thể nào về thời gian tạm giữ tang vật trong các giai đoạn tố tụng.

Để có thể lấy lại tài sản, ông nên liên hệ trực tiếp với cơ quan công an để biết lý do giữ tài sản, ông làm đơn gửi cơ quan công an đề nghị trả lại tài sản cho ông; cơ quan công an sẽ xem xét và trả lại tài sản cho ông (nếu xét thấy không ảnh hưởng tới việc xử lý vụ án).

 

Câu 2. Ông Vy Văn Thủy trú tại xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng hỏi: Anh tôi đang bị tạm giam về hành vi vô ý làm chết người thì thời hạn bị tạm giam khoảng bao nhiêu tháng? Khi đưa ra xét xử Tòa án có báo gia đình để biết ngày xét xử không ?

 

Trả lời:

Thứ nhất, về thời gian tạm giam:

Theo thông tin ông cung cấp thì anh của ông bị tạm giam với tội vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 1 điều 98 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “ Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự:

"3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình".

Như vậy đây là tội phạm nghiêm trọng nên theo quy định tại khoản 1, 2 điều 120 Bộ luật Tố tụng hình sự thì thời hạn tạm giam để điều tra đối với trường hợp anh của ông được xác định như sau:

Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

“1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.”

Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra đối với trường hợp của anh của ông là không quá ba tháng, trường hợp cần thiết được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng, lần thứ hai không quá một tháng.

 

Thứ hai, về Thông báo xét xử: 

Khoản 1 Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về việc giao các quyết định của Toà án như sau: “Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên toà.

Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo”.

Như vậy, trước ngày mở phiên tòa ít nhất mười ngày, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho anh của ông sẽ nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử.

 

 Câu 3. Ông Nguyễn Mạnh Thắng trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi đi xe máy vi phạm quy định bị CSGT giữ Giấy phép lái xe, lập biên bản xử phạt, tuy nhiên, tôi đã làm mất biên bản vi phạm hành chính. Đề nghị cho biết, tôi phải làm thế nào để nộp phạt và xin lại giấy phép lái xe?

 

Trả lời:

Điều 57 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục. Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Tại khoản 3, Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.

Trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.

Như vậy, khi lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính, biên bản này được lập thành ít nhất 02 bản, giao cho cá nhân vi phạm hành chính 01 bản và 01 bản sẽ được cơ quan có thẩm quyền lưu trữ. Ông tới nộp phạt kèm theo giấy tờ trình bày về việc mất biên bản thì có thể tiến hành nộp phạt và nhận lại giấy tờ xe.


 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 12 năm 2015

 
 

Câu 1. Anh Nguyễn Mạnh Cường trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thủ tục cấp bằng lái xe quốc tế như thế nào và tôi được sử dụng ở những đâu?

 

Trả lời:

Theo khoản 1, 2, Điều 3 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải ngày 06/7/2015 quy định về cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế:

1. Giấy phép lái xe quốc tế là giấy phép lái xe do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước (bao gồm cả khu vực hành chính) tham gia Công ước Viên cấp theo một mẫu thống nhất.

2. Giấy phép lái xe quốc tế có tên tiếng Anh là International Driving Permit, sau đây gọi tt là IDP".

Đối tượng được cấp giấy phép lái xe quốc tế theo quy định tại Điều 6 Thông tư này bao gồm: “Người Việt Nam, người nước ngoài có thẻ thường trú tại Việt Nam, có giấy phép lái xe quốc gia do Việt Nam cấp bằng vật liệu PET, còn giá trị sử dụng”.

Thủ tục cấp giấy phép lái xe quốc tế được quy định tại Điều 8 của Thông tư này như sau:

"1. Cá nhân nộp đơn đề nghị cấp IDP theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này. Khi nộp đơn phải xuất trình bản chính giấy phép lái xe quốc gia do Việt Nam cấp, hộ chiếu, thẻ thường trú (đối với người nước ngoài) còn giá trị để kiểm tra, đối chiếu.

2. Trình tự cấp IDP

a) Cá nhân nộp đơn đề nghị cấp IDP theo quy định tại khoản 1 Điều này trực tiếp tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải để thực hiện kiểm tra tính chính xác và hợp pháp của việc cấp IDP. Trường hợp đơn đề nghị không đúng theo quy định thì hướng dẫn thực hiện ngay khi tiếp nhận;

b) Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị cấp IDP, Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải thực hiện việc cấp IDP cho cá nhân; trường hợp không cấp IDP thì phải trả lời và nêu rõ lý do.

3. Trường hợp IDP bị mất hoặc hư hỏng, cá nhân lập đơn đề nghị cấp lại theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Không cấp IDP đối với các trường hợp sau đây:

a) Giấy phép lái xe quốc gia bị tẩy xóa, hư hỏng không còn đủ các thông tin cần thiết hoặc có sự khác biệt về nhận dạng;

b) Giấy phép lái xe quốc gia không do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định.

5. Trường hợp phát hiện cá nhân có hành vi gian dối để được cấp IDP, tẩy xóa hoặc làm sai lệch thông tin trên IDP được cấp, ngoài việc bị cơ quan cấp IDP ra quyết định thu hồi IDP, cá nhân đó còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và không được cấp IDP trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bị phát hiện hành vi vi phạm".

Việc sử dụng giấy phép lái xe quốc tế tại Việt Nam:

Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT ngày 06/7/2015: “Người có IDP do Việt Nam cấp khi điều khiển phương tiện cơ giới tham gia giao thông trên lãnh thổ nước tham gia Công ước Viên phải mang theo IDP và giấy phép lái xe quốc gia; tuân thủ pháp luật giao thông đường bộ của nước sở tại. IDP do Việt Nam cấp không có giá trị sử dụng trong lãnh thổ Việt Nam".

Như vậy, kể từ ngày 01/10/2015 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT quy định về việc cấp, sử dụng giấy phép lái xe quốc tế chính thức có hiệu lực, người có nhu cầu nộp hồ sơ trực tiếp tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoặc Sở Giao thông vận tải để được giải quyết. Tuy nhiên, cần lưu ý IDP do Việt Nam cấp không có giá trị sử dụng trong lãnh thổ Việt Nam; do đó, IDP không có giá trị thay thế giấy phép lái xe quốc gia.

 

Câu 2. Ông Lê Văn Hùng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thẻ căn cước công dân được cấp như thế nào từ năm 2016?

 

Trả lời:

Theo Luật Căn cước công dân có hiệu lực từ 01/01/2016, Công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên sẽ được cấp thẻ Căn cước công dân.

Giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân (Quy định tại Điều 20 Luật Căn cước công dân):

"1. Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin quy định tại Điều 18 của Luật này; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ Căn cước công dân để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

4. Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định của pháp luật".

Thẻ căn cước công dân gồm 2 mặt: Mặt trước thẻ có hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc; dòng chữ “Căn cước công dân”; ảnh, số thẻ Căn cước công dân, họ, chữ đệm và tên khai sinh, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, nơi thường trú; ngày, tháng, năm hết hạn;

Mặt sau thẻ có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa; vân tay, đặc điểm nhân dạng của người được cấp thẻ; ngày, tháng, năm cấp thẻ; họ, chữ đệm và tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ và dấu có hình Quốc huy của cơ quan cấp thẻ.

Số thẻ căn cước công dân là số định danh cá nhân của từng người. Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ và được đổi khi đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

Công dân có thể lựa chọn một trong các nơi sau đây để làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân:

1. Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của Bộ Công an;

2. Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

3. Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị hành chính tương đương;

Luật cũng quy định về Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp:

"1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016

2. Chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ Căn cước công dân.

3. Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân vẫn nguyên hiệu lực pháp luật.

Các loại biểu mẫu đã phát hành có quy định sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2019.

4. Địa phương chưa có điều kiện về cơ sở hạ tầng thông tin, vật chất, kỹ thuật và người quản lý căn cước công dân, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu căn cước công dân để triển khai thi hành theo Luật này thì công tác quản lý công dân vẫn thực hiện theo các quy định của pháp luật trước ngày Luật này có hiệu lực; chậm nhất từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 phải thực hiện thống nhất theo quy định của Luật này".

 

 
 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 12 năm 2015

 

Câu1. Ông Hoàng Văn Trung trú tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia hỏi: Tôi có người thân đang thụ án tại Trại giam, cho tôi hỏi các quy định của pháp luật về đặc xá hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

 

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.

 

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 76/2008/NĐ-CP ngày 04/7/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đặc xá:

 

1. Nhân dịp sự kiện trọng đại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội có ý nghĩa lớn về đối nội, đối ngoại đối với sự phát triển của đất nước; ngày lễ Quốc khánh 2/9 hoặc các ngày lễ khác gắn với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước; xét thấy cần thiết, Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định về đặc xá.

 

2. Khi Chủ tịch nước có yêu cầu về đặc xá hoặc đề nghị của Chính phủ về đặc xá được Chủ tịch nước chấp nhận, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức liên quan giúp Chính phủ nghiên cứu, xây dựng tờ trình của Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, ban hành Quyết định về đặc xá và Quyết định thành lập Hội đồng Tư vấn đặc xá.

 

3. Tờ trình của Chính phủ phải nêu rõ sự cần thiết của việc đặc xá, dự kiến thời điểm đặc xá, đối tượng được đề nghị đặc xá, điều kiện của người được đề nghị đặc xá, các trường hợp không đề nghị đặc xá; thành phần Hội đồng Tư vấn đặc xá; tổ chức thực hiện đặc xá và những nội dung khác liên quan đến hoạt động đặc xá.”

 

Điều 10 Luật Đặc xá 2007 có quy định về điều kiện được đề nghị đặc xá như sau:

 

1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

b) Đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân;

 

c) Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.

 

 2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành hình phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 

a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;

 

b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;

 

c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

d) Khi phạm tội là người chưa thành niên;

 

đ) Là người từ 70 tuổi trở lên;

 

e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;

 

g) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

 

3. Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc áp dụng điều kiện của người được đề nghị đặc xá theo Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước.

 

Đồng thời Điều 11 Luật Đặc xá 2007 có quy định về Các trường hợp không đề nghị đặc xá:

 

Người có đủ điều kiện quy định tại Điều 10 của Luật này không được đề nghị đặc xá trong các trường hợp sau đây:

 

1. Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

 

2. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác;

 

3. Trước đó đã được đặc xá;

 

4. Có từ hai tiền án trở lên;

 

5. Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.

 

Sau khi có Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, thống nhất với Bộ Quốc phòng, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan, tổ chức liên quan giúp Chính phủ tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Hà trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hai mẹ con tôi đang cư trú tại Lạng Sơn. Mẹ tôi có nhà đất ở Bắc Ninh. Nay mẹ tôi có thể lập và yêu cầu công chứng di chúc tài sản là nhà đất ở Bắc Ninh tại  phòng công chứng số 1 tỉnh Lạng Sơn được không?

 

Trả lời:

 

Điều 42 Luật Công chứng quy định Phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản như sau:

 

Công chứng viên của tổ chức hành, nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản.

 

Như vậy, mẹ của bà có thể yêu cầu công chứng di chúc liên quan đến nhà đất ở Bắc Ninh tại bất kỳ tổ chức công chứng nào trong cả nước, trong đó có các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 12 năm 2015

 

Câu 1. Bà Nguyễn Thị Vân Anh trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: pháp luật quy định như thế nào về bồi thường oan sai trong hoạt động tố tụng hình sự?

 

Trả lời:

 

Đề giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể như sau:

 

Điều 26. Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

 

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

 

1. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

 

2. Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

 

3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

 

4. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

 

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

 

6. Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

 

7. Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường.

 

Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 27):

 

1. Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

2. Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm.

 

3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này.

 

4. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm.

 

5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Tại Điều 34 quy định  về hồ sơ yêu cầu bồi thường tại cơ quan tiến hành tố tụng hình sự

 

1. Khi nhận được bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định sau đây:

 

a) Người bị thiệt hại do quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 30 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can;

 

b) Người bị thiệt hại do quyết định của Viện kiểm sát quy định tại Điều 31 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Viện kiểm sát đã ra quyết định đó;

 

c) Người bị thiệt hại do bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 32 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án đã ra bản án, quyết định đó.

 

2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự quy định tại khoản 1 Điều này có các nội dung chính sau đây:

 

a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;

 

b) Lý do yêu cầu bồi thường;

 

c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.

 

3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có bản án, quyết định xác định người đó thuộc một trong các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.

 

Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận, nếu có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện theo quy định của luật tố tụng dân sự.

 

Câu 2: Bà Hoàng Thị Minh trú tại xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc hỏi: Con tôi đang chấp hành án tại Trại giam, cho tôi hỏi Chế độ thăm gặp thân nhân của phạm nhân được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

 Chế độ thăm gặp thân nhân của phạm nhân được quy định tại Điều 3 Thông tư 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 của Bộ Công an, cụ thể như sau:

 

1. Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng (trừ trường hợp vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật), mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện) cho phép kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng trong nhà thăm gặp không quá 24 giờ.

 

2. Phạm nhân là người chưa thành niên được gặp thân nhân không quá 03 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 03 giờ; nếu chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 24 giờ.

 

3. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức cho phạm nhân được gặp thân nhân theo chế độ gặp vào tất cả các ngày trong tuần, ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo quy định. Thời gian thăm gặp trong ngày buổi sáng từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ 30 phút.

 

Thông tư cũng quy định về đối tượng được thăm gặp phạm nhân tại Điều 4 như sau:

 

1. Những người là thân nhân phạm nhân được thăm gặp phạm nhân gồm: ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột.

 

2. Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị thăm gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết nếu xét thấy phù hợp với lợi ích chính đáng của phạm nhân và yêu cầu của công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.

 

 

Khi gặp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền mặt, đồ vật (trừ đồ vật thuộc danh mục cấm đưa vào trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) và được sử dụng theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án hình sự và quy định tại Thông tư này.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 08 tháng 12 năm 2015

 

Câu 1. Ông Lê Văn Hòa trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Gia đình tôi có 3 anh chị em. Bố mẹ tôi mất năm 2002 để lại một căn nhà trên đất khoảng 500m2 cho 3 anh chị em tôi, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ tôi . Đến nay chị gái tôi đã đi lấy chồng, 2 anh em tôi cũng đã lấy vợ và lập gia đình riêng. Chúng tôi muốn chia di sản bố mẹ nhưng không thỏa thuận với nhau được, mà thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết. Vậy chúng tôi phải làm thế nào?

Trả lời:

Ðiều 645 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Như vậy, với trường hợp của ông thì Bố mẹ ông mất từ năm 2002, như vậy đến nay là đã hết thời hiệu khởi kiện. Có nghĩa là không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác;

Tuy nhiên, để giải quyết những vướng mắc về thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 và hướng dẫn như sau:

"Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Đối chiếu với quy định nêu trên thì nếu các đồng thừa kế gửi đơn khởi kiện đến tòa án mà nội dung khởi kiện là khởi kiện về thừa kế (như chia di sản thừa kế, xác định quyền thừa kế …) thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện do đã hết thời hiệu khởi kiện.

Do vậy, khi làm đơn khởi kiện ông cần ghi nội dung khởi kiện là yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung của các đồng thừa kế thì tòa án sẽ thụ lý đơn; trong trường hợp này, tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Hợp trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hai vợ chống bà có một căn nhà trên mảnh đất 300 m2. Cách đây 02 năm, chồng của bà chết không để lại di chúc. Vợ chồng bà chỉ có 1 con gái duy nhất và bố mẹ chồng vẫn còn sống ở quê. Hiện nay bên nhà chồng đòi chia di sản thừa kế, trường hợp này phân chia di sản như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết:

"2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự".

Theo Điều 675 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế mất mà không để lại di chúc, việc chia di sản cho những người thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định về những người được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật như sau:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau".

Theo các quy định trên thì Tài sản chung của vợ chồng bà sẽ được chia đôi, bà hưởng một nửa, một nửa còn lại là di sản của chồng. Gia đình chồng muốn chia tài sản thừa kế thì pháp luật quy định trường hợp này chia thừa kế theo pháp luật (do chồng của bà chết không để lại di chúc) quy định tại Điều 675 của Bộ luật Dân sự 2005.

Trong trường hợp này, những người thừa kế sẽ bao gồm:

- Bố chồng; mẹ chồng; bà, con gái của bà. (Mỗi người được nhận 1/4 đi sản thừa kế của chồng bà để lại).

Tuy nhiên trong trường hợp mà việc chia di sản (ở đây là mảnh đất và căn nhà) ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bà và gia đình thì bà có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Toà án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế. (Theo quy định tại Điều 686 Bộ luật Dân sự).

 

 


 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 01 tháng 12 năm 2015

 

Câu 1. Ông Lê Mạnh Hùng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bán 1 mảnh đất, có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên mua. Hợp đồng đã được công chứng nhưng chưa làm thủ tục đăng ký sang tên. Hiện tôi không muốn bán đất nữa có được không?

 

Trả lời:

 

Sau khi đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ toàn bộ nội dung hợp đồng, theo các nguyên tắc quy định tại Điều 412 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp sau khi đã công chứng hợp đồng nhưng chưa đăng ký sang tên quyền sử dụng đất, nếu ông (với tư cách là bên chuyển nhượng) không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa thì ông phải trao đổi, thỏa thuận lại với bên nhận chuyển nhượng.

 

Trường hợp thứ nhất: Bên nhận chuyển nhượng đồng ý hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đã giao kết: Nếu các bên thống nhất hủy bỏ giao dịch thì hai bên tiến hành công chứng việc hủy bỏ hợp đồng. Thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 51 Luật công chứng, cụ thể như sau:

 

- Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó.

 

- Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.

 

- Thủ tục công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương này.

Như vậy, nếu ông không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nữa thì ông và bên nhận chuyển nhượng phải tới tổ chức hành nghề công chứng (nơi đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng) để hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đã ký.

 

Trường hợp thứ hai: Bên nhận chuyển nhượng không đồng ý hủy bỏ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên không thống nhất được việc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết:

 

Như trên đã nêu, sau khi đã giao kết hợp đồng, các bên đều có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ toàn bộ các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hơn nữa, Điều 5 Luật công chứng đã quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”.

 

Do đó, ông và bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ thi hành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng; trong trường hợp ông không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đó thì bên nhận chuyển nhượng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

Tuy nhiên, cũng theo quy định nêu trên, hợp đồng công chứng có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu khi có đầy đủ các căn cứ quy định của pháp luật. Căn cứ để tòa án tuyên bố hợp hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Bộ luật Dân sự, gồm các trường hợp như sau:

 

- Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu (Điều 127 Bộ luật Dân sự).

 

Điều 122 Bộ luật Dân sự quy định:

 

+ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

 

+ Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

 

+ Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

 

+ Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 128 Bộ luật Dân sự).

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129 Bộ luật Dân sự).

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130 Bộ luật Dân sự).

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131 Bộ luật Dân sự)

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132 Bộ luật Dân sự)

 

-Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133 Bộ luật Dân sự)

 

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134 Bộ luật Dân sự)

 

Vậy, nếu vi phạm một trong một các quy định nêu trên thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể bị tòa án tuyên bố là vô hiệu. Nếu có căn cứ cho rằng hợp đồng giữa ông và bên nhận chuyển nhượng vi phạm các quy định đó thì ông có thể gửi đơn khởi kiện để tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

 

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự:

 

- Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

 

- Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

 

Câu 2. Ông Hoàng Việt Dũng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Anh trai tôi đang chấp hành án treo về tội trộm cắp tài sản, với thời gian thử thách là 24 tháng, còn 4 tháng nữa là kết thúc thì anh trai tôi đánh nhau với người khác và bị khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích. Với hành vi như vậy, anh trai tôi sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự, đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

 

Điều 6 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 14/10/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể quy định trên như sau:

 

Trường hợp người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật hình sự; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian họ đã bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm bị đưa ra xét xử lần này cũng như thời gian tạm giam, tạm giữ về tội phạm đã bị xét xử ở bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

 

Tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự quy định: Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.

 

 

Như vậy, đối với trường hợp anh của ông là người đang trong thời gian thử thách, được hưởng án treo, nay lại bị khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích thì khi hành vi này được kết án bằng một bản án của Tòa án thì Tòa án quyết định anh của ông phải chấp hành hình phạt tổng hợp của tội trộm cắp tài sản mà anh của ông đã thực hiện trước đó cộng với hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích và không cho phép anh của ông được tiếp tục hưởng án treo.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 24 tháng 11 năm 2015

 

Câu1. Chị Lê Thị Thắm trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Tôi muốn nhận cháu gái con Chị gái tôi năm nay 8 tuổi làm con nuôi. Vậy xin hỏi điều kiện và thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định pháp luật hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 8 và Điều 14 Luật Nuôi con nuôi quy định như sau:

 

Người được nhận làm con nuôi đáp ứng các điều kiện sau:

 

- Trẻ em dưới 16 tuổi

 

- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

 

- Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

 

-                    

Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.

 

Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

 

- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

 

- Có tư cách đạo đức tốt.

 

Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định “Hơn con nuôi 20 tuổi trở lên” và  “Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”.

 

Những người sau đây không được nhận con nuôi:

 

- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

 

- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

 

- Đang chấp hành hình phạt tù;

 

-        

Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

Thủ tục, hồ sơ nhận nuôi con nuôi như sau:

 

Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm:

 

- Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định).

 

- Bản sao Hộ chiếu, Giấy CMND hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

 

- Phiếu lý lịch tư pháp.

 

- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;