Sử dụng đèn chiếu sáng không hợp lý: Tiềm ẩn mất an toàn giao thông

Hiện nay, nhiều tài xế, chủ xe bật đèn chiếu sáng không đúng quy định, thậm chí lắp thêm đèn led siêu sáng cho xe để tăng tầm nhìn khi di chuyển vào ban đêm. Tuy nhiên, việc sử dụng đèn far, đèn led siêu sáng khi di chuyển ban đêm khiến những xe đi ngược chiều không thể quan sát phía trước, gây chói mắt, tiềm ẩn gây tai nạn giao thông.

Bật đèn chiếu gần, chiếu xa (hay còn gọi là đèn cos –đèn far), lắp thêm đèn led giúp người điều khiển phương tiện quan sát tốt hơn khi di chuyển vào buổi tối. Tuy nhiên, hành vi bật đèn far lại được không ít lái xe thực hiện khá tùy tiện khi điều khiển phương tiện cơ giới, hành vi này thậm chí còn được thực hiện phổ biến trong khu vực đô thị, khu vực đông dân cư. Điều này khiến người đi ngược chiều rất khó chịu vì bị lóa mắt, khiến họ có thể bị lạc tay lái, mất phương hướng, dẫn đến bị ngã xe hoặc va chạm với người tham gia giao thông khác.

Anh Lê Văn Kiên, lái xe khách tuyến Hà Nội – Lạng Sơn chia sẻ: Tôi hoạt động vận tải lái xe khách đã lâu, thường xuyên chở khách về ban đêm trên các tuyến quốc lộ   đường liên tỉnh, liên huyện…  mỗi khi đi đường mà gặp phải những xe có tài xế cố tình bật đèn chiếu xa hay gắn thêm đèn led thì cảm giác rất khó chịu. Gặp trường hợp này thì cách tốt nhất là tài xế nên giảm tốc độ và đi sát vào phần đường bởi nếu không rất dễ rơi vào tình trạng mù tạm thời vì lóa mắt, tai nạn có thể xảy ra. Tôi mong lực lượng chức năng xử lý mạnh tay các trường hợp sử dụng đèn không đúng quy định để bảo đảm an toàn cho người tham gia giao thông.

Cán bộ Công ty Cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn kiểm tra độ chiếu sáng của đèn xe ôtô đến đăng kiểm

Theo quy định hiện hành, những phương tiện lắp thêm đèn không đúng thiết kế của nhà sản xuất sẽ bị từ chối đăng kiểm. Ông Triệu Hoàng Sơn, đăng kiểm viên Công ty Cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn cho biết: “Thời gian qua, trung tâm đã phát hiện nhiều xe lắp thêm đèn led, “độ” đèn sai quy định. Với những phương tiện như vậy, chúng tôi cương quyết từ chối đăng kiểm. Tuy nhiên, để “lách” luật, các chủ phương tiện tháo đèn led khi mang xe đi đăng kiểm liền, sau khi qua “chốt” đăng kiểm thì về lắp lại nên chúng tôi không thể làm gì hơn”.

Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, trung tá Hoàng Tuấn Hưng, Phó Đội trưởng Đội tuyên truyền và xử lý, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh cho biết: Theo quy định tại Điều 5 và Điều 6, Nghị định 46/2016 NĐ/CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, việc sử dụng đèn chiếu xa trong khu đông dân cư có thể bị xử phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với ô tô; từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với mô tô, xe máy.

Lực lượng chức năng khuyến cáo lái xe cần chú ý chỉ sử dụng đèn pha khi thật cần thiết trong quá trình lưu thông trên quốc lộ hay cao tốc. Nếu thấy có phương tiện ngược chiều, lái xe phải ngay lập tức chuyển sang chế độ đèn chiếu gần để tránh gây lóa mắt, khó chịu cho người đi đường, giảm thiểu hậu quả đáng tiếc xảy ra do tai nạn.

Theo báo cáo của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh từ đầu năm 2019 đến nay, lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh đã phát hiện trên 6 nghìn trường hợp (cả lái xe ôtô, môtô các loại) vi phạm về đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu; gần 400 trường hợp vi phạm về tự ý thay đổi kết cấu xe… Qua đó cho thấy tình trạng tài xế vi phạm quy định về đèn chiếu sáng khá phổ biến.

Để đảm bảo an toàn cho bản thân và người đi đường, các chủ phương tiện cần ý thức khi lắp đặt, sử dụng các loại đèn far, đèn led; nếu thay thế đèn xe phải dùng loại đèn có ánh sáng không phát tán nhiều chiều và có công suất phù hợp với thông số của xe. Quan trọng hơn mỗi người khi tham gia giao thông ban đêm nên chuyển đèn cos – far đúng lúc, đúng chỗ sẽ không ảnh hưởng đến những người xung quanh, đồng thời thể hiện văn hóa giao thông nơi công cộng.

Theo baolangson.vn
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình Ca nhac phát thanh tiếng Kinh ngày 17/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/CA NHAC KINH 17-11.mp3
Chương trình Ca nhac phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 17/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/CA NHAC TAY 17-11-2019.mp3
Chương trình Ca nhac phát thanh tiếng Dao ngày 17/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/CA NHAC DAO 17-11.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 16/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/KINH 16-11.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 16/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/CT TAY 16-11-2019.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 16/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/CT DAO 16-11-2019.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 15/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/CT KINH 15-11.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 15/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/TAY 15-11.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 15/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/DAO 15-11.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 14/11/2019
sites/default/files/audio/2019/11/KINH 14-11.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 18/11/2019

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

6h02’: Bản tin sáng ngày 18/11/2019

 

6h07’: Bản tin Quốc tế sáng ngày 18/11/2019

  

6h13’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 154

  

6h16’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 153

  

6h20’: Điểm báo Lạng Sơn   Số 46

  

6h25’: Sitcom 5s  Tập 19 – Phần 2

 

6h43’: Chuyên mục  Cải cách thủ tục hành chính

  

6h51’: Chuyên mục  Thi đua yêu nước

  

6h56’: Ký sự  Mê Kông ký sự - Tập 37/50

  

7h17’: Phim hoạt hình  Tập 264

  

7h26’: Chuyên mục  Vì an ninh Xứ Lạng

  

7h41’: Chuyên mục  Nông nghiệp – Nông thôn Lạng Sơn

  

7h48’: Vui khỏe mỗi ngày  Tập 37

  

7h58’: Phim khoa giáo  Vùng châu thổ Okavango– Tập 1

  

8h22’: Chuyện thật như đùa  Số 100

  

8h32’: Văn hóa dân tộc   Số 6

 

9h00’: Bản tin sáng ngày 18/11/2019

 

9h05’: Bản tin Quốc tế sáng ngày 18/11/2019

 

9h10’: Bản tin tiếng Trung ngày 18/11/2019

 

9h24’: Chương trình truyền hình tiếng Tày ngày 17/11/2019

 

10h00’: Thời sự tổng hợp ngày ngày 17/11/2019

  

10h30’: Chuyên mục  Dân số và Phát triển

  

10h38’: Chuyên mục  Pháp luật với cuộc sống

  

10h45’: Chuyên mục  Xây dựng nông thôn mới

  

10h57’: Phim truyện  Cô vợ bất đắc dĩ - Tập 3/42 - Phim TQ

 

11h45’: Bản tin trưa ngày 18/11/2019

 

12h00’: Tiếp sóng VTV1

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 18/11/2019

  

15h19’: Phim truyện  Thanh xuân năm ấy chúng ta gặp nhau – Tập 38/39 Phim TQ

  

16h10’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 154

  

16h14’: Điểm báo Lạng Sơn  Số 46

  

16h20’: Sitcom 5s  Tập 19 - Phần 2

  

16h36’: Chuyên mục  Điểm tin trong tuần

  

16h44’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 18/11/2019

  

17h14’: Đất và người Xứ Lạng  Số 27

 

17h30’: Bản tin tiếng Trung ngày 18/11/2019

  

17h46’: Phim hoạt hình  Tập 265

  

17h56’: Mỗi ngày một cuốn sách  Tập 153

  

18h05’: Phim truyện  Sương khói đồng hoang - Tập 28/39 Phim VN

  

18h49’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h49': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 18/11/2019

 

20h26’: Bản tin thể thao ngày 18/11/2019

  

20h26’: Phóng sự  Hữu Lũng xây dựng nhãn hiệu tập thể cho măng bát độ

  

20h31’: Phim tài liệu  70 năm trường Hoàng Văn Thụ

  

20h55’: Chuyên mục  Vấn đề hôm nay

  

21h00’: Chuyên mục  Điện lực Lạng Sơn vì niềm tin của bạn

  

21h13’: Phim truyện  Cô vợ bất đắc dĩ – Tập 4/42 Phim TQ

  

21h59’: Cuộc sống quanh ta  Lợn quay Lạng Sơn

  

22h16’: Chuyên mục  Công nghiệp – Thương mại Xứ Lạng

  

22h24’: Chuyên mục  Người cao tuổi

  

22h31’: Phim truyện  Cuộc chiến rượu vang – Tập 26/42 – Phim TQ

  

23h16’: Sitcom 5s  Tập 20 – Phần 2

  

23h30’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 154

  

23h33’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 153

  

23h36’: Ca nhạc  Bay lên những ước mơ

 

 

  • TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 12 tháng 11 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Văn Nam trú tại Thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Các quy định của pháp luật hiện hành về xét giảm thời gian thử thách của án treo như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước, theo pháp luật hiện hành, người bị kết án phạt tù cho hưởng án treo có thể được Tòa án quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt được quy định tại Điều 63 BLHS, Điều 77 Luật Thi hành án hình sự, Thông tư số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 16/8/2012; người được hưởng án treo có thể được Tòa án rút ngắn thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 BLHS, Điều 66 Luật Thi hành án hình sự, Thông tư số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo.

     

    Các quy định về điều kiện và mức rút ngắn thời gian thử thách của án treo được quy định tại Điều 4 của Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT- BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; điều 8 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo cụ thể:

    Người được hưởng án treo có thể được Tòa án nhân dân cấp huyện quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ điều kiện sau:

    Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo;

     

    Có nhiều tiến bộ, được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người được hưởng án treo; chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế nơi làm việc; tích cực lao động, học tập và sửa chữa lỗi lầm; thực hiện đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ khác theo quyết định của bản án;

     

    Được Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát giáo dục người được hưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản.

     

    Người được hưởng án treo một năm chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ một tháng đến một năm. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư thời gian thử thách Tòa án đã tuyên.

     

    Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ điều kiện nêu trên thì có thể được Tòa án quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

     

    Trường hợp người được hưởng án treo đã được cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo, nhưng không được Tòa án chấp nhận, nếu sau đó có tiến bộ mới thì Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát giáo dục người được hưởng án treo tiếp tục đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho họ.

     

    Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo được quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch số 08, điều 9 nghị quyết số 02 nêu trên cụ thể:

     

    Khi người được hưởng án treo có đủ điều kiện để rút ngắn thời gian thủ thách theo quy định, thì Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức cuộc họp để lập hồ sơ và đề nghị Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án treo cư trú, xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo.

     

    Cuộc họp xét, đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo của Ủy ban nhân dân cấp xã, do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, với thành phần tham gia gồm đại diện lãnh đạo Công an, Mặt trận tổ quốc, Tư pháp cấp xã, người được giao trực tiếp giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

     

    Hồ sơ đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách của Ủy ban nhân dân cấp xã gồm có: Bản sao bản án; Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần thứ hai trở đi thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo; văn bản đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách của Ủy ban nhân dân cấp xã và một số tài liệu khác.

     

    Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách của Ủy ban nhân dân cấp xã, thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Thi hành án hình sự, văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của cơ quan thi hành án và chuyển hồ sơ, văn bản đề nghị cho Tòa án cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú xem xét, quyết định…

     

    Ngoài ra tại Điều 9 của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo có quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo như sau:

     

    Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người chấp hành án treo cư trú, phải thành lập Hội đồng phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách của án treo và phân công Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo.

     

    Câu 2. Bà Tô Thị Mai trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào sẽ bị xử phạt vì quản lý, sử dụng Chứng minh nhân dân và thẻ Căn cước công dân không đúng cách? Mức xử phạt cụ thể cho mỗi trường hợp là bao nhiêu và quy định cụ thể tại văn bản nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình thì các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng Chứng minh nhân dân (CMND) sau được áp dụng xử phạt vi phạm hành chính gồm:

     

    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Không xuất trình CMND khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền;

     

    b) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp mới, cấp lại, đổi CMND;

     

    c) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ CMND khi có yêu cầu của người có thẩm quyền.

     

    2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Sử dụng CMND của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    b) Tẩy xóa, sửa chữa CMND;

     

    c) Thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn CMND để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.

    3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp CMND;

     

    b) Làm giả CMND;

     

    c) Sử dụng CMND giả.

     

    4. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi thế chấp CMND để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.

     

    5. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa CMND; khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp CMND; làm giả CMND; sử dụng CMND giả.

     

    6. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thu hồi CMND đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa CMND.

     

     

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 05 tháng 11 năm 2019

    Câu 1. Ông Hoàng Văn Hảo, trú tại phường Chi Lăng thành phố Lạng Sơn hỏi: Chính sách đối với cán bộ công chức, viên chức công tác ở vùng đặc biệt khó khăn được quy định như thế nào

    Trả lời:

    Theo quy định tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cụ thể:

    Chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và cơ yếu) công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gồm: Phụ cấp thu hút; phụ cấp công tác lâu năm; trợ cấp lần đầu; trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch; trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu; thanh toán tiền tàu xe; trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; phụ cấp ưu đãi theo nghề; phụ cấp lưu động và phụ cấp dạy tiếng dân tộc thiểu số đối với nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục.

    Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm: Huyện đảo Trường Sa, Hoàng Sa, DK1; các xã khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã đảo đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các thôn, buôn, xóm, bản, làng, phum, sóc, ấp... (gọi chung là thôn) đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Đối tượng áp dụng là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến xã, phường, thị trấn và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (bao gồm cả trường hợp điều động, biệt phái, luân chuyển và không phân biệt người địa phương với người nơi khác đến) đã được xếp lương theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định, đang công tác và đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gồm:

    1- Cán bộ, công chức, viên chức (kể cả người tập sự) trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ trung ương đến cấp xã.

    2- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.

    3- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

    4- Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc Công an nhân dân.

    5- Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

    6- Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế trong các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

    Trường hợp nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) thì thôi hưởng chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Nghị định số 76//2019/NĐ-CP kể từ ngày nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn), trừ trường hợp quy định.

    Phụ cấp thu hút, phụ cấp công tác lâu năm

    Đối tượng quy định nêu trên được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) áp dụng đối với thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không quá 5 năm (60 tháng).

    Nghị định cũng quy định phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã  hội đặc biệt khó khăn. Cụ thể, đối tượng quy định nêu trên được hưởng phụ cấp hàng tháng tính theo mức lương cơ sở và thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau: Mức 0,5 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 5 năm đến dưới 10 năm; mức 0,7 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm; mức 1,0 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên.

    Trợ cấp lần đầu, trợ cấp học tập, bồi dưỡng chuyên môn

    Đối tượng nêu trên khi nhận công tác lần đầu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp như sau:

    1- Trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

    2- Trường hợp có gia đình cùng đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì ngoài trợ cấp lần đầu, còn được trợ cấp: Tiền tàu xe, cước hành lý cho các thành viên trong gia đình cùng đi tính theo giá vé, giá cước thực tế của phương tiện giao thông công cộng hoặc thanh toán theo mức khoán trên cơ sở số kilômét đi thực tế nhân với đơn giá phương tiện vận tải công cộng thông thường (tàu, thuyền, xe ô tô khách); trợ cấp 12 tháng lương cơ sở cho hộ gia đình.

    Các khoản trợ cấp quy định nêu trên do cơ quan, tổ chức, đơn vị ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nơi tiếp nhận, bố trí công tác chi trả ngay khi đối tượng được hưởng nhận công tác và chỉ thực hiện một lần trong tổng thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

    Đối tượng quy định nêu trên được hưởng trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ như sau: Trường hợp được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cử đi học bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu học tập và hỗ trợ 100% tiền học phí, chi phí đi lại từ nơi làm việc đến nơi học tập; trường hợp công tác tại vùng dân tộc ít người tự học tiếng dân tộc để phục vụ nhiệm vụ được giao thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu và tiền bồi dưỡng cho việc tự học tiếng dân tộc ít người bằng số tiền hỗ trợ cho việc học tập ở các trường, lớp chính quy.

    Phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp lưu động

    Phụ cấp ưu đãi theo nghề bằng 70% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) áp dụng đối với thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của các đối tượng quy định nêu trên, gồm:

    1- Công chức, viên chức và người lao động là nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp;

    2- Công chức, viên chức và người lao động trực tiếp làm công tác chuyên môn y tế trong các cơ sở y tế của Nhà nước bao gồm: Trạm y tế cấp xã; Trạm y tế cơ quan, trường học; Phòng khám đa khoa khu vực; Nhà hộ sinh, Trung tâm y tế, Bệnh viện và các cơ sở y tế khác từ cấp xã trở lên;

    3- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng, nhân viên quân y trực tiếp làm chuyên môn y tế tại các Trạm y tế kết hợp quân dân y.

    Câu 2. Bà Lê Thị Mai trú tại xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng hỏi: Các trường hợp nào thì được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân?

    Trả lời:

    Căn cứ vào Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế 2014 thì 17 trường hợp nêu sau sẽ được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân.

    Thu nhập được miễn thuế

    1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.

    2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.

    3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.

    4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.

    5. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.

    6. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất.

    7. Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

    8. Thu nhập từ kiều hối.

    9. Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.

    10. Tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả; tiền lương hưu do quỹ hưu trí tự nguyện chi trả hàng tháng.

    11. Thu nhập từ học bổng, bao gồm:

    - Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;

    - Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.

    12. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.

    13. Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận.

    14. Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    15. Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế.

    16. Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ.

    Giảm thuế

    17. Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 29 tháng 10 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Trần Văn Đương trú tại xã Châu Sơn, huyện Đình Lập hỏi: Việc xử lý hình sự đối với tội làm nhục người khác và tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 155 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội làm nhục người khác như sau:

     

    “1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

     

    a) Phạm tội 02 lần trở lên;

     

    b) Đối với 02 người trở lên;

     

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

     

    d) Đối với người đang thi hành công vụ;

     

    đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

     

    e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

     

    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%...”

     

    Theo đó, người phạm tội phải là người có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thỏa mãn thú vui xác thịt…

     

    Để làm nhục, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lột, đấm đá… nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác.

     

    Tuy nhiên, nếu hành vi đó cấu thành một tội riêng thì tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện. Mức độ của các hành vi làm nhục người khác trên phải là xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác, nghĩa là hành vi nêu trên phải gây ra những ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến nhân phẩm, danh dự của người bị hại (như lột trần truồng người bị hại ở chỗ đông người, cạo đầu bôi vôi phụ nữ…) thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

     

    Bên cạnh đó, Điều 157 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật như sau:

     

    “1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

     

    a) Có tổ chức;

     

    b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

     

    c) Đối với người đang thi hành công vụ;

     

    d) Phạm tội 02 lần trở lên;

     

    đ) Đối với 02 người trở lên;

     

    e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

     

    g) Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;

     

    h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%...”

    Theo đó, đối với tội bắt người trái pháp luật: người phạm tội (người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc bắt người khác) có hành vi khống chế người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ. Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói, còng tay… (sau đó thường là người bị hại bị dẫn về nơi nhất định để tạm giữ hoặc tạm giam);

     

    - Đối với tội giữ (tạm giữ) người trái pháp luật: người phạm tội (người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc giữ người khác) có hành vi không cho người bị bắt đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của người phạm tội (như bắt ở trong nhà, bắt ngồi tại chỗ…) trong một thời gian ngắn (thường là dưới 24 giờ).

     

    - Đối với tội giam (tạm giam) người trái pháp luật: người phạm tội (người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc giam người khác) có hành vi nhốt, giam người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định (như nhốt, giam ở trong buồng, trong nhà…).

     

    Ngoài ra, nếu việc bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà có dùng vũ lực dẫn đến gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người bị hại thì người có hành vi nêu trên còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác (nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm).

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Đức Thành trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

          Theo quy định tại Nghị định số 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân trong lĩnh vực hóa chất là 50.000.000 đồng, trong lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp là 100.000.000 đồng. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

     

         Đối với vi phạm quy định về yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa, thiết bị trong sản xuất, kinh doanh hóa chất, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không có bảng hiệu và đèn báo tại lối thoát hiểm của nhà xưởng, kho chứa hóa chất.

     

          - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

     

          + Không có thông tin thể hiện các đặc tính nguy hiểm của hóa chất theo quy định trong biển báo nguy hiểm treo tại nhà xưởng, kho chứa hóa chất;

     

          + Không treo, đặt biển báo các đặc tính nguy hiểm của hóa chất ở nơi dễ thấy trong nhà xưởng, kho chứa hóa chất;

     

          + Không có bảng nội quy về an toàn hóa chất trong nhà xưởng, kho chứa hóa chất;

     

          + Không treo, đặt bảng hướng dẫn cụ thể về quy trình thao tác an toàn ở vị trí dễ thấy, dễ đọc tại khu vực sản xuất có hóa chất nguy hiểm;

     

          + Sử dụng hệ thống chiếu sáng không đảm bảo đúng quy định, yêu cầu trong sản xuất, cất giữ hóa chất;

     

         + Sử dụng hệ thống thông gió tại nhà xưởng, kho chứa hóa chất không đáp ứng một trong các quy chuẩn, tiêu chuẩn về hệ thống thông gió;

     

         + Không có hệ thống thu lôi chống sét cho nhà xưởng, kho chứa hóa chất không nằm trong khu vực được chống sét an toàn;

     

         + Không có rãnh thu gom và thoát nước cho sàn nhà xưởng, kho chứa hoá chất.

     

         - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

     

          + Sử dụng bồn chứa ngoài trời không có đê bao hoặc không có các biện pháp kỹ thuật khác để ngăn chặn hóa chất thoát ra môi trường;

     

         + Không thực hiện kiểm định định kỳ đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình sử dụng.

     

         - Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

     

         + Không duy trì các điều kiện về bảo quản an toàn hóa chất, an toàn phòng, chống cháy nổ tại kho chứa hóa chất đối với hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp;

     

         + Khu vực riêng trong kho hoặc kho riêng để tồn trữ, bảo quản đối với hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp;

     

         + Không chứa hóa chất trong kho để tồn trữ, bảo quản đối với hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp;

     

         + Không duy trì việc tồn trữ, bảo quản hóa chất ở một khu vực riêng trong kho hoặc kho riêng để tồn trữ, bảo quản đối với hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.

     

         - Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

     

         + Không duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn, chất lượng sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận;

     

         + Không thực hiện đầy đủ thử nghiệm, đánh giá vật liệu nổ công nghiệp theo quy định của pháp luật;

     

         + Sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ không đúng chủng loại với giấy chứng nhận đủ điều kiện; không thực hiện việc phân loại, ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.

     

          - Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

     

          + Nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, giao nhiệm vụ;

     

          + Sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ;

     

          + Thay đổi về công nghệ, thiết bị, mặt bằng hoặc nhà xưởng sản xuất vật liệu nổ công nghiệp khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép;

     

          + Không thực hiện thử nghiệm hoặc cố tình làm sai lệch kết quả thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 22 tháng 10 năm 2019

    Câu 1. Ông Sầm Văn Dương, trú tại xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng hỏi: người được phân công tiếp công dân có quyền từ chối tiếp công dân trong những trường hợp nào ?

    Trả lời

    Việc tiếp công dân tại các trụ sở tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương, các bộ, ngành phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm khách quan, đúng pháp luật… Trong Luật Tiếp công dân năm 2013 cũng đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng như xác định các trường hợp cụ thể người tiếp công dân được quyền từ chối tiếp công dân.

     Điều 7, Luật Tiếp công dân quy định về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, như sau:

     1. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các quyền sau đây:

     a) Trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

     b) Được hướng dẫn, giải thích về nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình;

      c) Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiếp công dân;

     d) Nhận thông báo về việc tiếp nhận, kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

     đ) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không sử dụng thông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng người phiên dịch;

     e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

     2. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các nghĩa vụ sau đây:

     a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có);

     b) Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân;

      c) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại;

      d) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân;

      đ) Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

     e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình.

      Tuy nhiên, có những trường hợp cho phép người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân theo Điều 9, Luật Tiếp công dân quy định người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:

     - Người trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

     - Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân;

     - Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài;

    - Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Trần Anh Tấn trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 73 Luật Trẻ em năm 2016 quy định về phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật như sau:

    1. Cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú thực hiện các biện pháp sau đây nhằm chuẩn bị và thúc đẩy việc tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật:

    a) Duy trì mối liên hệ giữa trẻ em với gia đình;

    b) Tổ chức học văn hóa, học nghề, kỹ năng sống cho trẻ em;

    c) Xem xét, đánh giá quá trình chấp hành việc học tập, rèn luyện của trẻ em tại cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng để đề xuất với cơ quan có thẩm quyền giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc chấm dứt biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của pháp luật.

    2. Chậm nhất là 02 tháng trước khi trẻ em chấp hành xong hình phạt tù, 01 tháng trước khi trẻ em chấp hành xong biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ hoặc trường giáo dưỡng nơi trẻ em đang chấp hành hình phạt tù hoặc biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có trách nhiệm thông báo và cung cấp thông tin có liên quan cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em về cư trú để chuẩn bị việc tiếp nhận và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch can thiệp, hỗ trợ và áp dụng biện pháp bảo vệ đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

    4. Cơ quan lao động - thương binh và xã hội, tư pháp, công an, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để hướng dẫn, giúp đỡ Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp và áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp khác đối với trẻ em.

    Nhắn tin: Trong tuần qua, đài chúng tôi có nhận được đơn phản ánh của một số hộ nhân dân khối 9, khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn về việc Công ty Viettel vận hành máy phát điện gây ô nhiễm môi trường( tiếng ồn) ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của nhân dân.

    Đài PTTH đã chuyển đơn đến Chủ tịch UBND thành phố giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 15 tháng 10 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Linh Văn Tuân trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về tốc độ đối với xe cơ giới và xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Bộ Giao thông vận tải vừa ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2019. Theo Thông tư, khi tham gia giao thông trên đường bộ, người điều khiển phương tiện phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu giữa hai xe (thuộc chủng loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng) được ghi trên biển báo hiệu đường bộ. 

     

    Cụ thể, tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trong khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên là 60 km/h.

     

    Tại đường hai chiều; đường một chiều có 1 làn xe cơ giới, vận tốc tối đa 50 km/h. Riêng xe máy chuyên dùng, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự, tốc độ tối đa cho phép là 40 km/h.

     

    Cùng đó, tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông ngoài khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) đối với xe ôtô con, xe ôtô chở người đến 30 chỗ (trừ xe buýt); ôtô tải có trọng tải nhỏ hơn hoặc bằng 3,5 tấn là 90 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên. Tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới, tốc độ tối đa là 80km/h.

     

    Xe ôtô chở người trên 30 chỗ (trừ xe buýt); ôtô tải có trọng tải trên 3,5 tấn (trừ ôtô xitéc) được phép lưu thông với vận tốc tối đa 80 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên. Tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới tốc độ tối đa là 70km/h.

     

    Xe ôtô buýt; ôtô đầu kéo kéo sơmi rơmoóc; xe môtô; ôtô chuyên dùng (trừ ôtô trộn vữa, ôtô trộn bêtông) lưu thông với vận tốc tối đa 70 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên; Tối đa 60km/h tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới.

     

    Xe ôtô kéo rơ moóc; ôtô kéo xe khác; ôtô trộn vữa, ôtô trộn bêtông, ôtô xi téc lưu thông với vận tốc tối đa 60 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên; Tối đa 50km/h tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới.

     

    Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.

     

    Khi điều khiển xe chạy với tốc độ dưới 60 km/h, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước xe của mình; khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn giao thông.

     

    Đối với các cơ quan thẩm quyền quản lí cắm biển báo tốc độ, Thông tư quy định rõ:

     

    - Bộ Giao thông vận tải được quyền quyết định đặt biển báo đối với đường bộ cao tốc.

     

    - Tổng cục Đường bộ Việt Nam đối với hệ thống đường quốc lộ và đường khác thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giao thông vận tải (trừ đường bộ cao tốc).

     

    - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng thuộc phạm vi quản lý.

     

    Câu 2. Ông Ngụy Hải Châu trú tại xã Sơn Hà, huyên Hữu Lũng hỏi: Về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước và việc xác định đối tượng là trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Nghị định 24/2019/NĐ-CP của Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/03/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi quy định cụ thể như sau:

     

    - Về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước: Quy định rõ thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước đối với trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

     

    - Về hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo ở cơ sở nuôi dưỡng: Quy định cụ thể việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

     

    - Về xác định đối tượng là trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi bao gồm: trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em mắc các bệnh về máu; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác cần điều trị khẩn cấp hoặc cả đời.

     

    - Về tìm người nhận trẻ em làm con nuôi : Không còn phân loại trẻ em thuộc danh sách 1 (trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng cần tìm gia đình thay thế mà không phải là trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo) và danh sách 2 (trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo và trẻ em từ 5 tuổi trở lên hoặc có hai trẻ em trở lên là anh chị em ruột cần tìm gia đình thay thế)

     

    - Về xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài

     

    Trước khi xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài theo quy định thì Sở Tư pháp kiểm tra, thẩm định hồ sơ trẻ em và đối chiếu với các quy định về đối tượng, độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi, trường hợp được nhận đích danh, trường hợp phải thông qua thủ tục giới thiệu.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được cho làm con nuôi ở nước ngoài, thì phải có văn bản xác minh và kết luận rõ ràng của Công an cấp tỉnh về nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, không xác định được cha mẹ đẻ.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà Công an cấp tỉnh xác minh được thông tin về cha, mẹ đẻ và Sở Tư pháp liên hệ được với cha, mẹ đẻ thì Sở Tư pháp tiến hành lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ trước khi xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi.

     

    Trường hợp không thể liên hệ được với cha, mẹ đẻ, Sở Tư pháp niêm yết tại trụ sở Sở Tư pháp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xác minh,    đồng thời có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của cha, mẹ đẻ niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cho trẻ em làm con nuôi. Thời hạn niêm yết là 60 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 08 tháng 10 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Hoàn trú tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình hỏi: trẻ em dưới 16 tuổi có cả bố và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù có được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hộithì:

    Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:

     

    a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

     

    b) Mồ côi cả cha và mẹ;

     

    c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;

     

    d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

     

    đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

     

    g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

     

    h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     

    Như vậy: Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp các trường hợp như trên sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Trường hợp này trẻ có cả bố, mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù thì thuộc trường hợp trẻ em được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

     

    Câu 2. Ông Triệu Vắn Ôn trú tại xã Bính Xá, huyện Đình Lập hỏi: điều kiện để được công nhận là hộ nghèo theo quy định của pháp luật:

     

    Trả lời:

     

    Hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.

     

    Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg áp dụng từ ngày 1/1/2016: Hộ nghèo

     

    * Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    * Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    Việc xét hộ nghèo được thực hiện theo thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, đối với trường hợp hộ gia đình có phát sinh khó khăn đột xuất thì làm giấy đề nghị xét duyệt bổ sung hộ nghèo, hộ cận nghèo (theo mẫu số 1a phụ lục kèm theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH), có xác nhận của trưởng thôn khối phố nơi cư trú và nộp trực tiếp đến UBND cấp xã để được xem xét, giải quyết.

     

    Câu 3. Ông Mai Văn Vinh trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về phụ cấp, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã?

     

    Trả lời:

     

    Nghị định 34/2019/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố quy định cụ thể về phụ cấp, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã như sau:

     

    Về phụ cấp và khoán kinh phí đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

     

    Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội và chế độ bảo hiểm y tế. Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả hỗ trợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn như sau:

     

    - Loại 1 được khoán quỹ phụ cấp bằng 16,0 lần mức lương cơ sở;

     

    - Loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 13,7 lần mức lương cơ sở;

     

    - Loại 3 được khoán quỹ phụ cấp bằng 11,4 lần mức lương cơ sở.

     

    Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố

     

    Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố có không quá 03 người được hưởng phụ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước và chỉ áp dụng đối với các chức danh: Bí thư Chi bộ; Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Trưởng Ban công tác mặt trận. Người tham gia công việc ở thôn, tổ dân phố ngoài 03 chức danh nêu trên không hưởng phụ cấp hàng tháng mà được hưởng bồi dưỡng khi trực tiếp tham gia vào công việc của thôn, tổ dân phố từ đoàn phí, hội phí khoán cho các đoàn thể và từ các nguồn quỹ khác (nếu có).

     

    Chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.

     

    Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp bằng 3,0 lần mức lương cơ sở để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố. Riêng đối với thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên, thôn thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn thuộc xã biên giới hoặc hải đảo được kh