Hơn 21.000 bộ định tuyến Linksys có thể làm lộ thông tin

Lỗ hổng có thể khiến hàng chục nghìn router Linksys lộ lịch sử kết nối với các thiết bị, cho phép tin tặc xác định vị trí người dùng.

Nhà nghiên cứu Troy Mursh cho biết hơn 21.000 bộ định tuyến, bao gồm 33 dòng sản phẩm khác nhau của thương hiệu Linksys bị ảnh hưởng bởi lỗ hổng bảo mật do sử dụng mật khẩu mặc định. Theo chuyên gia này, hacker có thể khai thác để lấy tên, địa chỉ MAC, loại hệ điều hành của các thiết bị kết nối tới router.
 

Một thiết bị mạng của Linksys.

Một thiết bị mạng của Linksys.


"Khi kết hợp giữa địa chỉ MAC và IP công khai của bộ định tuyến là tin tặc có thể xác định được ví trí địa lý hoặc theo dõi người dùng", Mursh tuyên bố. "Lỗ hổng này có thể khai thác cho dù tường lửa của router có được bật hay không. Bản vá của Linksys phát hành năm 2014 không khắc phục được lỗi này".
 

Đại diện Linksys cho biết đã thử nghiệm và thấy hacker không thể tấn công từ xa cũng như lấy dữ liệu nhạy cảm bằng kỹ thuật này. Theo Engadget, người dùng vẫn nên kiểm tra, cập nhật phần mềm cho router lên phiên bản mới nhất, kích hoạt tường lửa nhằm hạn chế khả năng bị lấy thông tin.
 

Linksys là công ty được thành lập tại Mỹ từ 1988, kinh doanh thiết bị mạng phục vụ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Công ty được Cisco mua lại năm 2003 rồi sau đó bán cho Belkin năm 2013. Đến 2018, Foxconn mua lại Belkin và cả thương hiệu Linksys. Thiết bị mạng Linksys cũng được sử dụng tại Việt Nam.

Theo vnexpress.net
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình Ca nhac phát thanh tiếng Kinh ngày 18/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/CA NHAC KINH 18-8.mp3
Chương trình Ca nhac phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 18/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/CA NHAC TAY 18-8.mp3
Chương trình Ca nhac phát thanh tiếng Dao ngày 18/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/CA NHAC DAO 18-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 17/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/CT KINH 17-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 17/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/CT TAY 17-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 17/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/CT DAO 17-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 16/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/KINH TOI 16-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 16/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/TAY 16-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 16/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/DAO 16-8.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 15/8/2019
sites/default/files/audio/2019/08/KINH 15-8.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 19/8/2019

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

6h02’: Bản tin sáng ngày 19/9/2019

 

6h07’: Bản tin Quốc tế sáng ngày 19/8/2019

  

6h12’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 110

  

6h16’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 107

  

6h20’: Điểm báo Lạng Sơn   Số 33

  

6h27’: Sitcom 5s  Tập 38 – Phần 2

 

6h45’: Chuyên mục  Cải cách hành chính

  

6h51’: Chuyên mục  Thi đua yêu nước

  

7h03’: Ký sự  Bên hàng Bạch Dương - Tập 4

  

7h24’: Phim hoạt hình  Tập 173

  

7h34’: Chuyên mục  Vì an ninh Xứ Lạng

  

7h51’: Vui khỏe mỗi ngày  Tập 146

  

8h01’: Phim khoa giáo  Những kẻ sinh tồn trong thiên nhiên hoang dã Thái Lan – Tập 1

  

8h22’: Chuyện thật như đùa  Số 61

  

8h32’: Văn hóa dân tộc  Số 1 - 2019

 

9h00’: Bản tin sáng  ngày 29/7/2019

 

9h06’: Bản tin Quốc tế sáng ngày 19/8/2019

 

9h11’: Bản tin tiếng Trung ngày 19/8/2019

 

9h24’: Truyền hình tiếng Tày ngày 17/8/2019

  

9h51’: Chuyên mục  Nông nghiệp – Nông thôn Lạng Sơn

 

10h00’: Thời sự tổng hợp ngày ngày 18/8/2019

  

10h23’: Chuyên mục  An toàn sống - Tập 59

  

10h31’: Chuyên mục  Dân số và Phát triển

  

10h38’: Chuyên mục  Pháp luật với cuộc sống

  

10h45’: Phóng sự  Xây dựng thương hiệu rau bò khai Chi Lăng

  

10h56’: Phim truyện  Bích huyết thư - Tập 35/47 - Phim TQ

 

11h45’: Bản tin trưa ngày 19/8/2019

 

12h01’: Tiếp sóng VTV1

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 19/8/2019

  

15h19’: Phim truyện  Người thương kẻ nhớ – Tập 34/35 Phim VN

  

16h10’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 110

  

16h14’: Điểm báo Lạng Sơn  Số 33

  

16h20’: Sitcom 5s  Tập 38 – Phần 2

  

16h37’: Vui khỏe mỗi ngày  Tập 146

  

16h47’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 19/8/2019

  

17h17’: Chuyên mục  Xây dựng nông thôn mới

  

17h24’: Chuyên mục  Điểm tin trong tuần

 

17h34’: Bản tin tiếng Trung ngày 19/8/2019

  

17h49’: Phim hoạt hình  Tập 174

  

17h56’: Mỗi ngày một cuốn sách  Tập 107

  

18h05’: Phim truyện  Bí mật bị thời gian vùi lấp - Tập 16/40 Phim TQ

  

18h49’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

19h00': Chuyển tiếp chương trình thời sự VTV1

 

19h49': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 19/8/2019

 

20h23’: Bản tin thế thao ngày 19/8/2019

  

20h26’: Chuyên mục  Vấn đề hôm nay

  

20h32’: Chuyên mục  Điện lực Lạng Sơn vì niềm tin của bạn

  

20h44’: Phim truyện  Bích huyết thư - Tập 36/47 – Phim TQ

  

21h30’: Cuộc sống quanh ta  Số 3

  

21h45’: Chuyên mục  Công nghiệp – Thương mại Xứ Lạng

  

21h51’: Chuyên mục  Người cao tuổi

  

22h00’: Phim truyện  Tình yêu và thù hận – Tập 29/35 – Phim TQ

  

22h43’: Sitcom 5s  Tập 39 – Phần 2

  

23h03’: Ký sự  Bên hàng Bạch Dương - Phần 2

  

23h38’: Ca nhạc  Thiêng liêng lời Bác

 

 

  • TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 8 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Triệu Chằn Vang trú tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình hỏi: Hành vi trồng những loại cây có chứa chất ma túy sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ Điều 247 Bộ luật Hình sự 2015 quy định Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy như sau:

     

    “1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

     

    a) Đã được giáo dục 2 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;

     

    b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

     

    c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3000 cây.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm:

     

    a) Có tổ chức;

     

    b) Với số lượng 3000 cây trở lên;

     

    c) Tái phạm nguy hiểm.

     

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

     

    4. Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”

     

    Căn cứ theo quy định này, hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cần sa chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau:

     

    + Đã được giáo dục 2 lần và tạo điều kiện ổn định cuộc sống: được hiểu là người vi phạm đã được cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, cũng như những người có trách nhiệm tại địa phương vận động, tuyên truyền, nhắc nhở cấm trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa, … Việc giáo dục phải được lập biên bản và được thực hiện trước khi bị xử phạt hành chính. Đồng thời những cá nhân, cơ quan có trách nhiệm tại địa phương phải hỗ trợ về vốn, kỹ thuật sản xuất, hỗ trợ giống cây trồng… hoặc hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lương thực… để thay thế cây thuốc phiện, cây cần sa…

     

    + Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này: Được hiểu là đã bị xử phạt hành chính theo khoản 3 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy nay lại tiếp tục thực hiện hành vi này.

     

    + Hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

     

    + Với số lượng từ 500 cây trở lên.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Đình Hạc trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào bị tịch thu phương tiện giao thông khi tham gia giao thông?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì vi phạm một trong các lỗi sau, người điều khiển phương tiện giao thông sẽ bị tịch thu phương tiện:

     

    1. Theo Điểm c khoản 12 Điều 6:

     

    Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi sau đây:

     

    - Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;

     

    - Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

     

    - Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

     

    - Điều khiển xe thành nhóm từ 02 xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

     

    2. Theo Khoản 6 Điều 8:

     

    Người điều khiển xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi sau đây:

     

    - Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; đuổi nhau trên đường;

     

    - Đi xe bằng một bánh đối với xe đạp, xe đạp máy; đi xe bằng hai bánh đối với xe xích lô.

     

    3. Theo Điểm d khoản 6 Điều 16:

     

    Người điều khiển xe ô tô (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm một trong các hày vi sau đây:

     

    - Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông (đối với loại xe có quy định về niên hạn sử dụng);

     

    - Điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông).

     

    4. Theo Điểm d khoản 5 Điều 17:

     

    Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông.

     

    5. Theo Điểm a khoản 3 Điều 19:

     

    Người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng sản xuất, lắp ráp hoặc cải tạo trái quy định tham gia giao thông.

     

    6. Theo Điểm b khoản 14 Điều 30: Chủ phương tiện cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

     

    7. Theo Điểm a khoản 4 Điều 34: Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo trái phép trên đường giao thông.

     

    8. Theo Điểm b khoản 4 Điều 34: Người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

     

    9. Theo Điểm b khoản 3 Điều 36:

     

    Người điều khiển phương tiện đăng ký hoạt động trong Khu kinh tế thương mại đặc biệt, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần các hành vi sau đây:

     

    - Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không có tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập, tái xuất theo quy định;

     

    + Điều khiển xe không có phù hiệu kiểm soát theo quy định hoặc có nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng phù hiệu không do cơ quan có thẩm quyền cấp.

     

    - Người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không có tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập, tái xuất theo quy định;

     

    + Điều khiển xe không có phù hiệu kiểm soát theo quy định hoặc có nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng phù hiệu không do cơ quan có thẩm quyền cấp.

     

    10. Theo Khoản 4 Điều 54: Tổ chức đưa phương tiện tự tạo chạy trên đường sắt.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 06 tháng 8 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Lục Văn Minh trú tại xã Văn An, huyện Văn Quan hỏi: các biện pháp bảo vệ tố cáo được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Luật Tố Cáo năm 2018, thì các biện pháp bảo vệ tố cáo được như sau:

     

    Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin

     

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp sau đây:

     

    1. Giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp;

     

    2. Lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo;

     

    3. Bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

     

    4. Áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật;

     

    5. Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo.

     

    Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm

     

    1. Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức bao gồm:

     

    a) Tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ;

     

    b) Khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;

     

    c) Xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử;

     

    d) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

     

    2. Biện pháp bảo vệ việc làm của người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động bao gồm:

     

    a) Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;

     

    b) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

     

    Biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm

     

    1. Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn.

     

    2. Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết.

     

    3. Áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ theo quy định của pháp luật.

     

    4. Yêu cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm.

     

    5. Biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Mạc Văn Đô trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Những người nào được quyền yêu cầu bồi thường oan sai do người thi hành công vụ gây ra, nhà nước bồi thường người bị oan sai trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

      Người bị oan sai được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường cho những tổn hại về tinh thần và vật chất mà mình phải chịu. Từ ngày 01/07/2018, việc giải quyết bồi thường oan sai được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Người thiệt hại được định nghĩa là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do người thi hành công vụ gây ra.

     

    Điều 5 Luật quy định người thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết, tổ chức thừa kế quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại, người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật… có quyền yêu cầu bồi thường.

     

    Thời hiệu yêu cầu bồi thường là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường

     

    Nhà nước bồi thường trong trường hợp sau:

     

    Theo điều 18, nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp:

     

     - Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ.

     

     - Người bị bắt, bị tạm giữ mà có quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

     

    - Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

     

    - Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, bị kết án tử hình, đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

     

    - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù được xác định không phạm tội.

     

    - Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án oan…

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 30 tháng 7 năm 2019

    Câu 1. Ông Nông Hoàng Anh trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi cho vay nặng lãi sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Cho vay nặng lãi là hình thức tín dụng tư nhân chuyên cho vay với mức lãi suất cao, không nằm trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức tín dụng hợp pháp, không theo các quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng, ngân hàng; là loại hình tội phạm nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

    Theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự 2015 có quy định về mức lãi suất được cho phép như sau: Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác… Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

     Như vậy nếu lãi suất cho vay vượt quá 20% thì được coi  là cho vay nặng lãi. Nếu trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về mức lãi suất vượt quá 20%/năm, khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không thừa nhận và không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá đó. Tức là bên vay chỉ có nghĩa vụ trả lãi ở mức lãi suất tối đa theo quy định pháp luật là 20% /năm của khoản tiền vay.

    Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi cho vay nặng lãi mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

               1. Xử phạt hành chính

     Theo điểm d khoản 3 Điều 11 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự-an toàn xã hội thì đối với hành vi cho vay nặng lãi có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi “cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.”

      2. Xử lý hình sự

      Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 quy định về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:

     Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.       

    Câu 2. Ông Trương Minh Đạt trú tại Thị trấn Thất Khê huyện Tràng Định hỏi: Thế nào là di chúc hợp pháp và hiệu lực của di chúc dược pháp luật quy định như thế nào?        

    Trả lời:

     Di chúc có thể bằng văn bản hoặc di chúc miệng

    Di chúc phải được lập thành văn bản tiếng Việt có thể viết tay hoặc đánh máy in trên giấy nhìn được, đọc được. Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

    Di chúc bằng văn bản bao gồm 04 loại: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

    Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.

    Di chúc hợp pháp

    Theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

    Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

    Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

    Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện về di chúc hợp pháp được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

    Hiệu lực của di chúc

    Di chúc được coi là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ khi không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp kể cả về mặt hình thức hay nội dung của di chúc.

    Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu. Khi Toà án ban hành Quyết định hoặc Bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố di chúc vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ thì phần nội dung di chúc không bị vô hiệu vẫn có hiệu lực thực hiện, nếu tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ tài sản thừa kế của người chết sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người được thừa kế của người để lại di sản thừa kế.

    Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là khi người lập di chúc chết. Đối với di chúc chung của vợ chồng thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người thứ 2 chết sau cùng.

    Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp:  Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

    Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

    Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

    Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 7 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Vy Lan Phương trú tại xã Tú Xuyên, huyện Văn Quan hỏi: Hành vi bạo hành trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Trẻ em là mầm non, là tương lai của đất nước và là đối tượng được đặc biệt quan tâm, chăm sóc và giáo dục và bảo vệ của cả xã hội, điều này đã được cụ thể hóa trong Điều 14 và khoản 2 Điều 6 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự”, “Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật”

     

    Theo khoản 6 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2014 quy định “Hành vi ngược đãi, hành hạ trẻ em là một trong những hành vi bị nghiêm cấm”. Hành vi này được hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định 71/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số quy định của luật, bao gồm:

     

    " Xâm phạm thân thể, đánh đập, đối xử tồi tệ đối với trẻ em; bắt trẻ em nhịn ăn, uống, mặc rách, hạn chế vệ sinh cá nhân; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm.

     

    Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.

     

    Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau đớn để thể xác và tinh thần.

     

    Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác để chiếm đoạt, bắt cóc trẻ em, cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người giám hộ.

     

    Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương về tinh thần.

     

    Mua, bán trẻ em dưới mọi hình thức.

     

    Đánh tráo trẻ em vì bất cứ mục đích gì.

     

    Xúi giục, kích động, lừa dối trẻ em dưới mọi hình thức làm cho trẻ em thù ghét cha, mẹ, người giám hộ.

     

    Xúi giục, kích động, lừa dối trẻ em xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự của người khác.”

     

    Hiện nay, các mức xử phạt với người bạo hành trẻ em được quy định như sau:

     

    1. Xử lý hành chính

     

    Điều 27 của Nghị định 144/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em quy định: Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với các hành xâm phạm thân thể, gây tổn hại về sức khỏe đối với trẻ em. Mức phạt này cũng được áp dụng đối với hành vi dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em làm trẻ em tổn thương, đau đớn về thể xác, tinh thần.

     

    Ngoài bị phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng, người có các hành vi nêu trên còn phải chịu mọi chi phí khám, chữa bệnh cho trẻ em.

     

    2. Xử lý hình sự

     

    Nếu hành vi bạo hành trẻ em gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm tùy theo tính chất mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bao gồm các tội sau:

     

    – Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (tùy theo mức độ tỷ lệ tổn thương cơ thể mà bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân).

     

    – Điều 128 Tội vô ý làm chết người (phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 10 năm).

     

    – Điều 123 Tội giết người (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).

     

    – Điều 140 Tội hành hạ người khác (phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm).

     

    Ngoài ra, người thực hiện hành vi hành hạ, ngược đãi đối với trẻ em còn phải bồi thường cho cha mẹ hoặc người giám hộ của các bé số tiền để bù đắp những tổn thất vật chất thực tế và tổn thất tinh thần.

     

              Câu 2. Ông Hoàng Văn Giang trú tại phường Vĩnh Trại thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em chưa xác định được cha, mẹ; trẻ em sinh ra do mang thai hộ như thế nào?

     

              Quyền được khai sinh và có quốc tịch là một trong những quyền quan trọng của trẻ em ngay từ khi sinh ra và được quy định trong các văn bản pháp luật của nước ta. Đăng ký khai sinh cho trẻ em không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.

     

              Đối với một số trường hợp đặc biệt là trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em chưa xác định được cha, mẹ; trẻ em sinh ra do mang thai hộ, pháp luật nước ta đã quy định cụ thể thẩm quyền đăng ký khai sinh trong các trường hợp này tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch như sau:

     

            Đối với đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi

     

           Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo. Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.

     

           Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

     

           Sau khi đã lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch. Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

     

              Đối với đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ

     

           Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

     

            Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

     

            Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại khoản 3 Điều 14 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

     

            Đối với đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ

     

            Người yêu cầu đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch và văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ. Phần khai về cha, mẹ của trẻ được xác định theo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

     

            Nghị định 123/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Đối với hồ sơ yêu cầu đăng ký hộ tịch được cơ quan đăng ký hộ tịch (bao gồm đăng ký khai sinh) tiếp nhận trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua, chúng tôi nhận được đơn thư của tập thể nhân dân Thôn Nà Tậu, xã Song Giáp huyện Cao Lộc thắc mắc về việc không được nhận tiền đền bù bãi khác thác tài nguyên (cát) do ảnh hưởng của công trình thủy điện Khánh Khê.

     

    Đề nghị đại diện tập thể nhân dân Thôn Nà Tậu liên hệ UBND huyện Cao Lộc để được giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 16 tháng 7 năm 2019

    Câu 1. Ông Trần Gia Linh trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người bị cơ quan tiến hành tố tụng bắt tạm giữ có các quyền và nghĩa vụ gì?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thì người bị tạm giữ bao gồm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú..

    Người bị tạm giữ có những quyền như sau:

    - Được biết lý do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    - Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    - Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

    - Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

    - Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

    - Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

    - Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.

    Riêng đối với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, quyền của người bị tạm giữ đã được cụ thể hóa, chi tiết hơn. Theo đó, khoản 1 Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 quy định người bị tạm giữ có các quyền sau đây:

    - Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

    - Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

    - Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

    - Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

    - Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

    - Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

    - Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ;

    - Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

    - Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

    - Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật Thi hành tạm giữ tạm giam và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

    Cần lưu ý rằng, thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ đối với người bị tạm giữ tối đa không quá 09 ngày. Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.

    Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết;...

    Câu 2. Ông Hà Văn Dũng trú tại xã Hoàng Việt huyện Văn Lãng hỏi: Trẻ em không nơi nương tựa bao gồm những đối tượng nào và chế độ trợ cấp ưu đãi đối với đối tượng này được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em 2016; Điều 5 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em (gọi tắt là Nghị định số 56/2017/NĐ-CP) thì trẻ em không nơi nương tựa là:

    - Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cả cha và mẹ không còn khả năng chăm sóc trẻ em; Trẻ em có cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em có cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em sống trong gia đình có cả cha và mẹ trong độ tuổi trẻ em; Trẻ em có cả cha và mẹ bị hạn chế quyền làm cha mẹ hoặc tạm thời cách ly khỏi cha hoặc mẹ theo quy định của pháp luật.

    Về các chính sách hỗ trợ:

    Theo quy định từ Điều 18 đến Điều 21 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP thì trẻ em không nơi nương tựa thuộc nhóm trẻ em có hoàn ảnh đặc biệt được nhà nước hỗ trợ một số chính sách sau:

    - Chính sách chăm sóc sức khỏe: Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; Nhà nước trả hoặc hỗ trợ trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh hoặc giám định sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các chính sách chăm sóc sức khỏe khác theo quy định của pháp luật.

    - Chính sách trợ giúp xã hội: Nhà nước thực hiện chế độ trợ cấp hằng tháng đối với cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế; hỗ trợ chi phí mai táng và chế độ trợ cấp, trợ giúp khác cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của pháp luật về chính sách trợ giúp xã hội.

    - Chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo quy định của pháp luật giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp.

    - Chính sách trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ bảo vệ trẻ em khác: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý; Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hỗ trợ tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ bảo vệ trẻ em khác theo quy định tại Điều 48, 49, 50 Luật trẻ em. Cụ thể:

    - Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ phòng ngừa bao gồm: Tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng, gia đình, trẻ em về mối nguy hiểm và hậu quả của các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; về trách nhiệm phát hiện, thông báo trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Cung cấp thông tin, trang bị kiến thức cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em về trách nhiệm bảo vệ trẻ em, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; Trang bị kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ để bảo đảm trẻ em được an toàn; Giáo dục, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em; Xây dựng môi trường sống an toàn và phù hợp với trẻ em. (Điều 48)

    - Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ hỗ trợ bao gồm: Cảnh báo về nguy cơ trẻ em bị xâm hại; tư vấn kiến thức, kỹ năng, biện pháp can thiệp nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ xâm hại trẻ em cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và trẻ em nhằm tạo lập lại môi trường sống an toàn cho trẻ em có nguy cơ bị xâm hại; Tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ nguy hại, áp dụng các biện pháp cần thiết để hỗ trợ trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật trẻ em; Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình của trẻ em được tiếp cận chính sách trợ giúp xã hội và các nguồn trợ giúp khác nhằm cải thiện Điều kiện sống cho trẻ em. (Điều 49)

    - Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ can thiệp bao gồm: Chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, phục hồi thể chất và tinh thần cho trẻ em bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần can thiệp; Bố trí nơi tạm trú an toàn, cách ly trẻ em khỏi môi trường, đối tượng đe dọa hoặc đang có hành vi bạo lực, bóc lột trẻ em; Bố trí chăm sóc thay thế tạm thời hoặc lâu dài cho trẻ em thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 62 của Luật này; Đoàn tụ gia đình, hòa nhập trường học, cộng đồng cho trẻ em bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Tư vấn, cung cấp kiến thức cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, các thành viên gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt về trách nhiệm và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục hòa nhập cho trẻ em thuộc nhóm đối tượng này; Tư vấn, cung cấp kiến thức pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Các biện pháp hỗ trợ trẻ em bị xâm hại và gia đình của trẻ em quy định tại Khoản 1 Điều 43, Khoản 1 Điều 44 và Điểm d Khoản 2 Điều 49 của Luật trẻ em;theo dõi, đánh giá sự an toàn của trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. (Điều 50)

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 09 tháng 7 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Nguyễn Thị Thanh trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định cụ thể của pháp luật về chế độ ăn, ở và đăng ký khai sinh cho trẻ sinh ra trong trại tạm giam như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về chế độ ăn, ở và quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi như sau:

     

    - Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế, được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe; nếu sinh con thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp thực phẩm, đồ dùng, thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, được bảo đảm thời gian cho con bú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở giam giữ đóng trụ sở có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (m2).

    - Cơ sở giam giữ phải tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên thì phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng; trường hợp không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì thủ trưởng cơ sở giam giữ đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cơ sở giam giữ chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam sau khi được trả tự do được nhận lại con đang được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng.

     

    Từ khi sinh ra cho đến khi đủ 36 tháng tuổi, nếu ở cùng mẹ trong Trại tạm giam thì chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được thực hiện theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và được hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định 120/2017/NĐ-CP ngày 6/11/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam. Cụ thể:

     

    Trẻ dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong Trại tạm giam được bảo đảm định lượng ăn; được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); được bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em theo quy định của Luật trẻ em năm 2016, Ngày Quốc tế thiếu nhi, ngày tết Trung thu được hưởng chế độ ăn gấp 02 lần ngày thường, Mỗi tháng được cấp sữa và đồ dùng sinh hoạt cần thiết trị giá tương đương 20 kg gạo tẻ loại trung bình/01 trẻ em.

     

    Trẻ được chăm sóc y tế, tiêm phòng theo quy định của Bộ Y tế, trường hợp bị bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá, Trại tạm giam làm thủ tục chuyển đến cơ sở y tế của Nhà nước để điều trị; lãnh đạo Trại tạm giam quyết định việc đưa mẹ của trẻ đi cùng để chăm sóc. Trại tạm giam có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế trong việc khám bệnh, chữa bệnh cho nơi khám, chữa bệnh.

     

    Câu 2. Ông Lê Văn Long trú tại phường Chi Lăng Thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định của pháp luật  về biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cụ thể như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP như sau:

     

      1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

     Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 1 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện; Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy; Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.

     

       Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp: người không có năng lực trách nhiệm hành chính; người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được UBND cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

     

      2. Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy.

     

       Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy gồm: Bác sỹ, Y sĩ được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điều trị cắt cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại các cơ sở y tế quân y, y tế quân dân y; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của ngành công an; phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc; phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; bệnh viện cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các bộ, ngành khác.

     

       Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải chịu trách nhiệm về việc xác định của mình trước pháp luật.

     

        3. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

       Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;

     

       Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch UBND cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người nghiện ma túy;

     

       Trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

     

       Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định trên, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện.Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp.

     

       4. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     

       Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao cơ quan đã lập hồ sơ để tiếp tục thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.

     

       Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao gồm: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định; Văn bản của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua, chúng tôi nhận được đơn thư của ông Hoàng Lê Nghiệp trú tại thôn Bắc Nam, xã Đồng Giáp huyện Văn Quan hỏi về việc sửa lại  tên đệm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền  đính chính lại tên đệm trong Giấy Chứng minh thư nhân dân và trong sổ hộ khẩu.

     

    Đề nghị ông liên hệ tại Văn phòng HĐND, UBND huyện Văn Quan (qua bộ phận tiếp nhận và trả kết quả) để được hướng dẫn, giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 02 tháng 7 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Chu Thùy Dung trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các giao dịch dân sự như thế nào phải có sự đồng ý của vợ và chồng theo quy định của pháp luật hiện hành?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

     

    Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập; vợ chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình … (Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Theo đó, pháp luật quy định vợ/chồng cũng có thể tự mình quyết định thực hiện việc giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đối với một số giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng.

     

    Các giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của vợ và chồng:

     

    Thứ nhất, Giao dịch liên quan đến tài sản riêng của vợ/chồng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình (Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) .

     

    Thứ hai, Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ, chồng (Điều  31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng có thể là tài sản chung của vợ chồng, không phải tài sản riêng của vợ/chồng như nhà thuê… thì cần phải có sự đồng ý của vợ và chồng. Trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó, không cần sự đồng ý của bên còn lại nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ/chồng.

     

    Thứ ba, Giao dịch liên quan đến một số tài sản chung của vợ chồng  (Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Các giao dịch về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng sẽ do vợ chồng thỏa thuận (sự đồng ý của vợ và chồng). Trừ trường hợp, sử dụng tài sản chung thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì không cần có sự thỏa thuận của vợ chồng. Ví dụ như: việc mua sắm đồ gia dụng thiết yếu của gia đình thì không cần thỏa thuận với người còn lại. Nhưng nếu vợ hoặc chồng thực hiện các giao dịch là tài sản có giá trị khác thì phải cần có sự đồng ý của vợ hoặc chồng. Bao gồm các giao dịch liên quan đến tài sản chung sau:

     

        + Bất động sản: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, tài sản khác theo quy định của pháp luật…