1. Bà Hà Thị Hiển, trú tại số 155, đường Lê Lợi, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà nhập ngũ tháng 2/1985, phục viên tháng 2/1988 có xác nhận của Ban chỉ huy quân sự nơi đã công tác. Sau đó tham gia công tác tại Hợp tác xã Đồng Tiến, thành phố Lạng Sơn từ tháng 4/1998 đến tháng 9/2012. Tất cả thời gian trên đều có đóng bảo hiểm xã hội, đến nay tôi chưa nhận chế độ nghỉ việc. Xin hỏi, thời gian tôi công tác trong quân đội có được cộng dồn để tính thời gian đóng BHXH để tính hưởng chế độ hay không, nếu không được giải quyết tôi phải làm gì?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 4, Điều 139 Luật BHXH quy định: “Người lao động có thời gian làm việc trong khu vực nhà nước trước ngày 1/1/1995 nếu chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp một lần, trợ cấp xuất ngũ, phục viên thì thời gian đó được tính là thời gian đã đóng BHXH”.
Tại khoản 18, Điều 1, Thông tư số 41/2009/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2009 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định: “Việc tính thời gian công tác trước ngày 1/1/1995 để hưởng BHXH được thực hiện theo hướng dẫn tại các văn bản quy định trước đây về tính thời gian công tác trước ngày 1/1/1995 để hưởng BHXH của cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, quân nhân và công an nhân dân”.
Căn cứ điểm 1.7, khoản 1, Công văn số 1188/BHXH-CSXH ngày 6/4/2010 của BHXH Việt Nam hướng dẫn: “Việc tính thời gian công tác trước ngày 1/1/1995 của cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, quân nhân và công an nhân dân để hưởng BHXH được thực hiện theo hướng dẫn tại các văn bản quy định trước ngày 1/1/1995. Trong đó, người có thời gian công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 15/12/1993, nếu sau đó được tuyển dụng vào cơ quan, xí nghiệp Nhà nước thì thời gian công tác trong quân đội thực hiện theo quy định tại Thông tư số 13/NV ngày 4/9/1972 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội)”.
Tại điểm a, khoản 10, Mục II Thông tư số 13/NV ngày 4/9/1972 của Bộ Nội vụ quy định: “Quân nhân nghĩa vụ khi hết thời hạn được chuyển ngay sang cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hoặc đã về địa phương một thời gian rồi mới được tuyển vào cơ quan, xí nghiệp đều được cộng cả thời gian làm nghĩa vụ quân sự với thời gian làm việc ở cơ quan, xí nghiệp để tính là thời gian công tác liên tục”.
Tại điểm b, khoản 1, mục II, Thông tư liên Bộ số 448/TTLB ngày 28/3/1994 của Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính quy định: Quân nhân chuyển sang làm việc tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp hoặc liên doanh của Nhà nước, Đảng, Đoàn thể có thời gian công tác liên tục trước ngày ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22/06/1993, Nghị định số 66/CP ngày 30/09/1993 của Chính phủ và thời gian phục vụ tại ngũ được tính là thời gian đã đóng BHXH.
Căn cứ các quy định nêu trên và các tài liệu bà Hiển cung cấp trong đó có Giấy xác nhận thời gian công tác trong quân đội do Ban chỉ huy Quân sự huyện Hữu Lũng cấp, xác nhận bà chưa hưởng trợ cấp nghỉ việc một lần thì thời gian công tác trong quân đội được cộng dồn vào thời gian bà tham gia đóng BHXH tại Hợp tác xã Đồng Tiến để làm căn cứ tính hưởng chế độ BHXH.
Nếu khi yêu cầu giải quyết chế độ mà không được giải quyết bà có quyền khiếu nại đến BHXH tỉnh Lạng Sơn để giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Ông Hứa Văn Chẹt, trú tại thôn Ba Biến, xã Thiện Hòa, huyện Bình Gia hỏi: Ông được cấp sổ đỏ diện tích đất rừng các thửa 493, 544, 547, 542, 531 nhưng có ông Hứa Văn Lành, Hứa Văn Nhâm đến tranh chấp. ông đã có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp và ngày 27/9/2007 UBND huyện Bình Gia có Quyết định giải quyết tranh chấp, bác đơn của ông và công nhận QSDĐ đã cấp sổ đỏ cho tôi cho ông Hứa Văn Lành. Vậy ông phải làm gì để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của gia đình?
Trả lời:
Về quy trình giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai thì về thẩm quyền giải quyết đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì do Tòa án nhân dân huyện giải quyết, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì do UBND cấp huyện giải quyết.
Còn theo quy định của Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính thì đối với quyết định hành chính của UBND huyện Bình Gia về giải quyết tranh chấp đất giữa ông với ông Hứa Văn Lành, Hứa Văn Nhâm. Nếu thấy quyết định này xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì ông có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Bình Gia hoặc khởi kiện quyết định hành chính này ra Tòa án nhân dân huyện Bình Gia giải quyết theo quy định của pháp luật.
Để được trợ giúp về mặt pháp luật, ông có thể đến Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 3, trụ sở tại UBND huyện Bình Gia để được tư vấn và trợ giúp theo quy định của pháp luật.
3. Bà Hoàng Thúy Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Được biết Luật Biển Việt nam mới có hiệu lực thi hành. Vậy đề nghị Đài cho biết chủ quyền Biển của Việt Nam bao gồm những vùng nào và rộng bao nhiêu?
Trả lời:
Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua vào ngày 21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013.
Theo đó, biển của Việt Nam bao gồm các vùng biển như vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố.
Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền.
Lãnh hải của Việt Nam là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét (m)./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16 tháng 04 năm 2013
1. Ông Hoàng Văn Tiến, trú tại thôn An Dinh II, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc hỏi: Ông Nội tôi có thừa kế cho bố tôi và 2 chú tôi mỗi người một mảnh đất, tuy nhiên do điều kiện bố tôi mất nên mẹ tôi đã về bên ngoại sống, mảnh đất này bị các chú lấn chiếm. Nay muốn đòi lại mảnh đất này có được không, tôi phải làm gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Theo quy định tại Điều 136 Luật đất đai năm 2003 thì: “Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí nếu tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”.
Điều 264 Luật Tố tụng hành chính quy định: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai được giải quyết như sau: Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính; Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”
Như vậy khi việc tranh chấp không hòa giải được tại UBND xã thì nếu đất tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì ông có thể khởi kiện ra Tòa án. Nếu đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì ông có thể gửi đơn đến UBND huyện Cao Lộc để được giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi đã có bản án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực thì ông có thể làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
2. Ông Hứa Viết Dao, trú tại thôn Nà Khách, xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Khi thấy việc nhà nước thu hồi đất nhưng đền bù không thỏa đáng, áp giá đền bù không đúng, việc kiểm đếm không đúng, không hết số lượng thu hồi mà bên thi công đã tiến hành san lấp mặt bằng thi công thì tôi phải làm gì để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi?
Trả lời:
Theo quy định của Điều 7 Luật khiếu nại thì: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Thời hạn Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Như vậy đối với các Quyết định trong lĩnh vực đất đai là quyết định hành chính thì ông có quyền khiếu nại theo Luật khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
3. Nhắn tin:
Trong tuần qua, chúng tôi đã nhận được đơn của bà Nông Thị Bông, trú tại thôn Hà Quảng, xã Hòa Bình, huyện Văn Quan, phản ánh về việc Trưởng thôn Hà Quảng gây khó khăn, không cho gia đình bà sử dụng điện sinh hoạt; có biểu hiện tiêu cực trong việc thu tiền xây dựng đường điện và tiền điện; tổ chức bỏ phiếu kín lấy ý kiến nhân dân trong thôn để trục xuất gia đình bà ra khỏi thôn. Đài PTTH tỉnh Lạng Sơn đã chuyển đơn đến UBND xã Hòa Bình để xem xét, giải quyết, trả lời./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 09 tháng 04 năm 2013
1. Bà Liễu Thị Minh Chúc, trú tại số 215 khối Trần Thánh Tông, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi tốt nghiệp lớp Điều gưỡng 10D ngành điều dưỡng, hệ Trung cấp khóa học 2008-2010 của trường Cao đắng Y Lạng Sơn. Do sơ xuất tôi bị mất bằng tốt nghiệp nên tôi đã đề nghị trường cấp lại bằng cho tôi nhưng Hiệu trường trường chỉ có Giấy xác nhận đã tốt nghiệp mà không cấp lại bằng. Vừa qua có đợt thi tuyển viên chức y tế do Sở Y tế tổ chức tôi có nộp Giấy xác nhận tốt nghiệp để thi tuyển nhưng hồ sơ của tôi bị trả lời là không đủ điều kiện dự thi như vậy có đúng không? Tôi phải làm gì để được cấp lại bằng đã bị mất để được dự thi viên chức y tế?
Trả lời:
Căn cứ Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ Giáo dục và đào tạo Ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân; Thông tư số 4366/BGDĐT-PC ngày 23/7/2010 của Bộ Giáo dục và đào tạo hướng dẫn một số nội dung về văn bằng, chứng chỉ của giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp quy định: “Bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ cấp một lần, không cấp lại”. Vì vậy, không được cấp lại bản chính văn bằng, chứng chỉ trong bất cứ trường hợp nào.
Tuy nhiên người bị mất bản chính văn bằng, chứng chỉ có quyền yêu cầu cấp bản sao từ sổ gôc. Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và đào tạo thì Bộ Giáo dục và Đào tạo không ban hành mẫu bản sao từ sổ gốc bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao từ sổ gốc văn bằng thực hiện việc cấp bản sao căn cứ theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; đồng thời, tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan đến việc cấp bản sao văn bằng từ sổ gốc.
Về thủ tục yêu cầu, thủ tục cấp bản sao từ sổ gốc được quy định tại Nghị định 79/2007/NĐ-CP như sau: Người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc có thể trực tiếp yêu cầu hoặc gửi yêu cầu của mình đến cơ quan quản lý sổ gốc qua bưu điện. Người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc phải xuất trình chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác.
Trong trường hợp yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc qua bưu điện thì người yêu cầu phải gửi đầy đủ các giấy tờ được quy định tại khoản này (bản chính hoặc bản sao có chứng thực).
Về Thủ tục cấp: Cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc xem xét, kiểm tra tính hợp pháp của việc yêu cầu cấp bản sao, đối chiếu với sổ gốc để cấp bản sao cho người yêu cầu. Nội dung bản sao phải đúng với nội dung đã ghi trong sổ gốc.
Thời hạn cấp bản sao được thực hiện như sau: Ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu; Trong trường hợp yêu cầu được gửi qua bưu điện thì chậm nhất là trong 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu (theo dấu ngày đến của bưu điện), cơ quan, tổ chức cấp bản sao phải gửi bản sao cho người yêu cầu.
Người yêu cầu cấp bản sao qua bưu điện phải trả lệ phí cấp bản sao và cước phí bưu điện cho cơ quan, tổ chức cấp bản sao.
Như vậy, khi bị mất bản chính bằng tốt nghiệp bà có thể yêu cầu cấp bản sao bằng tố nghiệp đến cơ quan quản lý sổ gốc, cơ quan quản lý sổ gốc có trách nhiệm căn cứ vào sổ gốc đã lưu trữ cấp bản sao bằng tốt nghiệp cho bà, việc cấp giấy xác nhận là không đúng quy định hiện hành và bà có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Ông Lăng Văn Nhu, trú tại thôn Đồi Chè, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hội Cựu chiến binh thành lập vào ngày tháng năm nào, hội viên bao gồm những đối tượng nào và điều kiện để được gia nhập Hội cựu chiến binh được quy định như thế nào?
Trả lời:
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và nguyện vọng của các Cựu chiến binh, ngày 6-12-1989 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Từ ngày thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội đã trưởng thành nhanh chóng và từng bước vững chắc, hoạt động đúng hướng và đạt nhiều kết quả, xứng đáng là một đoàn thể chính trị - xã hội, là chỗ dựa tin cậy của các ấp uỷ Đảng, chính quyền, nhân dân, nhất là ở cơ sở.
Theo Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt Nam thì ngày 06 tháng 12 là ngày truyền thống của Cựu chiến binh.
Về chức năng thì: Hội Cựu chiến binh Việt Nam có chức năng đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của Cựu chiến binh. Hội làm tham mưu giúp cấp uỷ Đảng và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động Cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của cách mạng, của Hội; tham gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước.
Về Hội viên được quy định tại Điều 4 của Điều lệ Hội cựu chiến binh Việt nam, theo đó những đối tượng được xét kết nạp vào Hội Cựu chiến binh bao gồm: Các đồng chí đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng tổ chức trước ngày Cách mạng Tháng Tám 1945; Các cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, nay đã xuất ngũ, phục viên, chuyển ngành, nghỉ hưu; Các cán bộ và chiến sĩ dân quân, du kích, tự vệ đã trực tiếp tham gia chiến đấu, đội viên các đội công tác vũ trang vùng địch tạm chiếm; Các công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong thời kỳ chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc; Những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp hoàn thành nhiệm vụ trong Quân đội đã xuất ngũ, chuyển ngành, nghỉ hưu; Những hạ sĩ quan, chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, về định cư tại các xã, huyện miền núi, biên giới đất liền, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số; Những quân nhân đã hoàn thành nhiệm vụ ở tuyến đấu biên giới hải đảo; Những quân nhân trong quá trình làm nghĩa vụ quân sự tại ngũ có thành tích xuất sắc được Quân đội và Nhà nước khen thưởng; Những quân nhân được Bộ Quốc phòng đào tạo thành sĩ quan dự bị trước khi ra quân.
Những người trên đây, giữ được bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, làm tròn nghĩa vụ công dân, tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện xin vào Hội đều được xét kết nạp vào Hội. Việc kết nạp hội viên do tổ chức cơ sở Hội thảo luận và quyết định. Những tổ chức cơ sở có chia ra Chi hội, thì do Chi hội thảo luận xem xét, đề nghị Ban chấp hành cơ sở quyết định. Nơi có Phân hội, thì Phân hội đề nghị, báo cáo lên Chi hội xem xét và Ban chấp hành Hội cơ sở quyết định.
- Trong tuần qua, chúng tôi đã nhận được đơn của bà Lý Thị Minh, trú tại thôn Đinh Cam, xã Quang trung, huyện Bình Gia. Bà Minh kiến nghị về việc bà là vợ của liệt sĩ nhưng bị cắt chế độ cấp thẻ bảo hiểm y tế từ năm 2010. Đơn chúng tôi chuyển tới BHXH tỉnh Lạng sơn xem xét, trả lời.
- Cũng trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của ông Lành Văn thế, trú tại thôn Quán Hồ, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn kiến nghị về việc chậm giải quyết xử lý người gây thương tích cho ông. Đơn gửi nhiều nơi trong đó đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Thưa quý vị và các bạn, trong tuần qua chúng tôi đã nhận được nhiều đơn thư hỏi, phản ánh, kiến nghị của bạn xem truyền hình về các lĩnh vực pháp luật, tình hình thực hiện pháp luật trong đời sống, trong đó có nhiều đơn thư nội dung, địa chỉ còn chưa rõ ràng, cụ thể. Vì vậy đề nghị bạn xem truyền hình có thắc mắc về mặt pháp luật viết đơn thư hỏi, trình bày cần rõ ràng, cụ thể, đúng trọng tâm, kèm theo địa chỉ, số điện thoại cụ thể để chúng tôi kịp thời xác minh, hướng dẫn, trả lời được kịp thời, chính xác. Đài PT-TH tỉnh cũng rất hoan nghênh các cơ quan, đơn vị đã phối hợp trả lời Đài những thắc mắc, kiến nghị của nhân dân để Đài có cơ sở trả lời bạn xem truyền hình được kịp thời theo đúng quy định của pháp luật./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 02 tháng 04 năm 2013
1. Ông Thần Văn Thắng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Được biết Nhà nước mới có quy định về giảm lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi, đề nghị quý đài cho biết cụ thể về chính sách này và chính sách này có hiệu lực từ thời điểm nào?
Trả lời:
Theo Nghị định 23/2013/NĐ-CP ngày 25/3/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ, ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức thu là 10% (quy định cũ 10-20%). Trường hợp cần áp dụng mức thu cao hơn cho phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định điều chỉnh tăng nhưng tối đa không quá 50% mức quy định chung.
Ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi với mức thu là 2% và áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Căn cứ vào loại phương tiện ghi tại Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường do cơ quan đăng kiểm Việt Nam cấp, cơ quan thuế xác định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô theo quy định.
Nghị định 23/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2013.
Kể từ ngày 1/4/2013, đối với ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) đăng ký lần đầu ở những tỉnh, thành phố đang áp dụng mức thu cao hơn 10% nhưng không quá 15% thì áp dụng mức thu lệ phí trước bạ theo quy định hiện hành và trường hợp mức thu cao hơn 15% thì áp dụng mức thu 15% cho đến khi Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành mức thu lệ phí trước bạ mới theo quy định tại Nghị định 23/2013/NĐ-CP.
Đối với ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) đăng ký lần thứ 2 trở đi nộp lệ phí trước bạ với mức thu là 2% và áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
2. Bà Hoàng Thì Cầu, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Nhiều lúc tôi đi xe máy trên đường gặp ô tô tải đi đằng sau sử dụng còi xe quá to khiến tôi giất mình, gây nguy hiểm. Xin hỏi việc sử dụng còi xe quá dung lượng sẽ bị xử phạt như thế nào, mức phạt bao nhiêu tiền?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 19 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2/4/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 thì người điều khiển xe ô tô lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định thì bị xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng.
Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm nêu trên là mức trung bình của khung tiền phạt (2.250.000 đồng); nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt (không được giảm quá 2.000.000 đồng); nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt (không được vượt quá 2.500.000 đồng).
3. Ông Nguyễn Khánh Duy, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi được cấp trên cử đi công tác và bị tai nạn trên đường trở về. Vậy, tôi có được hưởng chế độ đối với người bị tai nạn lao động không, nếu được thì gồm những khoản nào?
Trả lời:
Pháp luật hiện hành về BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động, khi bị tai nạn đối với người lao động tham gia BHXH bắt buộc trong trường hợp:
- Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc.
- Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động.
- Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian hợp lý (khoảng thời gian cần thiết để đến nơi làm việc trước giờ làm việc hoặc trở về sau giờ làm việc) và tuyến đường hợp lý (là tuyến đường thường xuyên đi và về từ nơi thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú đến nơi làm việc và ngược lại).
Với quy định trên, trường hợp của ông Duy được đơn vị cử đi công tác và trên đường trở về bị tai nạn thì thuộc đối tượng được hưởng chế độ tai nạn lao động. Về chế độ hưởng tai nạn lao động tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động do bị tai nạn gây nên, cụ thể là:
- Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần tính theo mức suy giảm khả năng lao động: Suy giảm 5% được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung. Ngoài ra, còn tính theo số năm đã đóng BHXH: Từ 1 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
- Bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hàng tháng tính theo mức suy giảm khả năng lao động: Suy giảm 31% được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung. Ngoài ra, còn tính số năm đã đóng BHXH: Từ 1 năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
- Trong một số trường hợp còn được hưởng trợ cấp người phục vụ; dụng cụ chỉnh hình, trợ giúp sinh hoạt.
Tuy nhiên, để có căn cứ giải quyết chế độ tai nạn lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện lập đầy đủ, kịp thời hồ sơ theo quy định khi người lao động bị tai nạn lao động.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26 tháng 03 năm 2013
1. Bà Nguyễn Thùy Dung, trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng thì bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2/4/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 thì người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không có gương chiếu hậu bên trái người điều khiển hoặc có nhưng không có tác dụng thì bị xử phạt từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng.
Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm nêu trên là mức trung bình của khung tiền phạt (90.000 đồng); nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt (không được giảm quá 80.000 đồng); nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt (không được vượt quá 100.000 đồng).
Nếu ngoài hành vi vi phạm nêu trên, người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy còn có hành vi vi phạm hành chính khác bị phạt tiền thì được cộng lại thành mức phạt chung.
2. Ông Trần Văn Lực, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Đảng viên đã có 1 con riêng, nay kết hôn với người khác mà sinh 2 con thì có vi phạm sinh con thứ 3 không? Khi xử lý kỷ luật thì có sự phân biệt giữa người là đảng viên thường và người là đảng ủy viên hay không?
Trả lời:
Tại Nghị định số 18/2011/NĐ-CP ngày 17/3/2011 của Chính phủ về sửa đổi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 8/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số quy định:
“6. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):
a) Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ);
b) Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.”
Như vậy, trường hợp có 2 con chung với người đã có 1 con riêng là một trong những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con của Pháp lệnh Dân số.
Theo quy định số 94/QĐ/TW ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và Hướng dẫn số 11/HD/UBKTTW ngày 21/3/2008 của Ủy Ban kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định số 94/QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thì không có sự phân biệt giữa đảng viên thường với đảng ủy viên đối với các hành vi vi phạm pháp luật, cũng không có tình tiết tăng nặng đối với đảng ủy viên thực hiện quy định sinh một hoặc hai con.
3. Ông Bế Văn Thu, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện và thủ tục miễn chấp hành án cải tạo không giam giữ được quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Thông tư liên tịch số 09 ngày 6/8/2012 của Liên Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền đề nghị, quyết định giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại cho người phải chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế thì: Điều kiện, thủ tục đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Thông tư này, trong đó có quy định trường hợp người bị Tòa án nhân dân tuyên án phạt, đang chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tại nơi cư trú như sau:
Về Điều kiện miễn chấp hành án: Người bị phạt cải tạo không giam giữ có thể được Tòa án cấp huyện quyết định miễn chấp hành án phạt khi có các điều kiện sau đây:
- Đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.
- Không còn nguy hiểm cho xã hội.
Trường hợp lập công lớn là trường hợp người chấp hành án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản (có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên) của nhà nước, tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng hoặc xác nhận.
Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp người chấp hành án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.
Người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội là trường hợp người bị kết án đã hoàn lương, chấp hành đúng quy định pháp luật, chăm chỉ lao động, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, các phong trào thi đua của địa phương, tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quyết định của bản án.
Thủ tục đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
Trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ đã có quyết định thi hành án, nhưng chưa chấp hành án mà có các điều kiện theo quy định trên, thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú hoặc làm việc tự mình, hoặc theo đề nghị của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, lập hồ sơ đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn chấp hành án.
Trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ đang chấp hành án nếu có đủ các điều kiện quy định và có đơn xin miễn chấp hành án thì Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ giúp UBND cấp xã tổ chức cuộc họp và đề nghị Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cư trú hoặc làm việc xem xét, đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cho họ.
Cuộc họp xét, đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của UBND cấp xã do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã chủ trì với thành phần tham gia gồm: Đại diện Mặt trận Tổ quốc, Công an, Tư pháp cấp xã và sự có mặt của người được giao trực tiếp giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bao gồm: Bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật; Đơn xin miễn chấp hành án của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ hoặc người đại diện hợp pháp theo quy định pháp luật; Văn bản đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của UBND cấp xã; Quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền đối với trường hợp lập công (nếu có); Văn bản kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật đối với trường hợp bị bệnh hiểm nghèo (nếu có).
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xem xét việc miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của UBND cấp xã, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm xem xét, đề nghị bằng văn bản kèm theo hồ sơ đề nghị của UBND cấp xã gửi Viện kiểm sát cấp huyện để xem xét, đề nghị miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát cùng cấp phải xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 03 năm 2013
1. Ông Nguyễn Lam Hồng, trú tại xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng hỏi: Trong thời gian theo học đại học, tôi có vay 25 triệu đồng trong 3 năm (từ năm 2009-2012) theo Chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Vậy tôi phải trả số tiền gốc này 1 lần hay nhiều lần, lãi suất tính như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ Quyết định số 157/2007QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên được áp dụng để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường bao gồm: Tiền học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại. Lãi tiền vay được tính kể từ ngày người vay nhận món vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc.
Về mức lãi suất cho vay tính như sau:
- Các khoản giải ngân cho vay từ 1/10/2007 đến 31/7/2011 áp dụng lãi suất cho vay 0,5%/tháng.
- Riêng các món vay giải ngân được hỗ trợ lãi suất từ ngày 1/5/2009 đến ngày 31/12/2009 trong thời gian 24 tháng kể từ ngày phát tiền vay của số tiền vay đó chỉ phải trả lãi suất 0,17%/ tháng.
- Các khoản giải ngân cho vay từ 1/8/2011 trở đi sẽ áp dụng mức lãi suất cho vay 0,65%/tháng.
Khi giải ngân số tiền cho vay của kỳ học cuối cùng, NHCSXH nơi cho vay cùng người vay thoả thuận việc định kỳ hạn trả nợ của toàn bộ số tiền cho vay. Người vay phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên khi học sinh, sinh viên có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày học sinh, sinh viên kết thúc khoá học. Số tiền cho vay được phân kỳ trả nợ tối đa 6 tháng 1 lần, phù hợp với khả năng trả nợ của người vay do ngân hàng và người vay thoả thuận.
Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian được tính từ ngày người vay trả món nợ đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc và lãi. Đối với các chương trình đào tạo trên một năm, thời gian trả nợ tối đa bằng thời hạn phát tiền vay.
Như vậy, bạn phải trả số tiền 25 triệu đồng được phân kỳ tối đa 6 tháng 1 lần. Lãi suất cho vay sẽ căn cứ vào số tiền bạn nhận tại thời điểm áp dụng mức lãi suất để tính.
2. Ông Nguyễn Văn Hiển, trú tại xã Bằng Mạc, huyện Chi Lăng hỏi: Ông ngoại tôi là liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp, đã được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Mẹ tôi là con duy nhất và là người thờ cúng ông ngoại. Vậy bà có được hưởng chế độ đối với thân nhân liệt sĩ không?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng đã được sửa đổi, bổ sung theo khoản 8 Điều 1 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13, có hiệu lực kể từ ngày 1/9/2012, quy định các chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ bao gồm:
- Trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử;
- Trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo các mức thân nhân của một liệt sĩ, thân nhân của hai liệt sĩ, thân nhân của ba liệt sĩ trở lên đối với cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con liệt sĩ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng.
Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng liệt sĩ cô đơn không nơi nương tựa, con liệt sĩ mồ côi cả cha mẹ quy định tại điểm này thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;
- Khi báo tử, liệt sĩ không còn thân nhân là cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con, thì người thừa kế của liệt sĩ giữ Bằng "Tổ quốc ghi công" được hưởng khoản trợ cấp tiền tuất một lần như đối với thân nhân liệt sĩ;
- Liệt sĩ không còn thân nhân thuộc diện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người được giao thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp mỗi năm một lần;
- Thân nhân liệt sĩ được Nhà nước mua bảo hiểm y tế; được ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở.
- Cha đẻ, mẹ đẻ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; vợ hoặc chồng; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần.
Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ có hai con là liệt sĩ trở lên được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;
- Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cần thiết căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước; khi chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp;
- Con liệt sĩ được hưởng chế độ ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học;
Cụ thể vấn đề ông Nguyễn Văn Hiển hỏi, đối chiếu thông tin ông Hiền cung cấp với quy định nêu trên, trường hợp mẹ ông Hiển là con liệt sĩ được hưởng các chế độ sau:
- Được hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ mỗi năm một lần (trừ trường hợp vợ liệt sĩ còn sống, đang hưởng trợ cấp tuất liệt sĩ hàng tháng);
- Được Nhà nước mua bảo hiểm y tế (trừ trường hợp đang hưởng bảo hiểm y tế theo chế độ hưu trí);
- Gia đình được ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, vay vốn ưu đãi để sản xuất, miễn hoặc giảm thuế; tùy theo hoàn cảnh thực tế được xem xét hỗ trợ về nhà ở.
Cùng với các chế độ ưu đãi đó, chính quyền và tổ chức đoàn thể ở địa phương có trách nhiệm thường xuyên quan tâm thăm hỏi, động viên, tặng quà thân nhân liệt sĩ, nhất là vào dịp Lễ Tết, Ngày thương binh liệt sĩ 27/7 hàng năm.
3. Ông Nguyễn Văn Du, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có thời gian công tác ở xã là 29 năm và 6 năm trong quân đội, tổng cộng là 35 năm công tác. Năm 2012, tôi đủ 55 tuổi, ông Du muốn biết, trường hợp của ông nghỉ hưu trước tuổi có được không? Nếu được ông cần làm những thủ tục gì?
Trả lời:
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội thì người lao động có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;
Điều kiện nghỉ hưu trước tuổi
\Điều kiện hưởng lương hưu trước tuổi, khi suy giảm khả năng lao động được quy định tại Điều 51, Luật BHXH và hướng dẫn tại Điều 27, Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ như sau: Người lao động đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với mức lương hưu của người đủ điều kiện (quy định tại Điều 50 Luật BHXH và Điều 26, Nghị định này) khi nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên;
Đối với trường hợp có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì không kể tuổi đời.
Hồ sơ giám định mức suy giảm khả năng lao động: Theo quy định tại khoản 3, Điều 5, Thông tư số 07/2010/TT-BYT ngày 5/4/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn việc giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động tham gia BHXH bắt buộc, thì hồ sơ giám định lần đầu gửi đến Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh tiến hành giám định mức suy giảm khả năng lao động để thực hiện chế độ hưu trí trước tuổi gồm:
- Giấy giới thiệu của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, cơ quan BHXH cấp tỉnh cấp giấy giới thiệu theo mẫu quy định;
- Giấy đề nghị giám định theo mẫu quy định ;
- Tóm tắt hồ sơ của người lao động theo mẫu quy định.
Hồ sơ hưởng lương hưu hàng tháng: Hồ sơ hưởng lương hưu hàng tháng đối với người lao động đang đóng BHXH bắt buộc, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà nam từ đủ 50 tuổi trở lên, nữ từ đủ 45 tuổi trở lên hoặc trường hợp không phụ thuộc vào tuổi đời do có đủ 15 năm làm nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại gửi cơ quan BHXH gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội (1 bản chính);
- Quyết định nghỉ việc hoặc bản chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động hết hạn của người sử dụng lao động (2 bản chính);
- Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định y khoa (2 bản chính);
Trường hợp ông đủ 55 tuổi, muốn nghỉ hưởng chế độ hưu trí trước tuổi. Ông trình bày ông có thời gian công tác ở xã là 29 năm và có 6 năm trong quân đội, tổng cộng là 35 năm công tác. Tuy nhiên thông tin ông cung cấp chưa rõ là ông công tác ở xã là cán bộ, công chức chuyên trách cấp xã có hưởng lương và tham gia đóng BHXH, hay là người hoạt động không chuyên hưởng chế độ phụ cấp.
Do đó, nếu toàn bộ thời gian công tác này, hoặc trong thời gian công tác, ông có đủ 20 năm tham gia, đóng BHXH bắt buộc trở lên, mà muốn nghỉ hưu trước tuổi thì phải giám định mức suy giảm khả năng lao động. Sau khi giám định mà Hội đồng giám định y khoa kết luận mức suy giảm khả năng lao động của ông từ 61% trở lên thì ông thuộc đối tượng nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động. Hồ sơ giám định, hồ sơ hưởng lương hưu trước tuổi, đề nghị ông thực hiện theo hướng dẫn nêu trên.
Theo quy định tại Điều 52, Luật BHXH thì mức lương hưu hằng tháng của người lao động được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện nghỉ huu trước tuổi được tính như quy định này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 03 năm 2013
1. Bà Hà Anh Minh, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Vụ án đã có bản án có hiệu lực pháp luật nhưng đến nay đã trên 50 ngày nhưng người phải thi hành án vẫn chưa thi hành trả tiền cho tôi. Vậy tôi phải làm gì để đòi được khoản tiền bồi thường này?
Trả lời:
Để được thi hành án, bà phải thực hiện thủ tục làm đơn yêu cầu thi hành án. Thủ tục làm Đơn yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2008 như sau:
“1. Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;
c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành án;
đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
2. Người làm đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân.
Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.
Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có.
3. Người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật này.”
Như vậy, bạn phải làm đơn yêu cầu thi hành án ghi rõ nội dung yêu cầu thi hành án và kèm theo tài liệu về việc cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án là bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật gửi tới cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án nhân dân xét xử bản án sơ thẩm.
2. Ông Trần Văn Út, trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi muốn nhận con nuôi nhưng bố, mẹ của cháu được nhận làm con nuôi đã ly hôn, mẹ cháu được quyền nuôi dưỡng, hiện tại bố cháu đang chấp hành hình phạt tù. Tôi xin hỏi cần những giấy tờ xác nhận phải làm như thế nào?
Trả lời
Về trường hợp của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:
Thứ nhất, vì bạn không đưa thông tin cụ thể về trẻ và bạn nên chúng tôi xin lưu ý khi bạn tiến hành thủ tục đăng ký nuôi con nuôi, trẻ em mà bạn muốn nhận nuôi cần đáp ứng điều kiện về độ tuổi theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi, cụ thể là: Trẻ em dưới 16 tuổi; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi; Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng; Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.
Mặt khác, bạn là người nhận nuôi cũng phải đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, cụ thể là: Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; d) Có tư cách đạo đức tốt.
Những người sau đây không được nhận con nuôi: a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; c) Đang chấp hành hình phạt tù; d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.
Thứ hai, tuy bố mẹ cháu đã ly hôn và quyền nuôi dưỡng thuộc về người mẹ nhưng khi tiến hành các thủ tục đăng ký nuôi con nuôi, cán bộ Tư pháp hộ tịch được phân công giải quyết vẫn cần lấy ý kiến về sự đồng ý cho trẻ làm con nuôi của người bố. Bố cháu bé đang chấp hành hình phạt tù không ảnh hưởng đến việc lấy giấy đồng ý này, vì cán bộ tư pháp hộ tịch xã có thể liên hệ với ban quản lý trại giam nơi bố cháu bé đang chấp hành hình phạt tù để được gặp mặt và phổ biến các quy định của pháp luật, lấy ý kiến về việc này.
Như vậy bạn cần chuẩn bị các loại giấy tờ được quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010 và nộp tại UBND xã nơi thường trú của trẻ để được hướng dẫn và giải quyết việc nuôi con nuôi.
3. Bà Hoàng Thúy Hạnh, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thủ tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được quy định như thế nào?
Trả lời
Khi có thiệt hại xảy ra, người bị thiệt hại trong hoạt động quản lý hành chính có thể thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước thông qua một trong hai thủ tục sau đây:
1. Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường. Hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm:
+ Đơn yêu cầu bồi thường;
+ Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;
+ Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.
2. Trường hợp khởi kiện vụ án hành chính, người khởi kiện cho rằng, hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính thực hiện việc giải quyết bồi thường.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 05 tháng 03 năm 2013
1.Bà Lê Thị Hương, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Do không thể chung sống được với nhau, vợ chồng tôi quyết định ly hôn. Vậy đề nghị quý Đài cho biết quy định về chia tài sản và quyền nuôi con khi ly hôn, vấn đề án phí được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật thì nếu tình trạng vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn. Vợ chồng có thể thỏa thuận việc ly hôn, thỏa thuận người trực tiếp nuôi con chưa thành niên, thỏa thuận việc phân chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi vợ chồng cư trú ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn. Trường hợp không thỏa thuận được, thì có thể làm đơn khởi kiện gửi Tòa án giải quyết.
Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình (HNGĐ) quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng từ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân. Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Tại Điều 27 quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu (như nhà ở, quyền sử dụng đất…) thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng phải ghi tên của cả vợ chồng. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Đối với việc nuôi con: tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định khi ly hôn vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới 3 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Về mức án phí: Theo mục 1 và điểm c, mục 2, Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12), án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 200.000 đồng và mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch từ trên 400 triệu đồng đến 800 triệu đồng là 20 triệu đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400 triệu đồng.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với các vụ việc tranh chấp dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và đúng pháp luật. Nếu không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Toà án sẽ đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ, phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự bằng bản án. Như vậy khi ly hôn thì đương sự cần thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ về tài sản riêng, tài sản chung, nghĩa vụ trả khoản nợ chung vay ngân hàng, điều kiện nuôi con… để giao nộp cho Tòa án. Trên cơ sở đánh giá cụ thể, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, Tòa án sẽ áp dụng pháp luật để tuyên bản án ly hôn, giao người trực tiếp nuôi con, phân chia tài sản, nghĩa vụ trả nợ khoản tiền vay chung và mức nộp án phí cụ thể đối với vợ và chồng theo quy định của pháp luật.
2. Ông Nguyễn Đình Thức, trú tại xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng hỏi: Người Chưa thành niên là người bao nhiêu tuổi, khi phạm tội thì bị áp dụng hình phạt như thế nào?
Trả lời
Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Theo quy định của BLHS năm 1999 thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này.
Về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội Điều 69 BLHS quy định: Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
3. Ông Nguyễn Hùng Ba, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi về tội Đánh bạc: Theo quy định tại Điều 248 BLHS thì đánh bạc trái phép từ 2 triệu trở lên sẽ bị truy tố. Vậy xác định “tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc” được hiểu như thế nào?
Tại Điều 1, Điều 3 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248, 249 Bộ luật hình sự thì: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. Theo đó, “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm: a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc; b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc; c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 26 tháng 02 năm 2013
1. Bà Nguyễn Thúy Thương, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi làm thủ tục thừa kế cần phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian trước khi người đó chết không?
Trả lời:
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân cho người để lại di sản là rất cần thiết để xác định những người thừa kế theo pháp luật của người đó hoặc xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cụ thể như sau:
1. Trường hợp thừa kế theo pháp luật
Hàng thừa kế và người thừa kế được quy định tại Ðiều 676 BLDS:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Từ quy định nêu trên thì khi chia thừa kế theo pháp luật, người vợ/người chồng của người để lại di sản luôn luôn được xác định là một trong những người đầu tiên hưởng di sản.
2. Trường hợp thừa kế theo di chúc
Trong trường hợp người để lại di sản có để lại di chúc để chỉ định những người hưởng di sản thì người chồng/người vợ vẫn luôn luôn có quyền được hưởng di sản đó cho dù người đó có được chỉ định trong di chúc hay không (trừ trường hợp quy định tại Điều 642, khoản 1 Điều 643 BLDS).
Quy định trên được thể hiện tại Điều 669 BLDS: Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Ðiều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Ðiều 643 BLDS:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Từ hai trường hợp nêu trên (thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật) có thể thấy:
- Nếu tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết) mà chồng/vợ của người để lại di sản vẫn còn sống thì đương nhiên người chồng/người vợ luôn luôn được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc (trừ trường hợp quy định tại Điều 642, khoản 1 Điều 643 BLDS).
- Nếu tại thời điểm mở thừa kế, người để lại di sản có tình trạng hôn nhân là độc thân (ví dụ: người chồng/người vợ đã chết; hoặc vợ chồng đã ly hôn (bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật); hoặc người để lại di sản chưa kết hôn với ai) thì cần phải có giấy tờ chứng minh.
Vậy, việc xác định tình trạng hôn nhân của người để lại di sản tính đến thời điểm người đó chết là cần thiết và rất quan trọng để xác định đúng và đủ người thừa kế.
2. Bà Hà Thị Bảy, trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Chồng tôi vay 150 triệu đồng để kinh doanh với lãi suất 10%/tháng, số tiền vay tính luôn cả lãi trong một năm là 330 triệu đồng nên chồng tôi phải ký nhận vay 330 triệu và chỉ ghi lãi 1%/tháng trong hợp đồng. Hàng tháng trả tiền lãi chồng tôi có làm biên nhận có chữ ký người cho vay. Do việc kinh doanh khó khăn nên chồng tôi mất khả năng trả nợ, xin được trả dần nhưng không đươc chấp thuận và bên cho vay đòi kiện ra tòa. Vậy chúng tôi có bị truy cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không và xử lý thế nào?
Trả lời
Khi cơ quan có thẩm quyền truy cứu một người phạm tội theo Bộ luật Hình sự thì phải có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Chủ thể: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Chồng bạn có rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự không? Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
- Khách thể: Xâm phạm quan hệ sở hữu được BLHS bảo vệ.
- Các dấu hiệu về mặt khách quan:
Hành vi khách quan là chiếm đoạt; chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối: Chồng bạn có hay không có sự lừa dối ngay từ khi giao kết hợp đồng vay tiền (ký kết hợp đồng vay tiền là sự giả tạo để thực hiện mục đích khác); và sau khi vay được tiền thì chồng bạn có hành vi chiếm đoạt số tiền đó không (không trả lãi, cố tình không trả tiền khi người cho vay đòi lại…).
Hậu quả là sự thiệt hại về tài sản: Thiệt hại xảy ra với bên vay tiền là không đòi lại được khoản tiền cho vay và tiền lãi theo thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Các dấu hiệu về mặt chủ quan: Người phạm tội có lỗi cố ý, mong muốn chiếm đoạt được tài sản đó. Ngay từ trước khi vay tiền thì chồng bạn đã có mục đích chiếm đoạt số tiền đó hay không. Nếu sau khi đã nhận tiền vay thì chồng bạn mới có ý định chiếm đoạt số tiền đó thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng như tội lạm dụng tín nhiệm tài sản.
Việc chồng bạn có bị truy cứu tội lừa đảo chiếm đoạt hay không thì cơ quan điều tra phải làm rõ hành vi của chồng bạn có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm như đã nêu trên hay không. Nếu đầy đủ yếu tố cấu thành thì chồng bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và xử lý theo quy định của Điều 139 Bộ luật Hình sự. Cụ thể như sau:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo như nội dung bà trình bày thì 2 bên vay và cho vay có thỏa thuận hợp pháp, không có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì đây là giao dịch dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được việc giải quyết tranh chấp thì có quyền khởi kiện ra Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 02 năm 2013
1.Ông Trần Văn Hồng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có con sang năm tới thi đại học nhưng cháu đã đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự. Tôi được biết Nhà nước vừa có quy định mới về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình. Vậy quy định này như thế nào và bao giờ có hiệu lực pháp luật?
Trả lời:
Việc hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình được quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Nghĩa vụ quân sự được sửa đổi bổ sung năm 2005. Ngày 22 tháng 01 năm 2013 Bộ GD-ĐT và Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư liên tịch số 13 sửa đổi bổ sung một số điều về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ. Thông tư này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 7.3.2013.
Theo quy định mới thì chưa làm xong thủ tục nhập học CĐ, ĐH vẫn nhập ngũ: Công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ khi đã làm xong thủ tục nhập học và đang học tập tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức giáo dục chính quy tập trung. Trường hợp công dân nhận được lệnh gọi nhập ngũ và giấy báo nhập học vào các trường trong cùng một thời điểm thì phải chấp hành lệnh gọi nhập ngũ và không thuộc đối tượng được xét tạm hoãn gọi nhập ngũ. Theo quy định trước đây, thí sinh nhận giấy báo nhập học ĐH, CĐ báo cáo với ban chỉ huy quân sự trước 10 ngày so với thời điểm giao nhận quân; thí sinh nhận giấy báo nhập học trung cấp, CĐ nghề báo cáo chậm nhất sau 3 ngày nhận được lệnh gọi nhập ngũ được tạm hoãn gọi nhập ngũ. Các đối tượng khác thuộc trường hợp được hoãn gồm: Học viên đang học tập trung theo chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS hoặc THPT tại các cơ sở giáo dục; Công dân du học tại các trường ở nước ngoài có thời gian đào tạo 12 tháng trở lên. Các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức giáo dục chính quy tập trung gồm: trường THPT, trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường chuyên, trường năng khiếu, dự bị ĐH; Trường TCCN, trung cấp nghề, CĐ nghề; Các trường CĐ, ĐH; Học viện, viện nghiên cứu có nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và tương đương; Các trường của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam.
Bên cạnh đó, Thông tư còn quy định việc được bảo lưu kết quả trúng tuyển: Những công dân không thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình là người đang theo học khóa đào tạo tập trung đầu tiên nhưng bỏ học để chuyển sang học khóa đào tạo của trường khác. Cũng theo quy định, đối tượng tạm hoãn gọi nhập ngũ là công dân có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ và học viên là hạ sĩ quan, binh sĩ đang học tập tại các trường quân đội, trường ngoài quân đội theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng. Một điểm mới khác nữa là thí sinh phải mang theo giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự do ban chỉ huy quân sự huyện cấp, giấy xác nhận đăng ký vắng mặt do ban chỉ huy quân sự xã nơi cư trú cấp khi đến trường làm thủ tục nhập học. Công dân đã nhập ngũ vào quân đội, nếu có giấy báo nhập học vào các trường đào tạo trình độ ĐH, CĐ, TCCN, CĐ nghề, trung cấp nghề trước hoặc sau thời điểm nhập ngũ thì báo cáo đơn vị quản lý biết để thông báo cho nhà trường (nơi phát hành giấy báo nhập học) bảo lưu kết quả trúng tuyển của thí sinh đến khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
2. Ông Hà Văn Út, trú tại xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng hỏi: Tôi được biết người được hưởng chế độ trợ cấp người có công là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Tuy nhiên tôi chưa hiểu những đối tượng nào được coi là người hưởng chính sách như thương binh?
Trả lời:
Người hưởng chính sách như thương binh được quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 11 ngày 29/6/2005 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 13 ngày 01/9/2012.
Theo đó, người hưởng chính sách như thương binh là: người không phải là quân nhân, công an nhân dân nhưng bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;
- Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;
- Làm nghĩa vụ quốc tế;
- Đấu tranh chống tội phạm;
- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
- Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao;
- Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.
Những người trên được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh".
3. Bà Hoàng Thị Hồng, trú tại xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Người có hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 73 năm 2010 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội thì Hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác bị xử phạt như sau:
1. Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau: Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Sử dụng trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.
2. Phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Hình thức xử phạt bổ sung: Ngoài bị phạt tiền người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hoặc phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra./.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 02 năm 2013
1. Ông Nguyễn Sỹ Lợi, trú tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng hỏi: Người có hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, các loại pháo, đồ chơi nguy hiểm bị cấm thì bị xử lý thế nào?
Trả Lời :
Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 73 ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội thì Hành vi vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, các loại pháo, đồ chơi nguy hiểm bị cấm bị xử lý như sau:
1. Phạt tiền từ 500 nghìn đồng đến 1 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Không thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời, đầy đủ quy định về kiểm tra định kỳ các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được trang bị; Vi phạm chế độ bảo quản các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; Sử dụng các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm; Lưu hành giấy phép sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ không còn giá trị sử dụng.
2. Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép; Giao vũ khí, công cụ hỗ trợ cho người không có đủ điều kiện, tiêu chuẩn sử dụng; Không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định; Không kê khai và đăng ký đầy đủ các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ với cơ quan có thẩm quyền; Sử dụng các loại pháo mà không được phép.
3. Phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Mượn, cho mượn vũ khí, công cụ hỗ trợ hoặc giấy phép sử dụng, giấy phép mua, giấy phép sửa chữa, giấy phép vận chuyển, mang vũ khí, công cụ hỗ trợ; Sửa chữa, tẩy xoá giấy phép sử dụng, giấy phép vận chuyển, giấy phép mua, giấy phép sửa chữa, giấy phép mang các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ; Làm mất giấy phép sử dụng, giấy phép vận chuyển, giấy phép mua, giấy phép sửa chữa, giấy phép mang các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ; Sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái quy định nhưng chưa gây hậu quả; Dùng vũ khí, công cụ hỗ trợ để săn bắn động vật hoang dã.
4. Phạt tiền từ 4 triệu đồng đến 8 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau: Mua, bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ với số lượng nhỏ mà không có giấy phép hoặc có giấy phép nhưng không còn giá trị; Mua, bán các loại phế liệu, phế phẩm có lẫn vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ với số lượng nhỏ; Vi phạm các quy định an toàn về vận chuyển vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; Cưa hoặc tháo bom, mìn, đạn, lựu đạn, thủy lôi và các loại vũ khí khác để lấy thuốc nổ trái phép; Sản xuất, tàng trữ, mua, bán, vận chuyển trái phép pháo, thuốc pháo và đồ chơi nguy hiểm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Làm mất vũ khí, công cụ hỗ trợ.
5. Phạt tiền từ 8 triệu đồng đến 12 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí thô sơ công cụ hỗ trợ, đồ chơi đã bị cấm mà không có giấy phép; Mua, bán, vận chuyển vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ với số lượng lớn mà không có giấy phép hoặc có giấy phép nhưng không còn giá trị; Mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép vũ khí thể thao; Vận chuyển vũ khí, các chi tiết vũ khí quân dụng, phụ kiện nổ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép hoặc có giấy phép nhưng không thực hiện đúng quy định trong giấy phép, giấy phép không còn giá trị hoặc không có các loại giấy tờ khác theo quy định của pháp luật;
6. Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Sản xuất, chế tạo, sửa chữa vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn trái phép; Mang vào hoặc mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trái phép vũ khí, súng săn, công cụ hỗ trợ, các loại pháo, đồ chơi nguy hiểm.
7. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý vật liệu nổ công nghiệp thì bị xử lý theo Nghị định của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý vật liệu nổ công nghiệp.
8. Hình thức xử phạt bổ sung: Ngoài bị xử phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung như: Tịch thu tang vật, phương tiện; Tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn 6 tháng; Tước quyền sử dụng giấy phép không thời hạn.
2. Bà Trần Thị Hải, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi thực hiện một số công việc về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôi có thắc mắc như sau: Theo quy định, lần đầu nhận thừa kế, tặng cho bất động sản thì được miễn thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ nhưng khi nào được gọi là nhận thừa kế, tặng cho lần đầu, nếu trên GCNQSD đất có 02 thửa đất, thì cả hai thửa đó đều được tính là lần đầu nhận thừa kế không, có được miễn lệ phí trước bạ cả hai thửa không?
Trả Lời :
Căn cứ theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ thì các trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ gồm: Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu.
Vậy, như thế nào được coi là được thừa kế, được tặng lần đầu? Vấn đề này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 124/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 hướng dẫn về lệ phí trước bạ. Các trường hợp thuộc diện không phải nộp lệ phí trước bạ theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 06 năm 2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ được quy định cụ thể như sau: Nhà, đất thừa kế, hoặc là quà tặng giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu.
Trường hợp này, nhà, đất được miễn lệ phí trước bạ là nhà, đất có nguồn gốc là tài sản thừa kế hoặc quà tặng mà người nhận tài sản lần đầu tiên được nhận thừa kế hoặc nhận quà tặng từ vợ (hoặc chồng), từ cha đẻ (hoặc mẹ đẻ), từ cha nuôi (hoặc mẹ nuôi), từ cha vợ (hoặc mẹ vợ), từ cha chồng (hoặc mẹ chồng), từ ông nội (hoặc bà nội), từ ông ngoại (hoặc bà ngoại), từ con đẻ (hoặc con nuôi), từ con dâu (hoặc con rể) từ cháu nội (hoặc cháu ngoại), từ anh, chị, em ruột.
Trường hợp này, khi khai lệ phí trước bạ, người nhận tài sản phải xuất trình cho cơ quan thuế các giấy tờ hợp pháp chứng minh mối quan hệ với người cho, tặng hoặc xác nhận của uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người cho hoặc nhận tài sản thường trú về mối quan hệ giữa người cho và người nhận tài sản và bản tự cam kết của chủ tài sản về việc lần đầu tiên được nhận quà tặng hoặc thừa kế, nếu khai không đúng thì phải bị truy thu lệ phí trước bạ và phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 05 tháng 02 năm 2013