Chất lượng sản phẩm làm nên thương hiệu X61

Trong câu chuyện trên quãng đường đến các phân xưởng sản xuất của Nhà máy X61 (Binh chủng Hóa học), Đại tá Nguyễn Hữu Xá, Chính ủy nhà máy thông tin với chúng tôi một chi tiết thú vị, anh cho biết: “Từ năm 2014 đến nay, trong thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm, nhà máy luôn hoàn thành chỉ tiêu sản xuất, sửa chữa hằng năm trước một quý”. Vậy đâu là lời giải bài toán "thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm" của nhà máy mà đồng chí Chính ủy đề cập?

 

Làm chủ chính mình là sức mạnh chiều sâu

Tháng Tám nắng rát mặt, cộng thêm cái nóng giữa hè hơn 36 độ nhưng dưới khuôn viên Nhà máy X61 khá dễ chịu. Những hàng cây xanh rợp bóng mát tỏa xuống con đường nội bộ dẫn vào các nhà xưởng khiến không khí dịu hẳn. Đại tá Nguyễn Hữu Xá kể rằng: Nhà máy vốn tiền thân là Tổ sửa chữa lưu động được tách ra khỏi Kho Khí tài 61 để thành lập xưởng khí tài hóa học mang phiên hiệu X61. Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, ngày 21-4-1995 Bộ Tổng tham mưu ra quyết định chuyển xưởng khí tài hóa học X61 thành Xí nghiệp 61, đồng thời tăng cường đầu tư chiều sâu, nâng cao trình độ công nghệ, năng lực sữa chữa, sản xuất, nghiên cứu cải tiến trang bị, khí tài phòng hóa của xí nghiệp. Sau một số lần thay đổi về tổ chức biên chế, đến ngày 26-5-2015 Bộ Quốc phòng đã có quyết định đổi tên Xí nghiệp 61 thành Nhà máy X61. Lịch sử xây dựng và phát triển của nhà máy gắn liền với nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ khi lúc ban đầu còn rất nhiều khó khăn đến một nhà máy vững mạnh ngày nay.

Vận hành máy móc hiện đại trong dây chuyền sản xuất khí tài hóa học đòi hỏi những người thợ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất.

Ở Nhà máy X61, các phân xưởng hoạt động liên tục để hoàn thiện chuỗi dây chuyền sản xuất thiết bị, khí tài phòng hóa. Nơi đầu tiên chúng tôi đặt chân đến là Phân xưởng sản xuất các chi tiết cao su thuộc Xưởng sản xuất khí tài hô hấp. Trên mặt bằng trải rộng được quy hoạch thành từng khu, từng nguyên vật liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra được sắp đặt theo một quy trình chặt chẽ, khoa học. Những người thợ làm việc rất khẩn trương, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Trong các công đoạn chính để sản xuất các chi tiết mặt nạ trùm, những người thợ chủ yếu thao tác bằng cách điều khiển các nút bấm tự động. Thượng tá Vũ Văn Khay, Phó giám đốc nhà máy cho biết: Các sản phẩm hoàn thiện phải trải qua một quá trình kiểm tra kỹ thuật nghiêm ngặt tại Phòng KCS. Việc thực hiện KCS được tiến hành từ khâu bán thành phẩm. KCS chặt chẽ ở tất cả các khâu. Sản phẩm sản xuất được KCS qua 3 cấp (cấp xưởng, cấp nhà máy, cấp trên). Do đó chất lượng sản phẩm xuất xưởng luôn ổn định, đáp ứng tốt yêu cầu kỹ thuật.

Những năm qua, Nhà máy đã được đầu tư mới nhiều dây chuyền công nghệ, đáp ứng yêu cầu sản xuất cao cả về số lượng, chất lượng và chủng loại theo nhu cầu của binh chủng và toàn quân. Một điều mà các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy nhà máy rất tự hào trong câu chuyện với chúng tôi đó là nhà máy sản xuất nhiều sản phẩm trang bị, vật tư kỹ thuật bằng chính các nguồn nguyên liệu khai thác trong nước, thay thế nguyên liệu, sản phẩm nhập ngoại. Điều này giúp giảm giá thành sản phẩm, tiết kiệm ngân sách cho nhà nước và quân đội. Những năm qua, nhà máy đã tập trung cao về nhân lực, vật lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất trang bị hóa học như bộ mặt nạ phòng độc MV-5, bao tiêu độc cá nhân, hộp phát khói, lựu đạn khói, thùng phát khói, ống trinh độc… Song song với đó, nhà máy đã hoàn thành việc tiếp nhận, sửa chữa, bàn giao cho các đơn vị nhiều lượt xe (sửa chữa, điêzen hóa, cải hoán) và khí tài lẻ các loại.

Khi sáng kiến là động lực phát triển

Đâu là “đòn bẩy” để nhà máy luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ những năm qua?-chúng tôi đặt câu hỏi này với Thượng tá Phạm Văn Vỹ, Giám đốc nhà máy. Anh cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân đưa đến kết quả đó nhưng ban giám đốc rất tâm đắc với phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật và luôn coi đây là động lực phát triển. Ở Nhà máy X61, mọi cán bộ, nhân viên đều có thể đề xuất, tham gia phát huy sáng kiến và kết quả các sáng kiến đều được trân trọng, nếu có giá trị thực tiễn sẽ được đưa vào ứng dụng. Có rất nhiều sáng kiến đã phát huy tốt hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao, tiết kiệm công sức cho bộ đội. Để minh chứng cho điều này anh giới thiệu chúng tôi qua Xưởng Sửa chữa Xe-máy đặc chủng.

 Kỹ sư Nguyễn Việt Nga người "sở hữu" nhiều sáng kiến kỹ thuật.

Ở Xưởng Sửa chữa Xe-máy đặc chủng, Đại úy Nguyễn Việt Nga, Quản đốc xưởng là người khá đặc biệt. Gặp Nguyễn Việt Nga chúng tôi ấn tượng ngay từ cái tên gọi. Anh cho biết, tên của anh chính là kỷ niệm tình hữu nghị trong sáng những ngày cha anh được học tập, trưởng thành ở đất nước Liên Xô ngày trước. Nga dáng dong dỏng cao, riêng đôi mắt toát lên sự tự tin. Hiện tại anh đang “sở hữu” nhiều sáng kiến rất có giá trị, trong đó nổi bật là “thiết bị chắn sóng xung kích bảo vệ hệ thống lọc độc tập thể trong các công sự” do anh và đồng nghiệp Nguyễn Văn Ngân nghiên cứu, chế tạo. Hệ thống này có chức năng lọc không khí nhiễm độc, nhiễm xạ, cung cấp không khí sạch cho những người hoạt động trong công sự. Sáng kiến được Binh chủng Hóa học cấp chứng chỉ và đưa vào sản xuất, trang bị cho các đơn vị trong binh chủng.

 Đặng Thành Vương, một người thợ sửa chữa ô tô có nhiều sáng kiến.

Không được đào tạo bài bản qua trường lớp như Nguyễn Việt Nga, nhưng Đặng Thành Vương, một thợ sữa chữa ô tô cũng “sở hữu” bảng thành tích rất đáng nể. Nhìn công việc mà Vương thao tác mới thấy anh là một trong những thợ lành nghề hiếm có. Vương dáng người thấp đậm, rất từ tốn, điềm đạm. Công việc anh làm đã thay cho phần “thuyết trình” của anh. Những chi tiết mà anh sửa chữa đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối nên lúc nào cũng phải tập trung cao độ. Sáng kiến đặc biệt nhất của Nguyễn Thành Vương phải nhắc đến đó là “Bàn ép thủy lực tháo bơm con phanh ô tô và giá tháo lắp hộp số” mang lại giá trị kinh tế cao, giảm nhiều công sức cho người lao động.

Đại tá Nguyễn Hữu Xá cho biết thêm, thời gian qua, Hội đồng sáng nhà máy và binh chủng đã xét, công nhận 68 sáng kiến. Tiêu biểu như sáng kiến “Bộ thiết bị sửa chữa và kiểm tra độ kín mặt trùm MV-5”, “Cải tiến hệ thống điều khiển tủ sấy”, “Cải tiến, phục hồi thiết bị đo kiểm tra hệ số lọt qua hộp lọc độc cá nhân EO-16 sang đo hộp lọc độc MV-5”, “Bộ đồ gá sản xuất xô 10 lít xe APC-14”; “Thiết bị điều khiển hàn lắp lựu đạn khói”; “Thiết kế chế tạo thiết bị cắt dải cao su”; “Thiết kế chế tạo thiết bị xử lý bụi khi trình nạp than hộp lọc tập thể”; Biên soạn 8 quy trình công nghệ, 10 bộ quy trình hiệu chuẩn; chỉnh sửa 7 bộ quy trình công nghệ sản xuất 7 loại sản phẩm ống trinh độc và lựu đạn khói… Tổ chức đánh giá nội bộ áp dụng 2 tiêu chuẩn ISO về chất lượng và môi trường (ISO 14001:2010 và ISO 9001:2008).

Một tập trung… nhiều đột phá

Giám đốc nhà máy-Thượng tá Phạm Văn Vỹ cho biết, nhà máy cũng từng trải qua những giai đoạn khó khăn trong đó có nhiều vấn đề khiến Đảng ủy, Ban giám đốc rất trăn trở như làm thế nào để có được nguồn nhân lực chất lượng cao, vấn đề an toàn lao động, quy trình chuẩn để sản xuất đảm bảo chất lượng, nâng cao đời sống cán bộ, chiến sĩ… Và tất cả những vấn đề đó, được tập thể ban giám đốc tập trung bàn bạc, tháo gỡ từng bước.

 Có những công đoạn hoàn thiện khí tài phòng hóa khá tỉ mỉ đòi hỏi những người thợ phải làm thủ công.

Điều đầu tiên ban giám đốc nhà máy quyết tâm thực hiện đó là làm thay đổi nhận thức về an toàn lao động cho cán bộ, nhân viên, người lao động. Để có một người thợ đứng máy tuân thủ chặt chẽ quy trình sản xuất, kỷ luật lao động như hiện nay có thể coi là một cuộc cách mạng thay đổi nhận thức, thói quen. Trước kia một người thợ có thể không đeo khẩu trang, không mang bảo hộ lao động ở một công đoạn nào đó thì nay chuyện đó không còn nữa. Tất cả đều phải tuân thủ quy tắc an toàn và tuân thủ chặt chẽ bảo hộ lao động khi bắt đầu công việc. Từ khi nhà máy nhập về nhiều dây chuyền sản xuất, sửa chữa khí tài mới, ban giám đốc đã thống nhất thực hiện việc đưa đi đào tạo và tự đào tạo đội ngũ từ quản lý đến những người thợ. Khi sản phẩm đưa ra thị trường, nhà máy tổ chức khảo sát thực tế, tiếp thu ý kiến về chất lượng, mẫu mã sản phẩm tại các đơn vị trong toàn quân, để có những điều chỉnh phù hợp.

Trước mỗi nhiệm vụ, mỗi giai đoạn quan trọng, Đảng ủy, Ban giám đốc Nhà máy đã đề ra nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, trong đó trọng tâm là ổn định tổ chức, xác định tốt tư tưởng, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, nhân viên. Nhà máy triển khai thi đua toàn diện với quyết tâm: “Một tập trung, hai đột phá”; “Một tập trung, ba đột phá”, trong đó xuyên suốt là tập trung giữ vững chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất, sửa chữa. Đột phá được xác định là nâng cao chất lượng huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ và nhân viên chuyên môn kỹ thuật; xây dựng nền nếp chính quy kỹ thuật, rèn luyện kỷ luật (chú trọng kỷ luật công nghệ), bảo đảm an toàn tuyệt đối trong sản xuất, đổi mới phương pháp, tác phong công tác. Cùng với việc đơn vị duy trì chặt chẽ kỷ luật lao động, thông qua công tác tuyên truyền, kết hợp khen thưởng, xử phạt cán bộ, nhân viên, người lao động đã từng bước thay đổi thói quen, từng bước chuyên nghiệp hóa. Đơn vị cũng đặc biệt nhấn mạnh coi trọng xây dựng đơn vị điểm, cá nhân tiên tiến và nhân rộng gương người tốt, việc tốt.

Với sự nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ, người lao động, Nhà máy X61 đang không ngừng vươn lên, trở thành một trong những đơn vị sản xuất, sửa chữa trang bị khí tài hóa học, vật tư kỹ thuật đầu ngành của Binh chủng Hóa học và toàn quân. 

Theo qdnd.vn
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Kinh ngày 10/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/VA NHAC KINH 10-12_0.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 10/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/CA NHAC TAY10-12.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Dao ngày 10/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/CA NHAC DAO 10-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 9/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/kinh toi 9-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 9/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/tay 9-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 9/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/dao 9-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 8/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/CT KINH TOI 8-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 8/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/CT TAY 8-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 8/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/CT DAO 8-12.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 7/12/2017
sites/default/files/audio/2017/12/CT KINH 7-12.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 11/12/2017
6:02:22 Bản tin sáng Ngày 11/12/2017

6:07:41 Quốc tế sáng Ngày 11/12/2017

6:13:30 Điểm báo Lạng Sơn Số 49

6:20:20 Văn bản mới, chính sách mới Số 279

6:24:35 Mỗi ngày một cuốn sách Số 313

6:28:47 Sitcom 5s Tập 101

6:43:22 Chuyên mục 1: Cải cách hành chính

6:52:24 Chuyên mục 2: Thi đua yêu nước

6:57:28 Ký sự Ký sự Amazon - Tập 14/35

7:15:04 Phim hoạt hình Tập 102 - Bọ hung bọ rùa và chú ve

7:24:59 Chuyên mục 1: Vì an ninh Xứ Lạng

7:37:45 Chuyên mục 2: Khuyến nông Lạng Sơn

7:47:45 Thế giới tuổi thơ Số 26

8:04:45 Phim Khoa giáo Giới hạn của cơ thể con người - tập 9

8:27:45 Ca nhạc Câu sli Xứ Lạng

8:59:55 Bản tin sáng Ngày 11/12/2017


9:05:14 Quốc tế sáng Ngày 11/12/2017

9:10:07 Bản tin tiếng trung Ngày 11/12/2017

9:28:37 Truyền hình tiếng Tày Ngày 9/12/2017

10:00:09 Thời sự tổng hợp Ngày 10/12/2017

10:29:09 Mục An toàn giao thông ATGT Những điều cần biết - số 12

10:34:09 Chuyên mục 3: Dân số và phát triển

10:44:09 Chuyên mục 4: Pháp luật với cuộc sống

10:54:42 Chuyên mục 5: Khám phá Lạng Sơn

11:00:41 Phim truyện Cảnh sát đặc nhiệm - tập 20/45 - Phim Singapo

11:45:01 Bản tin trưa Ngày 11/12/2017

12:00:00 Phim truyện Thử thách tình đời - Tập 28/91 phim HQ

12:44:48 Tác phẩm mới Số 11/2017

13:00:29 Play Music Chương trình truyền hình tương tác

14:59:40 Bản tin chiều Ngày 11/12/2017

15:14:40 Phim truyện Thiên đường bên ta - tập 8/35 phim VN

15:59:20 Điểm báo Lạng Sơn Số 49

16:06:10 Văn bản mới, chính sách mới Số 279

16:10:25 Sitcom 5s Tập 101

16:25:00 Tinh hoa võ thuật Số 21

16:40:27 Truyền hình tiếng Dao Ngày 11/12/2017


17:10:27 Chuyên mục 3: Xây dựng nông thôn mới

17:20:18 Chuyên mục 4: Điểm tin tuần qua

17:27:44 Bản tin tiếng trung Ngày 11/12/2017

17:47:44 Phim hoạt hình Tập 103 - Bộ xương biết múa

17:57:48 Mỗi ngày một cuốn sách Số 313

18:02:25 Phim truyện Thiên đường bên ta - tập 9/35 phim VN

18:47:25 Chuyên mục : An toàn giao thông

19:00:03 Chuyển tiếp VTV1 Chương trình thời sự VTV1

19:50:11 Thời sự tổng hợp Ngày 11/12/2017

20:20:11 Trong tỉnh, trong nước, quốc tế Ngày 11/12/2017

20:27:11 Bản tin Thể thao Ngày 11/12/2017

20:32:11 Chuyên mục 1: Vấn đề hôm nay

20:37:11 Chuyên mục 2: Điện lực Lạng Sơn vì sự phát triển cộng đồng

20:47:40 Phim truyện Cảnh sát đặc nhiệm - tập 21/45 - Phim Singapo

21:33:10 Chuyên mục 3: Công nghiệp thương mại Xứ Lạng

21:43:01 Chuyên mục 4: Người cao tuổi

21:51:28 Chuyên mục 5: Khám phá Lạng Sơn

21:56:42 Phim truyện Thử thách tình đời - Tập 29/91 phim HQ

22:42:30 Sitcom 5s Tập 102

22:57:30 Mỗi ngày một cuốn sách Số 313

23:01:40 Ra đa TV Tác chiến kì dị - P3

23:31:40 Ca nhạc Nắng ấm quê hương

  •  TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    (Tuần 1) Thứ ba, ngày 05 tháng 12 năm 2017

    Câu 1. Ông Trương Minh Lộc trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi:  Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 9, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

    1. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

    a) Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

    b) Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

    c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

    d) Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

    đ) Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

    e) Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

    g) Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;

    h) Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

    i) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

    k) Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

    2. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các nghĩa vụ sau đây:

    a) Chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

    b) Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định của Luật thi hành tạm giữ tạm giam và pháp luật có liên quan.

    Câu 2. Ông Nguyễn Hoàng Trung trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các hành vi nào vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh rượu?  Điều kiện bán buôn rượu và điều kiện để bán lẻ rượu?

    Trả lời:

    Theo Điều 7 Nghị định Số: 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu quy định các hành vi vi phạm quy định về kinh doanh rượu như sau:

    1. Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép theo quy định tại Nghị định về kinh doanh rượu.

    2. Sử dụng cồn thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn, cồn công nghiệp hoặc nguyên liệu bị cấm khác để sản xuất, pha chế rượu,

    3. Cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh rượu.

    4. Trưng bày, mua, bán, lưu thông, tiêu thụ các loại rượu không có tem, nhãn đúng quy định của pháp luật, rượu không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn thực phẩm, rượu không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

    5. Bán rượu cho người dưới 18 tuổi, bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet, bán rượu bằng máy bán hàng tự động.

    6. Quảng cáo, khuyến mại rượu trái quy định của pháp luật.

    * Điều kiện để bán buôn rượu được quy định như sau:

    1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của phập luật.

    2. Có quyền sử dụng hợp pháp kho hàng hoặc hệ thống kho hàng với tổng diện tích sàn sử dụng từ 50 m2 trở lên.

    3. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

    4. Có hệ thống bán buôn rượu trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi thương nhân đặt trụ sở chính với ít nhất 03 thương nhân bán lẻ rượu.

    5. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu khác,

    6. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

    * Điều kiện bán lẻ rượu được quy định như sau:

    1. Là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật.

    2. Có quyền sử dụng hợp pháp địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng.

    3. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu.

    4. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

    5. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

    Câu 3. Ông Vương Văn Tân trú tại Xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về vệ sinh thú y đối với giết mổ động vật nhỏ lẻ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật?

    Trả lời:

    Theo Nghị định Số: 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y

    Quy định xử phạt hành vi vi phạm về vệ sinh thú y đối với giết mổ động vật nhỏ lẻ; sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật nhỏ lẻ như sau:

    1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi người trực tiếp tham gia giết mổ động vật, sơ chế, chế biến sản phẩm động vật không bảo đảm tiêu chuẩn về sức khỏe và vệ sinh thú y trong quá trình thực hiện.

    2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi trang thiết bị, dụng cụ, nước sử dụng không bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y trong quá trình giết mổ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được cuộc gọi từ thính giả Vy Văn Đèn, số điện thoại…….. trú tại thôn Bản Lam, xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng hỏi: Gia đình ông thuộc diện hộ nghèo nhưng không được hỗ trợ tiền điện thắp sáng, như vậy có đúng không? và những đối tượng nào được hưởng chính sách này?

    Thưa ông theo Điểm a, Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 190/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 của Bộ Tài chính quy định thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội. Theo đó, đối tượng được hỗ trợ tiền điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt là một trong những hộ gia đình sau:

    Phải là hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo tiêu chí quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nếu có (Văn bản hiện hành áp dụng là theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020); Trường hợp địa phương có hộ nghèo theo chuẩn quy định của địa phương cao hơn chuẩn hộ nghèo quốc gia thì thực hiện theo chuẩn hộ nghèo thực tế tại từng địa phương, kinh phí hỗ trợ tiền điện cho số hộ nghèo có chuẩn nghèo cao hơn chuẩn quốc gia do ngân sách địa phương đảm bảo theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

    Qua điện thoại, ông chỉ nói gia đình ông là hộ nghèo nhưng không được hỗ trợ chính sách tiền điện thắp sáng, nên chúng tôi không có căn cứ rõ ràng để xác định gia đình ông có phù hợp với tiêu chí quy định là hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt hay không. Vì vậy đề nghị ông liên hệ trực tiếp với UBND xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 28 tháng 11 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Ba trú tại xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc hỏi: Nơi tiếp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Thông tư số: 67/2013/TT-BCA ngày 11/12/2013 của Bộ Công an về việc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh vùng biên giới cho công dân Việt Nam qua lại biên giới Việt Nam - Trung Quốc thì nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được quy định như sau:

     

    - Công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc có nhu cầu cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh nộp hồ sơ tại Công an cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú, khi nộp hồ sơ phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân; người dưới 14 tuổi phải xuất trình giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu để kiểm tra, đối chiếu;

     

    - Cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước có trụ sở đóng tại vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ thì nộp hồ sơ tại Công an cấp huyện nơi cơ quan đóng trụ sở;

     

    - Người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

     

     Thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh là 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp hồ sơ của người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh chưa đầy đủ thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy thông hành thông báo cho người đề nghị biết và thời hạn được tính lại kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không giải quyết phải trả lời và nêu rõ lý do cho người đề nghị biết.

     

    Thẩm quyền cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh

     

    - Trưởng Công an cấp huyện tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan có trụ sở đóng tạihuyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đó được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ. Trường hợp Trưởng Công an cấp huyện vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp huyện được Trưởng Công an cấp huyện ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp huyện chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp huyện và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    - Trưởng công an cấp xã tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn đó. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp xã được Trưởng Công an cấp xã ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp xã chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp xã và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    Câu 2. Ông Trần Hoàng Giang trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi vượt biên sang nước khác để lao động bị xử lý như thế nào? Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ tại Khoản 3 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

     

     Về Vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại sẽ bị xử phạt như sau:

     

    "3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định;

     

    b) Trốn hoặc tổ chức, giúp đỡ người khác trốn vào các phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài;

     

    c) Cho người khác sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    d) Sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

     

    đ) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 16 ngày trở lên mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

     

    e) Người nước ngoài đã được cấp thẻ thường trú mà thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại."

     

    Theo Điểm b Khoản 1 Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã. 

     

    Như vậy, hành vi vượt biên trái phép trước tiên sẽ bi xử lý hành chính với mức phạt: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định.

     

    Theo điều 274 Bộ luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại nước ngoài hoặc ở lại việt Nam trái phép.

     

    "Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở  lại nước ngoài, ở  lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Thành trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật các hành vi nào bị nghiêm cấm trong an toàn vệ sinh lao động?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động quy định về các hành vi bị cấm như sau:

     

    1. Che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không thực hiện các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến người, tài sản, môi trường; buộc người lao động phải làm việc hoặc không được rời khỏi nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng của họ hoặc buộc người lao động tiếp tục làm việc khi các nguy cơ đó chưa được khắc phục.

     

    2. Trốn đóng, chậm đóng tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không chi trả chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không đúng quy định của pháp luật; truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

     

    3. Sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không được kiểm định hoặc kết quả kiểm định không đạt yêu cầu hoặc không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.

     

    4. Gian lận trong các hoạt động kiểm định, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường lao động, giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động, người sử dụng lao động.

     

    5. Phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân biệt đối xử vì lý do người lao động từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình; phân biệt đối xử vì lý do đã thực hiện công việc, nhiệm vụ bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, an toàn, vệ sinh viên, người làm công tác y tế.

     

    6. Sử dụng lao động hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động.

     

    7. Trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 14 tháng 11 năm 2017

    Câu 1. Ông Lương Minh Thao trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Số định danh cá nhân là gì? trình tự thủ tục cấp số định danh cá nhân được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Ngày 20/11/2014, Quốc hội thông qua Luật Căn cước công dân. Theo đó, từ ngày 1/1/2016 chứng minh thư nhân dân sẽ được thay thế bằng thẻ Căn cước công dân.

    Đối với chứng minh thư nhân dân được cấp trước ngày Luật Căn cước công dân có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định. Khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ căn cước công dân.

    - Số định danh cá nhân là dãy số của thẻ căn cước công dân khi trẻ em đủ 14 tuổi. 

    - Thẻ căn cước công dân là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bao gồm 12 nội dung sau: Số định danh cá nhân, ảnh, họ và tên, tên thường gọi, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh, quê quán, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, số chứng minh nhân dân, nơi thường trú, nơi ở hiện tại, nhóm máu, số hộ chiếu, họ tên cha, họ tên mẹ (số định danh cá nhân đối với người Việt Nam và quốc tịch đối với người nước ngoài, không quốc tịch), tình trạng hôn nhân, họ tên vợ hoặc chồng, họ tên con, ngày tháng năm mất.

    - Về thẩm quyền cấp mã số cá nhân, công an cấp huyện, cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền cấp cho công dân đối với người đã đăng ký khai sinh trước ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực.

    - Sau khi Luật Hộ tịch có hiệu lực, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường cấp số định danh cá nhân cho công dân mới sinh khi công dân đăng ký khai sinh.

    Trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đăng ký khai sinh:

    Trường hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì khi nhận đủ giấy tờ để đăng ký khai sinh, cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch, quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có trách nhiệm chuyển ngay các thông tin của người được đăng ký khai sinh cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; trong đó phải thu thập các thông tin sau đây để cấp số định danh cá nhân:

    - Họ, chữ đệm và tên khai sinh;

    - Ngày, tháng, năm sinh;

    - Giới tính;

    - Nơi đăng ký khai sinh;

    - Quê quán;

    - Dân tộc;

    - Quốc tịch;

    - Họ, chữ đệm và tên, quốc tịch của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp; trừ trường hợp chưa xác định được cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp.

    Trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú:

    Công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân theo quy định thì khi làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân, cơ quan quản lý căn cước công dân có trách nhiệm thu thập, chuyển các thông tin về công dân theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an; trong đó ít nhất phải có các thông tin quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này và các thông tin dưới đây để cấp số định danh cá nhân:

    - Nơi thường trú;

    - Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ, quan hệ với chủ hộ.

    Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an kiểm tra thông tin của công dân, cấp và chuyển ngay số định danh cá nhân cho cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân.

    Câu 2. Ông Hoàng Ngọc Tú trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện để trở thành người giám hộ là gì? thủ tục hồ sơ đăng ký làm người giám hộ được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 49, Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015 thì cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

    Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ; Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

    Về Thủ tục, hồ sơ đăng ký làm người giám hộ:

    Người có yêu cầu đăng ký giám hộ nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp phường, xã có thẩm quyền.

    Hồ sơ đăng ký giám hộ được lập thành 01 bộ hồ sơ, gồm các giấy tờ sau:

    Giấy tờ phải nộp: Người được cử làm giám hộ phải nộp Giấy cử giám hộ. Giấy cử giám hộ do người cử giám hộ lập, nếu có nhiều người cùng cử một người làm giám hộ, thì tất cả phải cùng ký vào Giấy cử giám hộ.

    Trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, thì người cử giám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản đó, có chữ ký của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ.

    Danh mục tài sản được lập thành 3 bản, một bản lưu tại Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi đăng ký việc giám hộ, một bản giao cho người giám hộ, một bản giao cho người cử giám hộ.

    Giấy tờ phải xuất trình:

    Bản chính Giấy CMND, hộ khẩu của người giám hộ, người cử giám hộ và người được giám hộ; Bản chính giấy tờ chứng minh điều kiện của người giám hộ (chỗ ở, thu nhập…); Bản chính giấy tờ chứng minh mối quan hệ giữa người giám hộ với người được giám hộ và người cử giám hộ.

    Câu 3. Bà Nông Thị Mai trú tại thị trấn Lộc Bình huyện Lộc Bình hỏi: mức phí đóng bảo hiểm ý tế tự nguyện cho hộ gia đình hiện nay là bao nhiêu theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế thì: “Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất".

    Như vậy, với việc tăng mức lương cơ bản từ 1/7/2017 lên 1,3 triệu đồng/tháng. Do đó, giá mua bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2017 cho hộ gia đình đối với các thành viên cụ thể như sau:

    + Phí đóng BHYT tự nguyện người thứ nhất là 702.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ hai là 492.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ ba là 422.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ tư là 351.000 đồng/ năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ năm trở lên 281.000 đồng/năm

    Tương tự với những thành viên tiếp theo của những gia đình có nhân khẩu nhiều người hơn.

     Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Bà Ma Thị Thiểm trú tại thôn Nà Mèo, xã Hòa Bình, huyện Bình Gia thắc mắc về việc UBND huyện Bình Gia thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà.

    Đề nghị bà khiếu nại đến UBND huyện Bình Gia theo quy định của Luật Khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

    2. 20 hộ dân trú tại thôn Nà Trang, khối 6, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn tố cáo về việc các doanh nghiệp trên địa bàn khu dân cư sinh sống gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến các hộ dân.

    Đơn của 20 hộ dân chúng tôi đã chuyển đến UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI


    Thứ ba, ngày 07 tháng 11 năm 2017


    Câu 1. Ông Vy Văn Báu trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là thương binh hạng 3/4, con tôi nhập học tại một trường cao đẳng nghề Lạng Sơn. Vậy tôi xin hỏi con tôi có được miễn giảm học phí không?

    Trả lời:

    Theo Khoản 2 Điều 62 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định về Chính sách đối với người học như sau:

    “2. Người học được Nhà nước miễn học phí trong các trường hợp sau đây:

    a) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;

    b) Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp;

    c) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương quy định; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.”

    Đồng thời, Điểm a, Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 09/2016 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021 cũng quy định như sau:

    “2. Đối tượng được miễn học phí:

    a) Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được hợp nhất tại văn bản số 01/VBHN-VPQH ngày 30 tháng 7 năm 2012 của Văn phòng Quốc hội. Cụ thể:

    – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh; Người hưởng chính sách như thương binh; Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến (nếu có);

    – Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (nếu có); con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (nếu có); con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh; con của người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học…”

    Như vậy, theo quy định trên, con ông thuộc diện được miễn giảm học phí.

    Hồ sơ miễn giảm học phí bao gồm các giấy tờ sau:

    – Đơn xin miễn, giảm học phí (theo mẫu);

    – Giấy khai sinh (công chứng hoặc bản sao có dấu đỏ);

    – Giấy xác nhận đối tượng do cơ quan quản lý đối tượng người có công hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường xác nhận;

    – Giấy chứng nhận (hoặc quyết định) người có công với cách mạng…

    Câu 2. Ông Đinh Khắc Tùng trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chấp hành viên không được làm những việc gì theo quy định của Luật thi hành án dân sự?

    Trả lời:

    Những việc Chấp hành viên không được làm quy định tại Điều 21 Luật Thi hành án dân sự 2014 như sau:

    Những việc Chấp hành viên không được làm bao gồm:

    - Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm.

    - Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.

    - Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án.

    - Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án.

    - Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:

    a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;

    b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;

    c) Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

    - Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

    - Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.

    - Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.

    Câu 3. Bà Lành Thị Sao trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chế độ học tập, sinh hoạt của học sinh tại trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 18, Nghị định số 02/2014/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.

    1. Chế độ học tập

    a) Học sinh được học văn hóa theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc học văn hóa đối với học sinh chưa phổ cập giáo dục là bắt buộc. Đối với những học sinh khác thì tùy theo khả năng và điều kiện thực tế của trường mà tổ chức học tập. Đối với học sinh đã bỏ học trước khi vào trường giáo dưỡng mà không có hồ sơ, học bạ thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện nơi trường giáo dưỡng đóng trụ sở tổ chức kiểm tra kiến thức hai môn văn và toán bằng hình thức kiểm tra viết. Căn cứ vào kết quả kiểm tra, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định xếp lớp học văn hóa cho phù hợp. Quyết định này thay cho học bạ những năm trước đã mất để xét tốt nghiệp cho học sinh.

    Ngoài việc học văn hóa, học sinh phải được học tập chương trình giáo dục công dân, giáo dục hướng nghiệp, học nghề và chương trình giáo dục khác do Bộ Công an quy định. Kinh phí chi cho việc dạy và học nghề theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

    b) Kinh phí mua sách, vở, đồ dùng học tập cho mỗi học sinh hàng tháng tương đương với 07 kg gạo tẻ loại thường tính theo giá thị trường của từng địa phương;

    c) Trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức cho học sinh thi học kỳ, thi kết thúc năm học, thi chuyển cấp, thi tuyển chọn học sinh giỏi, thi vào lớp chuyên và cấp chứng chỉ hoặc bằng tốt nghiệp tương ứng với chương trình học cho học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    d) Sổ điểm, học bạ, hồ sơ và các biểu mẫu liên quan đến việc giảng dạy và học tập ở trường giáo dưỡng phải theo mẫu chung thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an;

    đ) Văn bằng, chứng chỉ học văn hóa, học nghề trong trường giáo dưỡng có giá trị như văn bằng, chứng chỉ của các trường phổ thông.

    2. Chế độ sinh hoạt

    a) Ngoài giờ học văn hóa, học nghề, lao động theo quy định của pháp luật, trường giáo dưỡng phải tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách, báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác cho học sinh;

    b) Mỗi trường giáo dưỡng được thành lập một thư viện; mỗi phân hiệu của trường được thành lập một phòng đọc sách, báo, khu vui chơi, nhà luyện tập thể dục, thể thao, sân thể thao để học sinh rèn luyện thể lực; được trang bị hệ thống truyền thanh, truyền hình. Mỗi phòng ở tập thể được trang bị một vô tuyến truyền hình màu, được phát một tờ báo Thanh niên và một tờ báo phù hợp với từng lứa tuổi.

    3. Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình học tập và đào tạo, cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp, bố trí giáo viên dạy văn hóa, dạy nghề cho các trường giáo dưỡng.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 31 tháng 10 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hứa Viết Tưởng trú tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia hỏi: những khoản phụ cấp, trợ cấp nào không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân?

     

    Trả lời: Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, gồm:

     

    - Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công;

     

    - Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ;

     

    - Phụ cấp quốc phòng, an ninh; các khoản trợ cấp đối với lực lượng vũ trang;

     

    - Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm;

     

    - Phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực;

     

    - Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội;

     

    - Trợ cấp đối với các đối tượng được bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật;

    - Phụ cấp phục vụ đối với lãnh đạo cấp cao;

     

    - Trợ cấp một lần đối với cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ, công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật. Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

     

    - Phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản;

     

    -         Phụ cấp đặc thù ngành nghề.

    -          

    Câu 2.  Ông Liễu Văn Tam trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố như sau:

     

        Về điều kiện về địa điểm, trang thiết bị, dụng cụ :

     

        - Bố trí kinh doanh ở khu vực công cộng (bến xe, bến tầu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội, khu triển lãm), hè đường phố; nơi bày bán thực phẩm cách biệt các nguồn ô nhiễm; bảo đảm sạch sẽ, không làm ô nhiễm môi trường xung quanh.

     

        - Trường hợp kinh doanh trên các phương tiện để bán rong phải thiết kế khoang chứa đựng, bảo quản thức ăn ngay, đồ uống bảo đảm vệ sinh, phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng gây hại.

     

       - Nư­ớc để chế biến đơn giản đối với thức ăn ngay, pha chế đồ uống phải đủ số lượng và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước để sơ chế nguyên liệu, vệ sinh dụng cụ, rửa tay phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT; có đủ nước đá để pha chế đồ uống được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT.

     

        - Có đủ trang thiết bị, dụng cụ để chế biến, bảo quản, bày bán riêng biệt thực phẩm sống và thức ăn ngay; có đủ dụng cụ ăn uống, bao gói chứa đựng thức ăn bảo đảm vệ sinh; có đủ trang bị che đậy, bảo quản thức ăn trong quá trình vận chuyển, kinh doanh và bảo đảm luôn sạch sẽ; bàn ghế, giá tủ để bày bán thức ăn, đồ uống phải cách mặt đất ít nhất 60 cm.

     

       - Thức ăn ngay, đồ uống phải để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp vệ sinh và phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng xâm nhập.

       - Người bán hàng phải mang trang phục sạch sẽ và gọn gàng; khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn, đồ uống ăn ngay phải dùng găng tay sử dụng 1 lần.

     

       - Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói, chế biến sẵn bảo đảm có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định.

     

       - Trang bị đầy đủ, sử dụng thường xuyên thùng rác có nắp, túi đựng để thu gom, chứa đựng rác thải và phải chuyển đến địa điểm thu gom rác thải công cộng trong ngày; nước thải phải được thu gom và bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường nơi kinh doanh.

     

        Đối với người kinh doanh thức ăn đường phố: Ng­ười kinh doanh thức ăn đường phố phải tập huấn và được cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định. Người kinh doanh thức ăn đường phố phải được khám sức khoẻ và cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ theo quy định.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Đức trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chế độ ăn, mặc và sinh hoạt của học viên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 111 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, quy định đối tượng được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

     

    1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện;

     

    b) Gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

     

    2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện;

     

    b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy;

     

    c) Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.

     

     3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc người đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị có ý kiến trước khi quyết định.

     

    Quyết định miễn hoặc hoãn chấp hành phải được gửi cho cơ quan thi hành quyết định, người phải chấp hành quyết định; trường hợp người chưa thành niên được hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thì quyết định được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thắc mắc của thính giả Chu Văn Pho trú tại xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng về việc gia đình ông có 6 người, trong đó có 2 người dưới 15 tuổi, 4 người trong độ tuổi lao động thì có được xác định là hộ nghèo không và tiêu chí để xác định hộ nghèo như thế nào?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 thì chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 đối với khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;


    – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.( Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin).

     

    Như vậy, để xác định một hộ gia đình là nghèo hay cận nghèo thì phải căn cứ vào các tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Do ông cung cấp không đầy đủ thông tin nên chúng tôi không thể xác định được hộ gia đình nhà ông có đủ điều kiện xét hộ nghèo không.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 24 tháng 10 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Ngọc Châu trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật người lao động phải bồi thường thiệt hại trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động được quy định tại Điều 130 Bộ luật lao động 2012 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 32 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động, theo đó:

     

    -  Người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề trước khi gây thiệt hại bằng hình thức khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố.

     

    -  Người lao động phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường khi thuộc một trong các trường hợp sau:

     

    + Do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố;

     

    + Làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao;

     

    + Tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của người sử dụng lao động.

     

    -  Trường hợp người lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều này mà có hợp đồng trách nhiệm với người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.

     

    -  Trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa hoặc do sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người sử dụng lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì người lao động không phải bồi thường.

     

    - Trình tự, thủ tục và thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại được áp dụng theo trình tự, thủ tục và thời hiệu xử lý kỷ luật lao động.

     

    Câu 2. Ông Vũ Văn Giang trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi gây tiếng ốn tại khu dân cư như mở nhạc to vào đêm khuya, gây tiếng ồn lớn, làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung thì sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi gây tiếng động lớn, làm ồn ào tại khu dân cư được quy định tại Điều 6 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó:

     

    - Thứ nhất, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    + Gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo tại khu dân cư, nơi công cộng trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau;

     

    + Không thực hiện các quy định về giữ yên tĩnh của bệnh viện, nhà điều dưỡng, trường học hoặc ở những nơi khác có quy định phải giữ yên tĩnh chung;

     

    + Bán hàng ăn, uống, hàng giải khát quá giờ quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

     

    - Thứ hai, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi: Dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.

     

    Như vậy, người có hành vi mở nhạc to vào ban đêm, gây mất trật tự tại khu dân cư. Theo đó, hành vi này sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

     

    Câu 3. Ông Hứa Mạnh Tú trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: những đối tượng nào được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ theo Điều 22 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014 có quy định: 

    Mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh được áp dụng cho các đối tượng sau:

     

    1. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;

     

    2. Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;

     

    3. Trẻ em dưới 6 tuổi;

     

    4. Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;

     

    5. Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;

     

    6. Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

     

    7. Trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;

     

    8. Người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

     

    Như vậy, người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì sẽ được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh kể từ lần khám chữa bệnh tiếp theo.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 17 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Hoàng Minh Trường trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các mức xử phạt khi người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có nồng độ cồn trong người?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP, các mức phạt liên quan đến hành vi lái xe khi đã uống rượu, bia như sau:

     

    Với người điều khiển ôtô và các loại xe tương tự 

     

    - Phạt tiền 2.000.000-3.000.000 đồng với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người vi phạm bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

     

    - Phạt tiền 7.000.000-8.000.000 đồng với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

     

    - Phạt tiền 16.000.000-18.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 4-6 tháng.

     

    Mức phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển xe máy

     

    - Phạt tiền 1.000.000-2.000.000 đồng với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

     

    - Phạt tiền 3.000.000-4.000.000 đồng với người điều khiển xe không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ; hoặc điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

     

    Câu 2. Ông La Mạnh Hiếu trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: pháp luật quy định khi xin cấp phép xây nhà cần phải có các loại giấy tờ nào?

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định 53/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/6, cá nhân, tổ chức, hộ gia đình muốn xin cấp giấy phép xây dựng cần có một trong 12 loại giấy tờ sau:

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

     

    - Báo cáo rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản chấp thuận về địa điểm xây dựng của UBND  cấp huyện đối với công trình xây dựng biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng ten tại khu vực không thuộc nhóm đất có mục đích sử dụng để xây dựng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

     

    - Giấy tờ về đất đai đối với trường hợp được nhà nước giao đất, cho thuê đất.

     

    - Giấy tờ về xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đối với trường hợp cấp phép xây dựng để thực hiện xây dựng mới, chửa chữa, cải tạo hoặc di dời các công trình lịch sử.

     

    - Hợp đồng thuê đất.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

     

    - Hợp đồng thuê đất được giao kết giữa chủ đầu tư xây dựng công trình và người quản lý, sử dụng công trình giao thông hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông đối với công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất đanh cho giao thông theo quy định pháp luật.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đề nghị của ơ quan cấp phép xây dựng.

    Câu 3. Ông Mã Văn Kha trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Quy định về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống và mức xử phạt đối với hành vi vi phạm?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của pháp luật, các hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, hôn nhân cận huyết là vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm để bảo vệ, xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể các hành vi trên như sau:

     

     1. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, cụ thể là nam chưa đủ 20 tuổi trở lên, nữ chưa đủ 18 tuổi trở lên; Tổ chức tảo hôn, là hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho những người mà mình biết rõ là chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định.

     

     - Chế tài xử lý

     

     Về hành chính: Nghị định 67/2015/NĐ-CP, ngày 14/8/2016 quy định:

     

     + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

     

    + Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.

     

    Về hình sự: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi tảo hôn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ Hiếp dâm trẻ em”, nếu nạn nhân là người dưới 13 tuổi hoặc tội “ Giao cấu với trẻ em” nếu nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

     

     2. Hôn nhân cận huyết là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

     

    Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau. Những người có họ trong phạm vi ba đời, là những người cùng một gốc sinh ra, gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. (Bao gồm cả anh chị em trai, anh chị em gái).

     

    Kết hôn cận huyết làm suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật do kết hợp gen mang lại, gây suy thoái chất lượng giống nòi (như bệnh tan máu bẩm sinh có thể làm trẻ bị biến dạng xương mặt, bụng phình to, nguy cơ tử vong rất cao; sinh ra con dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá…) mở đầu cho cuộc sống tàn phế suốt đời.

     

    Ngoài ra, hôn nhân cận huyết còn ảnh hưởng không tốt đến văn hóa, đạo đức gia đình, phá vỡ và làm xói mòn giá trị truyền thống văn hóa gia đình tốt đẹp của dân tộc ta.

     

     - Chế tài xử lý:

     

     Về hành chính

     

     + Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

     

    + Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.

     

    Về hình sự: Tùy theo tính chất, mức độ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội loạn luân”.

     

    Nhăn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thư của ông Vũ Đức Minh trú tại thôn Lạng Giai A, xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng thắc mắc về việc giải quyết đơn xin ly hôn giữ ông và Bà Lương Thị Kiến.

     

    Thư của ông phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản cho ông trong thời hạn luật định.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 10 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Cường trú tại phường Đông Kinh thành phố Lạng Sơn hỏi: Mức xử phạt đối với những trường hợp nuôi chó, mèo thả rông nơi công cộng?

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn  xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định về mức xử phạt khi thả rông động vật nuôi như sau:

     

    "1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng"

    Bên cạnh đó, ngày 31 tháng 5 năm 2016, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BNPTNT quy định về phòng chống dịch bệnh động vật trên cạn. Theo Phụ lục số 15 kèm theo thông tư này, khi nuôi chó, mèo chủ vật nuôi cần thực hiện theo những quy định sau:

     

    - Đăng ký việc nuôi chó với Ủy ban nhân dân cấp xã tại các đô thị, nơi đông dân cư.

     

    - Đảm bảo các biện pháp an toàn khi nuôi. Cụ thể:

     

    + Xích, nhốt hoặc giữ chó trong khuôn viên gia đình;

     

    + Trong trường hợp đưa chó ra nơi công cộng cần phải bảo đảm an toàn cho người xung quanh bằng cách:

     

    Đeo rọ mõm cho chó hoặc xích giữ chó;

     

    Có người dắt;

     

    - Đảm bảo về vệ sinh môi trường, cảnh quan, không gây ồn ào....

     

    - Chấp hành quy định về tiêm vắc-xin phòng bệnh dại.

     

    - Chịu mọi chi phí trong trường hợp có chó thả rông bị bắt giữ, kể cả chi phí cho việc nuôi dưỡng và tiêu hủy chó. Trường hợp chó, mèo cắn, cào người thì chủ vật nuôi phải bồi thường vật chất cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Ngô Văn An trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: nhà nước quy định như thế nào về tiêu chí để các hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện được?

     

    Trả lời:

     

    Ngày 30/10/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 60/2014/QĐ-TTg về việc quy định tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện. Theo đó, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện quy định tại Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ cấu biểu giá bán lẻ tiền điện, là hộ có một trong những tiêu chí sau:

     

    1. Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng không thuộc diện hộ nghèo theo quy định của pháp luật và có lượng điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong tháng không quá 50 kWh ở vùng có điện lưới;

     

    2. Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật sống ở vùng chưa có điện lưới;

     

    3. Hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng chưa có điện lưới.

     

    Mức hỗ trợ tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành.

     

    Trường hợp hộ có nhiều thành viên hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc thuộc diện được hỗ trợ tiền điện theo các chính sách khác nhau thì chỉ được hưởng 01 mức hỗ trợ tiền điện cao nhất.

     

    Câu 3. Ông Vy Văn Soi trú tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia hỏi: các tiêu chí để xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016-2020 được nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 1 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều như sau:

     

    1. Các tiêu chí về thu nhập

     

    a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

     

    b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

     

    2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

     

    a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;

     

    b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

     

    Điều 2. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020

     

    1. Hộ nghèo

     

    a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    2. Hộ cận nghèo

     

    a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

     

    b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

     

    3. Hộ có mức sống trung bình

     

    a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

     

    b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.

     

    Nhắn tin: trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Bà Nguyễn Hồng Hạnh Giám đốc Công ty TNHH MTV Thương mại và dịch vụ xuất nhập khẩu Khánh Linh, địa chỉ: Số 100, đường Lê Lai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, thắc mắc về việc Đội quản lý thị trường số 10, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn tạm giữ hàng hóa, ô tô trái pháp luật gây thiệt hại cho Công ty Khánh Linh.

     

    Đơn của bà phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản cho bà trong thời hạn luật định.

     

    2. Ông Hà Quang Pảu trú tại thôn Nà Ven, xã Hồng Phong, huyện Bình Gia hỏi về mức trợ cấp dành cho cán bộ xã nghỉ việc với chức danh, Chủ tịch, phó Chủ tịch, Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy.

     

    Trong thư của ông không nói rõ ông giữ chức vụ gì ở xã trước khi nghỉ việc. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xin gửi ông Thông tư số 04/2017/TT-BNV của Bộ Nội vụ về việc điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã nghỉ việc để ông nghiên cứu, tham khảo.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 3 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Anh Hứa Văn Tuân trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về việc thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn?

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì mức cấp dưỡng được quy định như sau:

     

    "1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

     

    2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

     

    Theo Khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng (có thể hiểu chi phí này phải là những chi phí hợp lý). Khi quyết định mức tiền cấp dưỡng, tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường thấp hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng.

     

    Do vây, căn cứ theo Khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, anh có thể thỏa thuận lại với vợ cũ của anh về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì anh có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

     

    Câu 2. Ông Trần Xuân Hạ trú tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình hỏi? Khi một người chết, việc đăng ký lại khai tử được thực hiện như thế nào, gồm những giấy tờ, thủ tục nào như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Luật hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới có một số quy định mới về việc đăng ký lại việc khai tử như sau:

     

    Điều kiện đăng ký lại khai tử

     

    Theo quy định tại Điều 24 có quy định công dân dược yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Đăng ký lại khai tử khi có đủ các điều kiện sau:

     

    - Công dân đã được đăng ký khai tử tại cơ quan có thẩm quyền của Việt  Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất;

     

    - Người yêu cầu đăng ký lại khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật;

     

    - Chỉ thực hiện đăng ký lại khai tử cho người còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ;

     

    Về thẩm quyền đăng ký lại khai tử

     

    Căn cứ theo quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP  công dân có quyền lựa chọn: Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã cấp giấy tờ hộ tịch.

     

    Về hồ sơ giấy tờ cần chuẩn bị

     

    + Tờ khai theo mẫu có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký tử nhưng người đó làm mất giấy đăng ký khai tử;

     

    + Bản sao giấy khai tử (nếu có);

     

    + Các giấy tờ tài liệu cá nhân khác có liên quan đến nội dung người đó đã chết;

     

    Về trình tự, thủ tục

     

    - Công dân xuất trình tài liệu giấy tờ tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã cấp Đăng ký khai sinh; hoặc nơi đăng ký thường trú;

     

    - Sau khi tiếp nhận hồ sơ thì cán bộ tư pháp, hộ tịch xem xét hồ sơ nếu:

     

    1. Hồ sơ đầy đủ chính xác sẽ tiến hành đăng ký khai tử cho người có yêu cầu và ghi thông tin vào sổ hộ tịch;

     

    2. Hồ sơ chưa đầy đủ thì yêu cầu người có yêu cầu bổ sung thêm;

     

    3. Nếu không có căn cứ thì trả lời từ trối bằng văn bản

     

    - Trình Chủ tịch UBND cấp trích lục bản chính Khai tử;

     

    - Cho công dân ký xác nhận vào sổ hộ tich và trả kết quả cho người dân

     

    Về thời gian giải quyết

     

    Sau 5 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ cán bộ tư pháp hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai tử là đúng theo quy định thì thực hiện đăng ký lại khai tử như trình tự thủ tục trên. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 10 ngày.

     

    Câu 3. Bà Triệu Minh Phương trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: thẩm quyền xác nhận quan hệ cha, mẹ, con và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thẩm quyền giải quyết việc xác nhận quan hệ cha, mẹ, con như sau:

     

    "1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

               2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

     

    Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”

     

    Như vậy, có hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc xác định quan hệ cha mẹ con, căn cứ vào tùy từng vụ việc thì việc giải quyết sẽ do cơ quan có thẩm quyền tương ứng giải quyết. Cụ thể:

     

    Đối với cơ quan đăng ký hộ tịch: Cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ có thẩm quyền xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp không có tranh chấp phát sinh khi một trong các bên muốn xác nhận quan hệ cha, mẹ, con.

     

    Đối với Tòa án: Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định quan hệ cha, mẹ, con rộng hơn cơ quan đăng ký hộ tịch bao gồm:

     

    Một là, việc xác nhận quan hệ cha, mẹ, con có tranh chấp.

     

    Hai là, việc xác nhận quan hệ cha, mẹ, con mà người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết.

     

    Ba là, việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

     

    Căn cứ theo quy định tại Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con bao gồm:

     

    Một là, cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp việc yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con không có tranh chấp.

     

    Hai là, cha, mẹ, con là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015: “Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.” Theo đó, người có quyền yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha, mẹ, con cho mình trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

     

    Ba là, nhằm đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì các nhà làm luật đã dự liệu được điều này, do đó, ngoài những chủ thể trong hai trường hợp trên, một số cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định cũng sẽ có quyền yêu cầu Tòa án xác nhận quan hệ cha, mẹ, con gồm: Cha, mẹ, con, người giám hộ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.

     

    Tại Thông tư 15/2015/TT – BTP chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định Luật hộ tịch 2014 gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

     

    - Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

     

    - Trường hợp không có văn bản trên thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

     

    Tất cả những giấy tờ, căn cứ nêu trên cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật cho các bên khi thực hiện thủ tục này.

     

    Nếu trong quá trình giải quyết cơ quan đăng ký hộ tịch nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật có thể từ chối giải quyết hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch.

     

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 26 tháng 9 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Hứa Văn Mạnh trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: Thủ tục đăng ký sang tên xe mô tô, ô tô đối với trường hợp xe đã chuyển quyền sở hữu qua nhiều chủ được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 24, Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an về giải quyết đăng ký sang tên xe đối với trường hợp xe đã chuyển quyền sở hữu qua nhiều người như sau:

     

    1. Trường hợp đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh, thành phố

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng, hồ sơ gồm:

     

    - Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

     

    - Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, hồ sơ gồm:

     

    - Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    2. Trường hợp đăng ký sang tên, di chuyển xe đi tỉnh, thành phố khác

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng, hồ sơ gồm:

     

    - Hai giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu của người bán cuối cùng.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, hồ sơ gồm:

     

    - Hai giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    3. Trường hợp đăng ký sang tên xe tỉnh, thành phố khác chuyển đến

     

    - Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu).

     

    - Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) và Phiếu sang tên di chuyển, kèm theo hồ sơ gốc của xe.

     

    - Chứng từ nộp lệ phí trước bạ theo quy định.

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Bền trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: người nghèo tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi được vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế - xã hội tối đa bao nhiêu, lãi suất và thời hạn vay được tính như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) vừa ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cho vay phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020.

     

    Theo đó, khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số  nghèo ở các thôn, bản, buôn…, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số  và miền núi; hộ nghèo ở xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn được vay vốn ưu đãi để tạo đất sản xuất hoặc chuyển đổi ngành nghề. Trong đó, người vay chỉ được vay vốn để sử dụng vào một trong các mục đích sau: Vốn vay được sử dụng vào việc chi phí khai hoang, phục hóa, phục hóa đất sản xuất hoặc tự nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất.

     

    Khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn; có phương án sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh. Trong đó, người vay chỉ được vay vốn để sử dụng vào một trong các mục đích: đầu tư vào sản xuất, kinh doanh ngành nghề không trái pháp luật (mua sắm máy móc, công cụ sản xuất, dịch vụ nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán…).

     

    Người vay thuộc đối tượng được vay vốn theo quy định có thể vay một hoặc nhiều lần nhưng tổng dư nợ cho vay không vượt quá mức cho vay áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ. Hiện mức vay cho vay tối đa đối với hộ nghèo là 50 triệu đồng/hộ.

     

    Lãi suất cho vay được tính bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo trong từng thời kỳ (Hiện mức lãi suất cho vay đối với hộ nghèo là 6,6%/năm). Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay. Người vay được miễn lệ phí làm thủ tục hành chính khi vay vốn.

     

    Thời hạn cho vay tối đa là 10 năm. Căn cứ vào chu kỳ sinh trưởng của đối tượng vay, khả năng trả nợ của người vay, người vay và NHCSXH thỏa thuận thời hạn cho vay cụ thể.

     

    Riêng đối với người vay vốn để tạo đất sản xuất thì ngoài các căn cứ nêu trên còn phải căn cứ vào thời hạn còn lại được sử dụng đất sản xuất của hộ vay và NHCSXH chỉ xem xét cho vay khi thời hạn còn lại được sử dụng đất sản xuất bằng hoặc lớn hơn thời hạn cho vay đã thỏa thuận nêu trên.

     

    Câu 3. Ông Vương Minh Thu trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013 thì đối với hộ gia đình, cá nhân khi bị nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội được bồi thường khi thỏa mãn các điều kiện sau:

     

    1. Không phải là thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;

     

    2. Thuộc ít nhất một trong các trường hợp sau:

     

    - Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

     

    - Có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

     

    - Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

     

    - Có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai 2013 mà chưa được cấp, trừ trường hợp đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

     

    3. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI:

     

    Thứ ba, ngày 19 tháng 9 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lưu Minh Tấn trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: các biện pháp cơ bản để ứng phó với thiên tai được nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 26 Luật phòng chống thiên tai 2013, thì căn cứ vào loại thiên tai, cấp độ rủi ro thiên tai xảy ra, Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp quyết định lựa chọn một hoặc một số biện pháp cơ bản để ứng phó với thiên tai như sau:

     

    1. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, nước dâng, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy được quy định như sau:

     

     - Sơ tán người ra khỏi khu vực nguy hiểm, nơi không bảo đảm an toàn; tập trung triển khai biện pháp bảo đảm an toàn cho người, đặc biệt đối tượng dễ bị tổn thương trong tình huống thiên tai khẩn cấp;

     

    - Di chuyển tàu thuyền, phương tiện nuôi trồng thuỷ sản trên biển, ven biển, trên sông ra khỏi khu vực nguy hiểm; tổ chức kiểm đếm, hướng dẫn tàu thuyền neo đậu hoặc thực hiện biện pháp khác để bảo đảm an toàn;

     

    - Thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn đối với nhà cửa, công sở, bệnh viện, trường học, kho tàng, công trình và cơ sở kinh tế, an ninh, quốc phòng;

     

     

    - Chủ động thực hiện biện pháp bảo vệ sản xuất;

     

    - Kiểm tra, phát hiện và xử lý sự cố công trình phòng, chống thiên tai, công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng;

     

    - Giám sát, hướng dẫn và chủ động thực hiện việc hạn chế hoặc cấm người, phương tiện đi vào khu vực nguy hiểm trên sông, trên biển, khu vực và tuyến đường bị ngập sâu, khu vực có nguy cơ sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy và khu vực nguy hiểm khác;

     

    - Bảo đảm giao thông và thông tin liên lạc đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai;

     

    - Thực hiện hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm khác tại khu vực bị chia cắt, khu vực ngập lụt nghiêm trọng và địa điểm sơ tán;

     

    -  Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai;

     

    -  Huy động khẩn cấp và tuân thủ quyết định chỉ đạo, huy động khẩn cấp về nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để kịp thời ứng phó với thiên tai.

     

    2. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với hạn hán và xâm nhập mặn được quy định như sau:

     

    - Điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ phù hợp với dự báo, cảnh báo và tình hình diễn biến hạn hán và xâm nhập mặn;

     

    - Vận hành hợp lý hồ chứa nước, công trình cấp nước, ưu tiên cấp nước sinh hoạt; sử dụng tiết kiệm, chống thất thoát nước;

     

    - Ưu tiên cung cấp điện và vật tư, nhiên liệu cần thiết cho các trạm bơm;

     

    - Tổ chức quan trắc độ mặn, điều hành đóng mở cống lấy nước và ngăn mặn phù hợp với tình huống cụ thể.

       

    3. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với sương muối, rét hại được quy định như sau:

     

    - Triển khai biện pháp chống rét cho người, đặc biệt cho đối tượng dễ bị tổn thương;

      

    - Triển khai chống rét và bảo đảm nguồn thức ăn cho gia súc;

     

    - Triển khai biện pháp bảo vệ cây trồng phù hợp.

     

    4. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với động đất, sóng thần được quy định như sau:

     

    - Chủ động trú, tránh, bảo đảm an toàn khi xảy ra động đất;

     

    - Chủ động sơ tán ra khỏi khu vực chịu ảnh hưởng của sóng thần;

     

    - Tổ chức tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương;

     

    - Bố trí nơi ở tạm, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống, nhu yếu phẩm khác cho người dân bị ảnh hưởng;

     

    - Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai.

     

    5. Đối với nắng nóng, lốc, sét, mưa đá và các loại thiên tai khác thì căn cứ vào dự báo, cảnh báo, tính chất và diễn biễn thực tế của từng loại thiên tai, chủ động triển khai biện pháp ứng phó phù hợp với tình huống cụ thể.

      

    Câu 2: Ông Hoàng Văn Trang, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là người dân tộc Nùng, nhận nuôi con nuôi là người dân tộc Kinh, nay tôi muốn yêu cầu xác định lại dân tộc của con nuôi theo dân tộc Nùng có được không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự 2015 về quyền xác định, xác định lại dân tộc như sau:

     

    1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.

     

    2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghịcủa người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghịcủa người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

     

    3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.

     

    4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.

     

     

     

    5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.

     

     

     

     

    Theo quy định trên, pháp luật không quy định việc cho phép xác định lại dân tộc của một người từ dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi. Việc yêu cầu xác định lại dân tộc Kinh của con nuôi sang dân tộc Nùng là không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

     

     

     

     

     

     

    Câu 3. Ông Vy Văn Huân trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào đóng góp quỹ phòng, chống thiên tai? và mức đóng góp cho là bao nhiêu?

     

     

     

     

    Trả lời:

     

     

    Theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 94/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai thì những đối tượng và mức đóng góp cho quỹ phòng chống thiên tai là:

     

     

     

     

    1. Các tổ chức kinh tế hạch toán độc lập:

     

     

     

     

    Mức đóng góp bắt buộc một năm là hai phần vạn trên tổng giá trị tài sản hiện có tại Việt Nam theo báo cáo tài chính hàng năm nhưng tối thiểu 500 nghìn đồng, tối đa 100 triệu đồng và được hạch toán vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

     

     

     

    2. Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật về lao động đóng góp như sau:

     

     

     

     

    a) Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang hưởng lương, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương cơ bản sau khi trừ các khoản thuế, bảo hiểm phải nộp;

     

     

     

     

    b) Người lao động trong các doanh nghiệp đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương tối thiểu vùng;

     

     

     

     

    c) Người lao động khác, trừ các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang hưởng lương, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước; Người lao động trong các doanh nghiệp  thì mức đóng góp là 15.000 đồng/người/năm.

     

     

     

     

    3. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp tự nguyện cho Quỹ.

     

     

     

     

    Nhắn tin: trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Triệu Thị Ngò trú tại thôn Thâm Mè B, xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng thắc mắc về việc giải quyết tranh chấp đất giữa bà với bà Bế Thị Lộc Huyền trú tại cùng khu.Trong đơn thư của bà, phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, vụ việc đang được Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng thụ lý, giải quyết.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI: Thứ ba, ngày 12 tháng 9 năm 2017

     

     

     

     

    Câu 1. Ông Trần Hoàng Minh trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: mức xử lý hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường nơi công cộng, khu đô thị, khu dân cư như thế nào?

     

     

     

     

    Trả lời:

     

     

     

     

    Theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mức xử lý hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường nơi công cộng, khu đô thị, khu dân cư được quy định như sau:

     

     

     

     

    1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi không niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh môi trường ở nơi công cộng.

     

     

     

     

    2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hoạt động quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, lễ hội, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng khác có một trong các hành vi sau đây:

     

     

     

     

    - Không có đủ công trình vệ sinh công cộng, phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng yêu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường theo quy định;

     

     

     

     

    - Không thu gom chất thải trong phạm vi quản lý theo quy định.

     

     

     

     

    3. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với chủ đầu tư xây dựng mới khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu chung cư có hành vi bàn giao công trình đưa vào sử dụng mà không thực hiện đúng và đầy đủ một trong các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây:

     

     

     

     

    - Không có kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

     

     

     

     

    - Không có thiết bị, phương tiện thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư;

     

     

     

     

    - Không bảo đảm các yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường;

     

     

     

     

    - Không có hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước thải riêng biệt phù hợp với quy hoạch thoát nước thải, bảo vệ môi trường của khu dân cư;

     

     

     

     

    - Không có nơi tập trung rác thải sinh hoạt bảo đảm vệ sinh môi trường;

     

     

     

     

    - Không có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

     

     

     

     

    4. Hình thức xử phạt bổ sung:

     

     

     

     

    Đình chỉ hoạt động của cơ sở từ 06 tháng đến 12 tháng đối với các trường hợp vi phạm khi không có đủ công trình vệ sinh công cộng, phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng yêu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường; Không thu gom chất thải trong phạm vi quản lý.

     

     

     

     

    5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

     

     

     

    - Buộc phải xây lắp công trình bảo vệ môi trường theo quy định trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính

     

     

     

     

    - Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường trong trường hợp có vi phạm về xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường theo định mức, đơn giá hiện hành đối với các vi phạm quy định gây ra;

     

     

     

     

    - Buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục xong hậu quả vi phạm trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm quy định gây ra.

     

     

     

     

    Câu 2. Ông Đỗ Minh Phong trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Chế độ, chính sách đối với những người tham gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn bị ốm đau, tai nạn và chết được quy định như thế nào?

     

     

     

     

    Trả lời:

     

     

     

     

    Theo Điều 20, Nghị định số 30/2017/NĐ-CP của Chính phủ Quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn thì chế độ, chính sách đối với những người tham gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn bị ốm đau, tai nạn và chết được quy định như sau:

     

     

     

     

    1. Người tham gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn bị ốm đau, tai nạn trong các trường hợp sau đây thì được hưởng chế độ về ốm đau, tai nạn lao động theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội và an toàn, vệ sinh lao động (từ khi được huy động, bắt đầu đi thực hiện nhiệm vụ đến khi hoàn thành, về đến nơi cư trú):

     

     

     

     

    a) Bị ốm đau, tai nạn trong thực hiện nhiệm vụ tại nơi làm việc kể cả trong và ngoài giờ hành chính theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

     

     

     

     

    b) Bị ốm đau, tai nạn trên đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm nhiệm vụ khi có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú;

     

     

     

     

    c) Không giải quyết chế độ ốm đau đối với trường hợp do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy.

     

     

     

     

    2. Chế độ, chính sách đối với người bị ốm đau, tai nạn

     

     

     

     

    a) Đối với người đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà ốm đau, bị tai nạn, bị thương hoặc chết thì được giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; an toàn vệ sinh lao động và pháp luật về bảo hiểm y tế;

     

     

     

     

    b) Đối với người không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc:

     

     

     

     

    - Bị ốm đau: Người tham gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn bị ốm đau trong khi làm nhiệm vụ nếu chưa tham gia đóng bảo hiểm y tế thì được thanh toán tiền khám chữa bệnh như tiêu chuẩn của người tham gia đóng bảo hiểm y tế;

     

     

     

     

    - Bị tai nạn:

     

     

     

     

    + Được thanh toán chi phí y tế trong quá trình sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật, xuất viện;

     

     

     

     

    + Sau khi điều trị được cơ quan chức năng giới thiệu đi giám định khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa theo quy định của pháp luật;

     

     

     

     

    + Trường hợp người chưa tham gia đóng bảo hiểm xã hội bị suy giảm khả năng lao động 5% thì được hưởng 05 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;

     

     

     

     

    + Người bị tai nạn bị mất một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật đối với người tàn tật;

     

     

     

     

    - Trường hợp bị chết, kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu, nếu người bị chết chưa tham gia đóng bảo hiểm xã hội, thì người trực tiếp mai táng được nhận tiền mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở và gia đình của người đó được trợ cấp một lần bằng 36 lần mức lương cơ sở.

     

     

     

     

    3. Kinh phí chi trả các chế độ khi bị ốm đau, tai nạn do ngân sách nhà nước bảo đảm. Đối với người tham gia bảo hiểm y tế thì tiền khám chữa bệnh do quỹ bảo hiểm y tế chi trả; đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả các chế độ.

     

     

     

     

    4. Đối với người tham gia bảo hiểm y tế, tiền khám chữa bệnh do quỹ bảo hiểm y tế chi trả; đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả các chế độ.

     

     

     

     

    Câu 3. Bà Nông Thị Lan trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: Điều kiện để được hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh?

     

     

     

     

    Trả lời:

     

     

     

     

    Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 02/2017/NĐ-CP của Chính phủ Về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh thì các hộ sản xuất bị thiệt hại sẽ được xem xét hỗ trợ khi đáp ứng tất cả các điều kiện sau:

     

     

     

     

    1. Sản xuất không trái với quy hoạch, kế hoạch và hướng dẫn sản xuất nông nghiệp của chính quyền địa phương.

     

     

     

     

    2. Có đăng ký kê khai ban đầu được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đối với chăn nuôi tập trung (trang trại, gia trại, tổ hợp tác, hợp tác xã) và nuôi trồng thủy sản hoặc giấy chứng nhận kiểm dịch (nếu có). Các hộ chăn nuôi tập trung kê khai trong thời gian 15 ngày kể từ khi bắt đầu chăn nuôi; trong thời gian 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được bản kê khai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận vào kê khai. Các hộ nuôi trồng thủy sản thực hiện kê khai và được xác nhận ngay khi thực hiện nuôi trồng.

     

     

     

     

    3. Thiệt hại xảy ra khi đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các biện pháp phòng ngừa, ứng phó với thiên tai, dịch bệnh theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương.

     

     

     

     

    4. Thời điểm xảy ra thiệt hại:

     

     

     

     

    a) Đối với thiên tai: Trong thời gian xảy ra thiên tai trên địa bàn được Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn địa phương xác nhận;

     

     

     

     

    b) Đối với dịch bệnh: Trong khoảng thời gian từ khi công bố dịch đến khi công bố hết dịch. Trường hợp đặc biệt, ngay từ khi phát sinh ổ dịch đầu tiên (chưa đủ điều kiện công bố dịch) cần phải tiêu hủy gia súc, gia cầm theo yêu cầu của công tác phòng, chống dịch để hạn chế dịch lây lan thì thời điểm xảy ra thiệt hại là khoảng thời gian từ khi phát sinh ổ dịch đến khi kết thúc ổ dịch.

     

     

     

     

    dựng nơi tạm giữ hoặc quy mô xây dựng nơi tạm giữ không đủ để quản lý, bảo quản hết tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu thì cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể thuê nơi tạm giữ riêng của cơ quan mình.

     

     Việc thuê nơi tạm giữ phải ký kết hợp đồng. Nội dung hợp đồng phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Bộ luật dân sự và các yêu cầu của hoạt động quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, trong đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Đối tượng của hợp đồng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng; các nội dung khác.

     

    Trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng ít hoặc tang vật, phương tiện là những vật nhỏ, gọn mà xét thấy không cần thiết phải chuyển đến nơi tạm giữ là nhà, kho, bến, bãi thì người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện đó tại trụ sở cơ quan mình. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện phải giao tang vật, phương tiện bị tạm giữ cho cán bộ có đủ khả năng và điều kiện quản lý.

     

    Trong trường hợp không thể bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu thì nơi tạm giữ tang vật, phương tiện là nơi do người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu quyết định.

     

     

     

     

     

    Câu 3. Bà Vi Thị Hoa trú tại xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi: Chế độ nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau được quy định như thế nào?

    Trả lời: Điều 29 luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định về thời gian nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau như sau:

     

    1. Người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định tại của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 05 ngày đến 10 ngày trong một năm.

     

    Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

     

    2. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định như sau:

     

    a) Tối đa 10 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;

     

    b) Tối đa 07 ngày đối với người lao động sức khỏe chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật

     

    c) Bằng 05 ngày đối với các trường hợp khác.

     

    3. Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.”

     

    Theo đó nếu trong 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe của vợ bạn vẫn chưa phục hồi thì vợ bạn được nghỉ dướng sức phục hồi sức khỏe, đối với trường hợp của vợ bạn là ốm đau do phải phẫu thuật nên thời gian nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe của vợ bạn tối đa là 7 ngày, chứ vợ bạn không được hưởng bảo hiểm nghỉ dưỡng sức tận hai tháng.

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của Bà Nông Thị Điệp trú tại thôn Bản Dù, xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng thắc mắc về việc tranh chấp đất rừng và đất ruộng của gia đình bà. Đơn của bà đã gửi đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Ủy ban nhân dân huyện Chi Lăng, đề nghị bà liên hệ với UBND huyện Chi Lăng để được xem xét giải quyết.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 5 tháng 9 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Hoàng Mạnh Tuân trú tại xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng hỏi: Các loại xe ô tô nào không phải nộp phí sử dụng đường bộ theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 293/2016/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2016 quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ. Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký lưu hành (có giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe), bao gồm: Xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự.

     

    Thông tư số 293/2016/TT-BTC quy định có 7 loại xe vào diện không phải nộp phí sử dụng đường bộ, bao gồm:

     

     Xe bị hủy hoại do tai nạn hoặc thiên tai; xe bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; xe bị tai nạn đến mức không thể tiếp tục lưu hành phải sửa chữa từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe kinh doanh vận tải thuộc các hợp tác xã, doanh nghiệp kinh doanh vận tải tạm dừng lưu hành liên tục từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe ô tô không tham gia giao thông, không sử dụng đường thuộc hệ thống giao thông đường bộ, chỉ sử dụng trong phạm vi đất thuộc quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã như: nhà ga, cảng, khu khai thác khoáng sản, nông, lâm nghiệp và xe ô tô dùng để sát hạch của tổ chức đào tạo dạy nghề lái xe.

     

    Xe ô tô đăng ký, đăng kiểm tại Việt Nam nhưng hoạt động tại nước ngoài liên tục từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe ô tô bị mất trộm trong thời gian từ 30 ngày trở lên.

     

    Thông tư cũng hướng dẫn rõ về các hồ sơ cần thiết để các trường hợp trên không chịu phí đường bộ.

     

    Trường hợp xe ô tô đó đã được nộp phí sử dụng đường bộ, chủ phương tiện sẽ được trả lại số phí đã nộp (áp dụng cho xe ô tô bị hủy hoại; bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe không tiếp tục lưu hành) hoặc được trừ vào số phí phải nộp của kỳ sau (áp dụng đối với xe ô tô vẫn tiếp tục được lưu hành) tương ứng với thời gian không sử dụng đường bộ.

    Câu 2. Ông Nguyễn Tất Thắng trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: hành vi sản xuất buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh bị pháp luật xử lý như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Pháp luật Việt Nam quy định rất cụ thể về hành vi sản xuất buốn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh cho người. Nhằm xử lý những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.

     

     Về xử lý hành chính:

     

     Trường hợp buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa thì bị xử lý theo Điều 13 Nghị định 185/2013/NĐ-CP, của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì mức phạt tiền thấp nhất là 200.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị dưới 1.000.000 đồng, mức phạt tiền cao nhất 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng giả tương đương với số lượng hàng thật có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

     

     Phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt nêu trên đối với hành vi nhập khẩu hàng giả hoặc hàng giả thuộc trường hợp là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh cho người mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Người vi phạm còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung và bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

     

    Về xử lý hình sự:

     

     Theo Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thì bị  phạt tù từ 02 năm đến 07 năm".

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

     

    Có tổ chức;

     

    Có tính chất chuyên nghiệp;

     

    Tái phạm nguy hiểm;

     

    Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

     

    Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

     

    Gây hậu quả nghiêm trọng.

     

    Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

     

    Căn cứ theo khoản 5 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1999 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

     

    Câu 3. Ông Trịnh Văn Long, trú tại xã Long Đống, huyện Bắc Sơn hỏi: mức trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Thông tư 04/2017/TT-BNV ngày 17/7/2017 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng từ ngày 01/7/2017 đối với cán bộ xã đã nghỉ việc theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng. Từ ngày 01/7/2017, thực hiện điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã già yếu nghỉ việc theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 76/2017/NĐ-CP của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng thêm 7,44% mức trợ cấp hàng tháng trên mức trợ cấp được hưởng tại thời điểm tháng 6 năm 2017. Cụ thể như sau:

     

    1.  Đối với cán bộ nguyên là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã: 1.846.000 đồng/tháng.

     

    2. Đối với cán bộ nguyên là Phó Bí thư, Phó Chủ tịch, Thường trực Đảng ủy, Ủy viên thư ký Ủy ban nhân dân, Thư ký Hội đồng nhân dân xã, Xã đội trưởng, Trưởng công an xã:  1.786.000 đồng/tháng.

     

    3. Đối với các chức danh còn lại: 1.653.000 đồng/tháng.

     

    Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2017. Chế độ quy định tại Thông tư này được thực hiện kể từ ngày 01/7/2017. Mức trợ cấp trên được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước.

     

    Nhắn tin: trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Hoàng Thị Lịch trú tại tổ 4, khối 5, xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc thắc mắc về chế độ chính sách đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.

    Thư của bà hỏi không rõ nội dung, đề nghị bà trực tiếp liên hệ với Ban Liên lạc cựu thanh niên xung phong tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: số 42, đường Lê Đại Hành, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn để được hướng dẫn cụ thể.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 29 tháng 8 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Minh Trung trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì những trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án bao gồm:

     

    Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

     

    Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

     

    Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

     

    Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín.

    Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.

     

     Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp, mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí, thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định, của Nghị quyết này.

     

    Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.

     

     Những trường hợp được giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án:

     

     Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp.

     

    Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được giảm tiền án phí thì Tòa án chỉ giảm 50% đối với phần án phí mà người thuộc trường hợp được giảm tiền án phí phải chịu theo quy định của Nghị quyết này. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được giảm.

     

    Câu 2. Ông Vy Tiến Lâm trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi:  việc xử lý các hành vi vi phạm về áp dụng biện pháp phòng, chống dịch bệnh được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế thì việc xử lý các hành vi vi phạm về áp dụng biện pháp phòng chống dịch được quy định cụ thể như sau:

     

    Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

    - Không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế;

     

    Không thông báo Ủy ban nhân dân và cơ quan y tế dự phòng trên địa bàn về các trường hợp mắc bệnh dịch theo quy định của pháp luật.

     

    Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

              - Che dấu tình trạng bệnh của mình hoặc của người khác khi mắc bệnh truyền nhiễm đã được công bố là có dịch;

     

    - Không thực hiện hoặc từ chối thực hiện các biện pháp vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trong vùng có dịch.

     

    - Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

    - Không tham gia chống dịch theo quyết định huy động của Ban Chỉ đạo chống dịch;

    - Thực hiện việc thu phí khám và điều trị đối với trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm các bệnh ( bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê - bô - la (Ebola), Lát-sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh)

     

    Không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực vật và vật khác là trung gian truyền bệnh.

     

    Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

    - Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch;

     

    - Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp cấm kinh doanh, sử dụng loại thực phẩm là trung gian truyền bệnh;

     

    Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.

     

    Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

    - Không thực hiện quyết định kiểm tra, giám sát, xử lý y tế trước khi ra vào vùng có dịch thuộc nhóm A;

     

    - Đưa ra khỏi vùng có dịch thuộc nhóm A những vật phẩm, động vật, thực vật, thực phẩm và hàng hóa khác có khả năng lây truyền bệnh dịch;

     

    Không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác là trung gian truyền bệnh thuộc nhóm A.

     

    Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

     

    - Không thực hiện yêu cầu kiểm tra và xử lý y tế đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch trong tình trạng khẩn cấp về dịch;

     

    - Không thực hiện quyết định cấm tập trung đông người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch;

     

    - Đưa người, phương tiện không có nhiệm vụ vào ổ dịch tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch;

     

    Không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch.

     

    Biện pháp khắc phục hậu quả:

     

    - Buộc thực hiện các biện pháp vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trong vùng có dịch đối với hành vi không thực hiện hoặc từ chối thực hiện các biện pháp vệ sinh, diệt trùng, tẩy uế trong vùng có dịch;

     

    - Buộc hoàn trả số tiền đã thu không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi thu phí khám và điều trị đối với trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A. Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước;

     

    - Buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác đối với hành vi không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác là trung gian truyền bệnh thuộc nhóm A và không thực hiện quyết định buộc tiêu hủy động vật, thực phẩm, thực vật và các vật khác có nguy cơ làm lây lan bệnh dịch sang người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch.

    Nhắn tin:

     

    Ông Lương Thế Mộng trú tại thôn Tồng Kịt, xã Trung Quán, huyện Văn Lãng khiếu nại về việc Công an huyện Hữu Lũng đã thu giữ 6,3 vạn Nhân dân tệ trong quá trình vợ chồng ông vận chuyển từ Lạng sơn về Hà Nội đến nay vẫn chưa được giải quyết.

     

    Ngày 28/12/2016 Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với trạm Cảnh sát giao thông Tùng Diễn làm nhiệm vụ tại thôn Tân Thành, xã Đồng tân, huyện Hữu Lũng đã kiểm tra phát hiện xe ô tô BKS:29A-950.13 đang di chuyển theo hướng Hà Nội – Lạng Sơn vi phạm tốc độ. Qua kiểm tra phát hiện tại ghế phụ xe ô tô có một ba lô màu đen, bên trong có 6,3 vạn Nhân dân tệ, số tiền này được bà Đinh Thị Khơ là vợ của ông Lương Thế Mộng khai nhận là tiền của mình vận chuyển thuê từ cửa khẩu Tân Thanh, huyện Văn Lãng về Hà Nội.

     

    Sau khi xác minh làm rõ số tiền 6,3 vạn Nhân dân tệ do bà Khơ vận chuyển thuê là tang vật vi phạm pháp luật. Căn cứ Khoản 3, Điều 38; điểm b, Khoản 1 Điều 65; Khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, Công an huyện Hữu Lũng đã tham mưu Chủ tịch UBND huyện Hữu Lũng trình Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn ra quyết định xử lý theo thẩm quyền. Đến ngày 15/6/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn đã có quyết định số 59/QĐ-TTTV tịch thu số tiền 6,3 vạn Nhân dân tệ trên để sung công quỹ nhà nước theo quy định.

     

    2. Ông Nông Văn So trú tại thôn Kéo Có, xã Bảo Lâm, huyện Cao Lộc thắc mắc về việc UBND xã giải quyết tranh chấp đất đai của gia đình ông.

     

    Theo đơn và tài liệu ông gửi kèm thì vụ việc đã được UBND xã Bảo Lâm hòa giải vào năm 2016 và đến nay vẫn còn tiếp tục tranh chấp. Đề nghị ông gửi đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀi

     

    Thứ ba, ngày 22 tháng 8 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Phương Minh Chí trú tại xã Vĩnh Lại, huyện Văn Quan hỏi: mức xử phạt đối với hành vi không thực hiện tiêm phòng cho vật nuôi của gia đình?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định 119/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ vật nuôi có hành vi không thực hiện tiêm phòng cho vật nuôi của mình.

     

    “1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ vật nuôi có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    a)     Không thực hiện việc tiêm phòng vắc xin hoặc các biện pháp phòng bệnh bắt buộc khác cho động vật để phòng các bệnh thuộc Danh mục các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc;”

    b)     

    Theo quy định trên thì chủ vật nuôi sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính khi không thực hiện tiêm phòng để phòng các bệnh thuộc Danh mục các bệnh phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc. Căn cứ vào tiểu mục 1.1, mục 1, phụ lục 7 của Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT có quy định:

     

    “1. Các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phải áp dụng biện pháp phòng bệnh bắt buộc bằng vắc xin cho động vật nuôi

     

    1.1. Một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm theo loài động vật nuôi như sau:

     

    a) Bệnh ở trâu bò: Lở mồm long móng, Nhiệt thán, Tụ huyết trùng;

     

    b) Bệnh ở lợn: Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, Dịch tả lợn;

     

    c) Bệnh ở dê, cừu: Lở mồm long móng, Nhiệt thán;

     

    d) Bệnh ở gà, chim cút: Cúm gia cầm (thể độc lực cao), Niu cát xơn;

     

    đ) Bệnh ở vịt, ngan: Cúm gia cầm (thể độc lực cao), Dịch tả vịt;

     

    e) Bệnh ở chó, mèo: Dại động vật.”

     

    Như vậy, theo quy định trên thì đối với động vật mà chủ vật nuôi không thực hiện tiêm phòng thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 300 nghìn đồng đến 500 nghìn đồng.

     

    Câu 2.  Ông Lương Thế Thành trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: điều kiện và thủ tục như thế nào để được hưởng chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học?

     

    Trả lời:

     

    Thứ nhất, theo quy định tại Điều 39, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ về điều kiện xác nhận người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc hóa học như sau:

     

    1. Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ ngày 1/8/1961 – 30/4/1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K (kể cả 10 xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Tân, Vĩnh Thành, Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà, Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn và Vĩnh Thủy thuộc huyện Vĩnh Linh - tỉnh Quảng Trị).

     

    2. Do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp bệnh tật sau:

     

    a) Mắc bệnh trong danh mục bệnh tật quy định tại Thông tư liên tịch số 20/2016/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 30/6/2016 của Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên;

     

    b) Vô sinh;

     

    c) Sinh con dị dạng, dị tật theo danh mục dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định.

    Thứ hai, theo Điều 41, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ, anh cần chuẩn bị những thủ tục sau:

     

    1. Giấy tờ chứng minh có thời gian tham gia kháng chiến ở vùng quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học.

     

    2. Bản sao bệnh án điều trị tại cơ sở y tế có thẩm quyền do Bộ Y tế quy định.

     

    3. Biên bản giám định của Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền.

     

    4. Giấy chứng nhận bệnh tật; dị dạng, dị tật do nhiễm chất độc hóa học của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đối với các trường hợp là cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam; Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lượng Công an nhân dân hoặc của Giám đốc Sở Y tế đối với các trường hợp là cán bộ, công nhân viên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Thanh niên xung phong tập trung; Công an xã; dân quân; du kích; tự vệ; dân công; cán bộ thôn, ấp, xã, phường.

     

    5. Quyết định trợ cấp, phụ cấp của cơ quan có thẩm quyền.

     

    Câu 3. Bà Hứa Thị Ban trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Những trường hợp nào được từ chối tiếp công dân và Trách nhiệm của người tiếp công dân được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 9 Luật tiếp công dân quy định:

     

    Người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:

     

    1. Người trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

     

    2. Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân;

     

    3. Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài;

     

    4. Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

     

    Theo Điều 8 Luật tiếp công dân quy định về trách nhiệm của người tiếp công dân như sau:

     

    1. Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải bảo đảm trang phục chỉnh tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định.

     

    2. Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc.

     

    3. Có thái độ đứng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày.

     

    4. Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận, quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết.

     

    5. Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân.

     

    6. Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 15 tháng 8 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Văn Đô, trú tại trị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Theo pháp luật quy định khi thực hiện việc khiếu nại, người khiếu nại có những quyền gì ?

     

    Trả lời :

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật khiếu nại, người khiếu nại có những quyền sau đây:

     

    a) Tự mình khiếu nại; trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại. Quy định này nhằm bảo đảm quyền tự quyết định việc có khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình cho là đã xâm hại đối với quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

     

    b) Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật trong quá trình khiếu nại hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

     

    Trường hợp người khiếu nại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

     

    c) Tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại. Việc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại thực hiện theo pháp luật dân sự về ủy quyền.

     

    d) Được biết, đọc, sao chụp, sao chép, tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước.

    d) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước.

     

    e) Được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại.

     

    g) Đưa ra chứng cứ về việc khiếu nại và giải tŕnh ư kiến của ḿnh về chứng cứ đó.

     

    h) Nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại.

     

     i)  Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

     

    k) Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Quy định này tạo điều kiện cho người khiếu nại nếu không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu thì có thể tiếp tục khiếu nại lên cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại toà án.

     

    l) Rút khiếu nại.

     

    Câu 2. Ông Vương Minh Lý trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những loại văn bản nào được coi là giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú?

     

    Trả lời:

     

              Điều 6 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật cư trú, quy định:

     

    1. Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú là một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

     

    1.1. Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân là một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

     

    - Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ;

     

    - Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó);

     

    - Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp giấy phép);

     

    - Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước hoặc giấy tờ về hóa giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

     

    - Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán;

     

    - Giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp xã);

     

    - Giấy tờ về giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình di dân theo kế hoạch của Nhà nước hoặc các đối tượng khác;

     

    - Giấy tờ của Tòa án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;

     

    - Giấy tờ có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;

     

    - Giấy tờ chứng minh về đăng ký tàu, thuyền, phương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến gốc của phương tiện sử dụng để ở. Trường hợp không có giấy đăng ký thì cần có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc có tàu, thuyền, phương tiện khác sử dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế tàu, thuyền, phương tiện khác và địa chỉ bến gốc của phương tiện đó.

     

    1.2. Giấy tờ, tài liệu chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân (trường hợp văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã). Đối với nhà ở, nhà khác tại thành phố trực thuộc trung ương phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về điều kiện diện tích bình quân bảo đảm theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương và được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý băng văn bản;

     

    1.3. Giấy tờ chứng minh của cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo đối với thương binh, bệnh binh, người thuộc diện chính sách ưu đãi của Nhà nước, người già yếu, cô đơn, người tàn tật và các trường hợp khác được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung và các chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà sống tại cơ sở tôn giáo.

     

    1.4. Giấy tờ của cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về việc được cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nhượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức).

     

    2. Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký tạm trú là một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

     

    2.1. Một trong những giấy tờ, tài liệu theo quy định, trừ trường hợp giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp là văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá nhân thì văn bản đó không cần công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã;

     

    2.2. Văn bản cam kết của công dân về việc có chỗ ở thuộc quyền sử dụng của mình và không có tranh chấp về quyền sử dụng nếu không có một trong các giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật.

     

    3. Trong trường hợp các văn bản pháp luật về nhà ở có thay đổi thì Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể các giấy tờ, tài liệu khác chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú, tạm trú phù hợp với văn bản pháp luật đó.

    Câu 3. Anh Lý Ngọc Nam trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong thời hạn bao lâu sau khi sinh con thì cha, mẹ phải đăng ký thường trú cho con?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014  về thời hạn đăng ký thường trú:

     

    1. Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới và có đủ điều kiện đăng ký thường trú thì người thay đổi chỗ ở hợp pháp hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú tại chỗ ở mới.

     

    2. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của người có sổ hộ khẩu, người được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ của mình hoặc đại diện hộ gia đình có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú.

     

    3. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày trẻ em được đăng ký khai sinh, cha, mẹ hoặc đại diện hộ gia đình, người giám hộ, người nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký thường trú cho trẻ em đó.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 8 tháng 8 năm 2017

     

    Câu 1: Ông Vương Đức Tuấn trú tại xã Mai Sao, huyện Chi Lăng hỏi: những hành vi bị nghiêm cấm khi đối xử với người khuyết tật và muốn xác nhận mức độ khuyết tật cần những thủ tục gì?

    Trả lời:

    Theo Điều 4 Luật Người Khuyết tật quy định gồm có 7 hành vi bị nghiêm cấm khi đối xử với người khuyết tật:

    1.  Kỳ thị, phân biệt đối xử người khuyết tật.

    Xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật.

    Lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội.

    Lợi dụng người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật, hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

    Người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc theo quy định của pháp luật.

    Cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con của người khuyết tật.

    Gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết tật.

    Theo Điều 18 Luật Người khuyết tật muốn xác nhận mức độ khuyết tật cần những thủ tục sau:

    - Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú.

    - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

    - Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tổ chức việc xác định mức độ khuyết tật, lập hồ sơ xác định mức độ khuyết tật và kết luận.

    - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết và thông báo công khai kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật.

    Câu 2. Bà Nông Thanh Mai trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Quy định về tổ chức mừng thọ cho người cao tuổi và mức quà tặng chúc thọ, mừng thọ cho người cao tuổi được quy định thế nào?

     

    Trả lời:

    Theo căn cứ tại Điều 21 Luật Người cao tuổi 2009 quy định về việc Chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi như sau:

    1. Người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúc thọ và tặng quà.

    2. Người thọ 90 tuổi được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chúc thọ và tặng quà.

    3. UBND xã, phường, thị trấn phối hợp với Hội Người cao tuổi tại địa phương, gia đình của người cao tuổi tổ chức mừng thọ người cao tuổi ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi trở lên vào một trong các ngày sau đây:

    a) Ngày Người cao tuổi Việt Nam;

    b) Ngày Quốc tế người cao tuổi;

    c) Tết Nguyên đán;

    d) Sinh nhật của người cao tuổi.

    4. Kinh phí thực hiện quy định tại điều này do ngân sách nhà nước bảo đảm và nguồn đóng góp của xã hội.

    Việc chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi được hướng dẫn tại Điều 21 Nghị định 06/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật người cao tuổi.

    Căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức quà tặng người thọ 70, 75, 80, 85, 95 tuổi và trên 100 tuổi.

    Việc tổ chức mừng thọ người cao tuổi thực hiện trang trọng, tiết kiệm phù hợp với nếp sống văn hóa, phong tục tập quán của địa phương.

    Câu 3. Ông Hứa Văn Hào trú tại xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia hỏi: về mức hỗ trợ lương thực cho các đối tượng được bảo trợ xã hội được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Nghị định số 136/NĐ-CP, ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thì mức hỗ trợ lương thực cho các đối tượng được bảo trợ xã hội như sau:

    1. Hỗ trợ 15 kg gạo/người đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong dịp Tết Âm lịch.

    2. Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng cho mỗi đợt trợ giúp đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác.

    3. Thủ tục hỗ trợ thực hiện theo quy định sau đây:

    a) Trưởng thôn, bản, phum, sóc, ấp, cụm, khóm, tổ dân phố (sau đây gọi chung là Trưởng thôn) lập danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói cần hỗ trợ theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định;

    b) Trưởng thôn chủ trì họp với đại diện của các tổ chức có liên quan trong thôn để bình xét hộ gia đình, số người trong hộ gia đình thiếu đói gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

    c) Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Trưởng thôn, Hội đồng xét duyệt thống nhất danh sách hộ gia đình và số người thiếu đói, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định;

    d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định cứu trợ ngay những trường hợp cấp thiết. Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;

    đ) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định hỗ trợ;

    e) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định hỗ trợ. Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính;

    g) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Trường hợp thiếu nguồn lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính;

    h) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;

    i) Khi nhận được hỗ trợ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện ngay việc trợ giúp cho đối tượng bảo đảm đúng quy định;

    k) Kết thúc mỗi đợt hỗ trợ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả hỗ trợ.

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Bà Ngô Hồng Oanh trú tại thôn Khỏn Pát, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn kiến nghị về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng. Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Bà Đồng Thị Hiếu trú tại số 8/4, khối 6, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn kiến nghị về việc di dời lò giết mổ, quay lợn thải khí độc trong môi trường. Trong nội dung đơn của bà, phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND phường Hoàng Văn Thụ.


     
    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 1 tháng 8 năm 2017

    Câu 1. Ông Lý Phương Nam trú tại xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì nội dung, mức chi cho công tác tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 10, Thông tư liên tịch số 148/2014/TTLT -BTC-BLĐTBXH ngày  8  tháng  10  năm 2014  của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; chế độ đối với người chưa thành niên, người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng thì nội dung, mức chi cho công tác tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được quy định như sau:

    Điều 10. Nội dung, mức chi cho công tác tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng

    1. Chi lập, thẩm tra hồ sơ cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng; lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng: 30.000 đồng/hồ sơ.
    2. Chi họp thẩm tra, xét duyệt hồ sơ đề nghị cai nghiện ma tuý bắt buộc tại cộng đồng:

    a) Thành viên tham dự: 50.000 đồng/người/buổi;

    b) Chi nước uống cho người tham dự. Mức chi theo quy định tại Thông tư số 97/2010/TT-BTC.

    3. Chi hỗ trợ cho cán bộ Tổ công tác cai nghiện ma tuý (do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập) khi tham gia công tác điều trị, quản lý, bảo vệ, tư vấn, hỗ trợ người cai nghiện như sau:

    a) Chi hỗ trợ công tác quản lý: văn phòng phẩm, in hồ sơ, mua sổ sách, trang thiết bị phục vụ việc theo dõi, thống kê, lập danh sách, quản lý hồ sơ người cai nghiện ma tuý. Mức chi thanh toán theo thực tế phát sinh trên cơ sở dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

    b) Chi hỗ trợ cán bộ tham gia công tác điều trị, quản lý, bảo vệ người cai nghiện ma tuý trong thời gian điều trị cắt cơn nghiện ma tuý bắt buộc tập trung tại cộng đồng với mức 50.000 đồng/người/ngày;

    c) Chi hỗ trợ cho cán bộ được giao nhiệm vụ tư vấn về tâm lý, xã hội cho người cai nghiện ma tuý với mức như sau:

    - 50.000 đồng/buổi tư vấn/người cai nghiện ma tuý;

    - 70.000 đồng/buổi tư vấn/nhóm người cai nghiện ma tuý (từ hai người trở lên);

    d) Chi hỗ trợ cán bộ theo dõi, quản lý đối tượng cai nghiện tại gia đình và cộng đồng: mức hỗ trợ cụ thể và số lượng cán bộ do Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định phù hợp với điều kiện thực tế về số lượng đối tượng nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng và điều kiện địa lý của từng xã, phường, thị trấn nhưng mức tối đa là 350.000 đồng/người/tháng.

    4. Chi phí vận chuyển người nghiện ma tuý từ nơi cư trú của người nghiện đến cơ sở điều trị cắt cơn tập trung tại cộng đồng (nếu có). Mức chi theo giá phương tiện công cộng phổ thông áp dụng tại địa phương. Trường hợp sử dụng phương tiện của cơ quan, đơn vị, chi phí tính theo số km và tiêu hao nhiên liệu thực tế; trường hợp thuê xe bên ngoài thì giá thuê xe theo hợp đồng, chứng từ, hóa đơn thực tế và phù hợp với giá trên địa bàn cùng thời điểm.

    Câu 2. Ông Phương Văn Đông trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Đăng ký kết hôn và đăng ký khai sinh cho con trong trường hợp cha, mẹ chưa đăng ký kết hôn?

    Trả lời:

    Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp đã quy định đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, chưa có đăng ký kết hôn, đã có con chung. Trước hết thực hiện việc đăng ký kết hôn, sau đó thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con hoặc có thể yêu cầu giải quyết đồng thời hai việc trên.

    Thứ nhất: Thực hiện đăng ký kết hôn

    1. Thẩm quyền đăng ký kết hôn là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn, nếu hai bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    2. Các Giấy tờ nộp và xuất trình khi đăng ký kết hôn

    - Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.

    - Nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nếu:

    + Trường hợp đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà người yêu cầu đăng ký kết hôn không thường trú tại xã, phường, thị trấn nơi đăng ký kết hôn thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cấp.

    + Trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp.

    - Người yêu cầu đăng ký kết hôn xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng, để chứng minh về nhân thân.

    3. Thời hạn giải quyết: Trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ ngay trong ngày tiếp nhận hồ sơ; trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo. Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.

    4. Lệ phí: Được miễn đối với đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

    Thứ hai: Đăng ký khai sinh cho con

    Để đăng ký khai sinh cho con thì thực hiện như sau:

    - Tại khoản 3, Điều 13 của Thông tư số 15/2015/TT-BTP có quy định: Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, chưa được đăng ký khai sinh mà khi đăng ký khai sinh, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì thông tin về người cha được ghi ngay vào Giấy khai sinh của người con mà không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con.

    - Thẩm quyền đăng ký khai sinh là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh.

    - Các Giấy tờ nộp và xuất trình khi đăng ký khai sinh

    + Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh.

    + Văn bản thừa nhận con chung của hai vợ chồng.

    + Người yêu cầu đăng ký khai sinh xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng, để chứng minh về nhân thân. Trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng ký kết hôn thì còn phải xuất trình giấy chứng nhận kết hôn.

    3. Lệ phí: Miễn lệ phí.

    4. Thời hạn giải quyết: Giấy khai sinh được cấp ngay trong ngày tiếp nhận hồ sơ; trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 18 tháng 7 năm 2017

    Câu 1. Ông Bế Ngọc Sơn trú tại xã Hồng Thái, huyện Bình Gia hỏi: Nhà nước có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động là người dân tộc thiểu số không? tôi muốn được nắm rõ về chính sách này?

    Trả lời:

    Bộ Tài chính mới ban hành Thông tư số 58/2017/TT-BTC ngày 13/6/2017 về hướng dẫn chính sách hỗ trợ tài chính về chi trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo nghề ngắn hạn, tiền thuê đất cho các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số cư trú hợp pháp trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, khu vực miền núi và vùng đặc biệt khó khăn.

    Cụ thể Thông tư quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn cho người dân tộc thiểu số như sau:

    Thứ nhất, nguyên tắc hỗ trợ:

    a) Lao động là người dân tộc thiểu số thuộc diện phải đào tạo theo kế hoạch tuyển dụng, đào tạo của đơn vị sử dụng lao động được hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) mỗi người một lần.

    b) Kinh phí hỗ trợ đào tạo được cấp trực tiếp cho đơn vị sử dụng lao động theo kế hoạch đào tạo đã được cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt (tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước đối với các đơn vị trực thuộc; Bộ, ngành đối với đơn vị thuộc Bộ, ngành; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với đơn vị thuộc địa phương quản lý bao gồm cả các hợp tác xã, doanh nghiệp ngoài nhà nước, các công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty mẹ và doanh nghiệp thành viên của tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước có trụ sở chính đóng trên địa bàn).

    c) Việc đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động được thực hiện tại các cơ sở đào tạo đủ điều kiện hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

    d) Nơi cư trú của người lao động để làm căn cứ xác định mức hỗ trợ chi phí đào tạo quy định tại Thông tư này được xác định theo quy định tại Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn.

    Thứ hai, đối tượng hỗ trợ và mức hỗ trợ:

    a) Hỗ trợ chi phí đào tạo:

    Người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo: mức tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học.

    Người dân tộc thiểu số: mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học.

    b) Hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại:

    Hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/người/ngày thực học.

    Hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/ người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15 km trở lên.

    Riêng đối với người học là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, mức hỗ trợ tiền đi lại 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5 km trở lên.

    Thứ ba, trường hợp đối tượng được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ cùng một nội dung thì chỉ được hưởng chính sách cao nhất.

    Câu 2. Ông Lành Văn Sáu trú tại xã Văn An, huyện Văn Quan hỏi: Hiện nay tội phạm mua bán người diễn biến rất phức tạp, để lại nhiều hậu quả nghiệm trọng, tối muốn biết dấu hiệu để nhận diện loại tội phạm nguy hiểm này?

    Trả lời:

    Pháp luật hình sự Việt Nam quy định Tội mua bán người là loại tội phạm nghiêm trọng mà mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù, ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. Tội phạm này được quy định tại Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Bộ luật Hình sự năm 2015.

        Để nhận diện đúng và có biện pháp đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả loại tội phạm này, chúng ta cần nắm vững những dấu hiệu sau:

        1. Mua bán người là hành vi coi con người như là một loại hàng hóa để mua, bán trao đổi kiếm lời, xâm phạm nhân phẩm, danh dự, quyền tự do của con người.

        Được coi là tội phạm mua bán người khi nạn nhân tròn 16 tuổi trở lên, nếu dưới 16 tuổi thì bị coi là mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em có khung hình phạt cao hơn. Mua bán người được thể hiện như mua, bán, trao đổi người dể lấy tiền, hàng hóa hoặc lợi ích vật chất khác. Việc dùng thủ đoạn để lừa dối như tạo công an việc làm với thu nhập cao, rủ đi chơi, giới thiệu kết hôn...và việc nạn nhân có đồng ý bán mình hay không, không có ý nghĩa đối với việc định tội, có nghĩa là người phạm tội không thể được tha miễn trách nhiệm hình sự bởi lý do này.

        2. Hậu quả của hành vi mua bán người là nạn nhân đã bị đem ra bán. Nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi tìm ngươi, liên hệ nơi bán, thỏa thuận giá cả nhưng chưa thực hiện việc mua bán người thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

        3. Về trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này.

        4. Mua bán người vì mục đích mại dâm là việc bán nạn nhân cho các ổ chứa, nhà hàng, khách sạn trong đó bí mật hoạt động mại dâm hoặc cho người nước ngoài để họ quan hệ tình dục...

        5. Phạm tội có tổ chức là phạm tội từ 2 người trở lên có sự phân công trách nhiệm từng người trong hành động; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là lấy việc mua bán người làm nguồn thu nhập chính, nguồn sống chủ yếu.

        6. Để đưa ra nước ngoài là việc đưa nạn nhân ra khỏi biên giới ViệtNam. Khi có hành vi chuẩn bị và tiến hành đưa ra nước ngoài là tội phạm đã hoàn thành, không cần phải đưa nạn nhân ra nước ngoài trót lọt.

        7. Mua bán nhiều người là mua bán từ hai người trở lên; Mua bán nhiều lần là mua bán từ hai lần trở lên mà những lần này chưa bị phát hiện xử lý.

        8. Nếu người phạm tội có tổ chức cho nạn nhân trốn ra nước ngoài (có sự tự nguyện của họ) hoặc cưỡng ép họ trốn ra nước ngoài thì không phạm tội mua bán người mà họ phạm tội tổ chức hoặc cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 275 Bộ luật Hình sự.

    Câu 3. Ông Nguyễn Minh Hưng trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi con chưa thành niên gây thiệt hại về tài sản của người khác?

    Trả lời:

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trách nhiệm dân sự mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Vậy, khi con chưa thành niên hoặc con mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại về tài sản cho người khác thì nghĩa vụ bồi thường được xác định cụ thể như sau

    Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và Bộ luật dân sự 2015 thì nghĩa vụ bồi thường đối với thiệt hại về tài sản do con chưa thành niên hoặc con mất năng lực hành vi dân sự gây ra được xác định:

    - Cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại so con chưa thành niên dưới 15 tuổi gây ra. Nếu cha, mẹ không đủ tài sản để bồi thường mà người con gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp con gây thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý.

    - Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản riêng của mình. Nếu người gây thiệt hại không có tài sản thì cha, mẹ phải bồi thường. Nếu người gây thiệt hại có tài sản nhưng không đủ để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu.

    - Con mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà cha, mẹ là người giám hộ thì cha, mẹ được lấy tài sản của người con đó để bồi thường. Nếu người con mất năng lực hành vi dân sự không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ là người giám hộ phải bồi thường bằng chính tài sản của mình.

    - Con dưới 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian học tại trường thì trường học có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Con mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác quản lý thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường. Nếu trường học, bệnh viên, tổ chức khác chứng minh được rằng họ không có lỗi trong việc quản lý người con đó thì cha, mẹ phải bồi thường thiệt hại do con gây ra.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 11 tháng 7 năm 2017

    Câu 1. Ông Nguyễn Trung Đức trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Xin cho biết pháp luật hiện hành quy định các hành vi nào bị nghiêm cấm trong đăng ký hộ tịch?

    Trả lời:

    Theo Điều 12 Luật Hộ tịch 2014 quy định các hành vi bị nghiêm cấm như sau:

    1. Nghiêm cấm cá nhân thực hiện các hành vi sau đây:

    a) Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; làm hoặc sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ của người khác để đăng ký hộ tịch;

    b) Đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch;

    c) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch;

    d) Cam đoan, làm chứng sai sự thật để đăng ký hộ tịch;

    đ) Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch;

    e) Đưa hối lộ, mua chuộc, hứa hẹn lợi ích vật chất, tinh thần để được đăng ký hộ tịch;

    g) Lợi dụng việc đăng ký hộ tịch hoặc trốn tránh nghĩa vụ đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc trục lợi dưới bất kỳ hình thức nào;

    h) Người có thẩm quyền quyết định đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho bản thân hoặc người thân thích theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;

    i) Truy cập trái phép, trộm cắp, phá hoại thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

    2. Giấy tờ hộ tịch được cấp cho trường hợp đăng ký hộ tịch mà vi phạm quy định đều không có giá trị và phải thu hồi, huỷ bỏ.

    3. Cá nhân thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn bị xử lý kỷ luật theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức.

    Câu 2. Ông Lý Văn Ba trú tại xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn hỏi: Thủ tục công nhận liệt sỹ cho thương binh chết do vết thương tái phát

    Trả lời:

    Về Điều kiện thực hiện thủ tục:

    Theo quy định tại Điểm I Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013, việc xác nhận liệt sỹ cho thương binh chết do vết thương tái phát được áp dụng trong các trường hợp sau:

    - Suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên do vết thương tái phát có xác nhận của cơ sở y tế.

    - Suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% chết trong khi đang điều trị vết thương tái phát tại bệnh viện cấp huyện hoặc tương đương trở lên.

    Theo hướng dẫn tại Khoản 8 Điều 4 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 5 năm 2013, việc cấp giấy báo tử làm thủ tục xác nhận liệt sỹ đối với trường hợp thương binh chết do vết thương tái phát cần có những giấy tờ sau:

    - Thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên phải có giấy xác nhận chết do vết thương tái phát của cơ sở y tế kèm theo hồ sơ thương binh;

    - Thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% phải có Bệnh án điều trị (bản sao) và biên bản kiểm thảo tử vong do vết thương tái phát của Giám đốc bệnh việc cấp huyện trở lên kèm theo hồ sơ thương binh.

    Về hồ sơ:

    Thủ tục công nhận liệt sỹ cho thương binh chết do vết thương tái phát, bao gồm:

    + Giấy bảo tử

    + Giấy tờ làm căn cứ giấy báo tử.

    Thủ tục tiến hành:

    + Cá nhân chuẩn bị hồ sơ công nhận liệt sỹ cho thương binh chết do vết thương tái phát.

    + Cá nhân nộp hồ sơ tại cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người hy sinh.

    + Cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người hy sinh có trách nhiệm xác lập, hoàn thiện các hồ sơ gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy báo tử quy định.

    + Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy báo tử trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, có trách nhiệm: Kiểm tra, xác minh, cấp giấy báo tử và chuyển hồ sơ xác nhận liệt sĩ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

    + Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra và có văn bản đề nghị kèm hồ sơ gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để thẩm định.

    + Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:

    - Trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, lập tờ trình và danh sách kèm theo trình Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng “Tổ quốc ghi công”;

    - Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận Bằng “Tổ quốc ghi công”, có trách nhiệm chuyển hồ sơ kèm Bằng “Tổ quốc ghi công” đến cơ quan đề nghị thẩm định để trả về cơ quan, đơn vị cấp giấy báo tử.

    + Cơ quan, đơn vị cấp giấy báo tử trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận Bằng “Tổ quốc ghi công” và hồ sơ, có trách nhiệm thông báo cho thân nhân liệt sĩ và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thân nhân liệt sĩ cư trú tổ chức lễ truy điệu liệt sĩ, trao Bằng “Tổ quốc ghi công”, sau đó bàn giao hồ sơ xác nhận liệt sĩ về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi gia đình liệt sĩ cư trú để thực hiện chế độ.

    Câu 3. Chị Nông Thị Lan trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: tôi là công chức làm việc tại Uỷ ban nhân dân xã bị mắc bệnh phải chữa trị dài ngày. Sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định nhưng sức khoẻ còn yếu, vậy tôi có được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ không? Nếu có thì thời gian và mức hưởng như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 29 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014: người lao động đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày trong một năm. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

    Như vậy, căn cứ vào quy định trên, nếu sau thời gian hưởng chế độ ốm đau mà sức khỏe chưa hồi phục, chị được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định.

    Luật bảo hiểm xã hội cũng quy định rõ: số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa có công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định như sau:

    - Tối đa 10 ngày đối với người lao động sức khoẻ chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;

    - Tối đa 07 ngày đối với người lao động sức khoẻ chưa phục hồi sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật;

    - Bằng 05 ngày đối với các trường hợp khác.

    Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng nhận được 03 đơn thư khiếu nại của ông Lương Thế Mộng trú tại thôn Tồng Kịt, xã Trùng Quán, huyện Văn Lãng:

    1. Khiếu nại về việc UBND xã không giải quyết trợ cấp hỗ trợ khó khăn và không cho xây dựng miếu thờ cúng tại địa điểm hay sảy ra tai nạn giao thông. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Trùng Quán, huyện Văn Lãng để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Khiếu nại về việc Công an huyện Hữu Lũng thu giữ 6,3 vạn tiền nhân dân tệ. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Công an huyện Hữu Lũng để xem xét giải quyết và trả lời.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 4 tháng 7 năm 2017

    Thưa quý vị và các bạn

    Trong chuyên mục tuần này chúng tôi xin được giải đáp những vướng mắc về pháp luật qua đơn thư chúng tôi đã tổng hợp được trong tuần qua như sau:

    Câu 1. Ông Mã Văn Đô trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: những trường hợp nào sinh con thứ 3 không vi phạm chính sách dân số theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

      Theo quy định tại Điều 2, Nghị định số 20/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số thì những trường hợp sau đây sinh con thứ 3 không vi phạm chính sách dân số và không bị xử lý.

    1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên; Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên; Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi; Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp trung ương xác nhận.

     3. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):

     Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ); Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.

    4. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

     Ngày 20-1-2014, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 03/2014/TT-BYT (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-3-2014) kèm danh mục dị tật, bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền để xác định cặp vợ chồng sinh con thứ ba không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con theo quy định tại Khoản 5, Điều 2, Nghị định số 20/2010/NĐ-CP. Danh mục dị tật, bệnh hiểm nghèo này gồm 158 tên dị tật, bệnh quy định như: Di chứng viêm não; Tất cả các chẩn đoán xác định ung thư; hội chứng tan máu do urê cao; Hội chứng thiếu iốt bẩm sinh; tính tự kỷ ở trẻ em; tâm thần phân liệt…

    Câu 2. Ông Nguyễn Minh Đức trú tại UBND phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về việc dừng đỗ xe ô tô đúng chỗ và mức xử phạt hành vi vi phạm?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Luật giao thông đường bộ 2008. Cụ thể như sau:

    Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ

    Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.

    Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

    Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

    Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

    Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

    Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

    Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

    Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

    Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

    Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

    Bên trái đường một chiều;

    Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

    Trên cầu, gầm cầu vượt;

    Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

    Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

    Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

    Nơi dừng của xe buýt;

    Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

    Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

    Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

    Che khuất biển báo hiệu đường bộ.

    Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố

    Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải tuân theo quy định về việc dừng, đỗ xe trên đường bộ và các quy định sau đây:

    Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình;bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

    Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện,trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.

    Các quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm được quy định tại Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP

    Khi dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết, đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng

    Đối với hành vi dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường rộng; dừng xe, đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường; dừng xe, đỗ xe ngược với chiều lưu thông của làn đường; đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn sẽ bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng

    Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m; dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe; đỗ xe; dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển “Cấm dừng xe và đỗ xe” bị phạt từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng.

    Phạt từ từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với các hành vi dừng xe, đỗ xe tại vị trí: Bên trái đường một chiều; trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc nơi tầm nhìn bị che khuất; trên cầu, gầm cầu vượt, song song với một xe khác đang dừng, đỗ; nơi đường bộ giao nhau hoặc trong phạm vi 05 m tính từ mép đường giao nhau; điểm dừng đón, trả khách của xe buýt; trước cổng hoặc trong phạm vi 05 m hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ô tô ra vào; nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe; che khuất biển báo hiệu đường bộ. Đỗ xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m; đỗ xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; đỗ, để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật ; đỗ xe nơi có biển “Cấm đỗ xe” hoặc biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”.

    Dừng xe, đỗ xe, gây ùn tắc giao thông và dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định sẽ bị phạt từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng.

    Không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe trên đường cao tốc; khi dừng xe, đỗ xe trên đường cao tốc không đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm theo quy định sẽ bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

    Câu 3. Bà Nông Thi Thu trú tại xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng hỏi: mức hỗ trợ chi phí mai táng cho người cao tuổi và hồ sơ để được hưởng hỗ trợ chi phí mai táng được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Nghị định 136/2013 ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó quy định về hỗ trợ chi phí mai táng phí như sau:

    Mức hỗ trợ chi phí mai táng bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (270.000 đồng x 20 lần). Trường hợp đối tượng được hỗ trợ chi phí mai táng với các mức khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất.

    Hồ sơ đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng bao gồm:

    Văn bản hoặc đơn đề nghị của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân đứng ra tổ chức mai táng cho đối tượng;

    Bản sao giấy chứng tử;

    Bản sao quyết định hưởng trợ cấp xã hội của người đơn thân;

    Bản sao sổ hộ khẩu hoặc văn bản xác nhận của công an cấp xã, bản sao quyết định thôi hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp khác của cơ quan có thẩm quyền;

    Thủ tục hỗ trợ chi phí mai táng:

    Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân tổ chức mai táng cho đối tượng làm hồ sơ theo quy định nêu trên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

    Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ của đối tượng gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định hỗ trợ chi phí mai táng theo quy định./.

    Nhắn tin: Trong tuần qua, chúng tôi cũng đã nhận được thư của bà Tàng Thị Nhung, trú tại Bản Thét, xã Lục Thôn, huyện Lộc Bình hỏi về chế độ tử tuất và mai táng phí đối với thương binh từ trần.

    Đề nghị bà trực tiếp liên hệ với Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Lộc Bình để được hướng dẫn, trả lời cụ thể.

    Người thực hiện: Tô Thị Huệ – Chuyên viên phòng phổ biến, giáo dục pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 27 tháng 6 năm 2017

    Câu 1. Ông Hứa Văn Chung trú tại xã Văn An, huyện Văn Quan hỏi: các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo làm ảnh hưởng mỹ quan, trật tự giao thông, xã hội?

    Trả lời:  Tại điều 8 của Luật quảng cáo 2012 có quy định về các hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo như sau:

     1. Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật.

     2. Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng.

     3. Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.

     4. Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội.

     5. Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

     6. Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật.

     7. Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.

     8. Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

     9. Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.

     10. Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.

     11. Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

               12. Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

    13. Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.

    14. Quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em.

    15. Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn.

    16. Treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng.

    -Về mức xử phạt:

    Theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi phát tờ rơi quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.

     Phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Quảng cáo tại mặt trước, mặt sau và trên nóc của một phương tiện giao thông; quảng cáo vượt quá diện tích mỗi mặt được phép quảng cáo của một phương tiện giao thông theo quy định.

    Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với người có sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo trên tờ rơi làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.

    Phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung trước khi thực hiện quảng cáo theo quy định.

    Quảng cáo thuốc không đúng với nội dung được xác nhận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quảng cáo thuốc đang trong thời hạn xem xét, giải quyết hồ sơ theo quy định; quảng cáo thuốc theo tài liệu thông tin quảng cáo đã được xác nhận hết giá trị; quảng cáo thuốc khi chưa nộp hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Quảng cáo trên các thiết bị điện tử tại nơi công cộng; phát tán hoặc thuyết trình tại hội chợ, hội thảo, hội nghị, triển lãm các sản phẩm in, ghi âm, ghi hình, thiết bị lưu chứa dữ liệu giới thiệu sản phẩm thực phẩm, phụ gia thực phẩm không đúng với hồ sơ công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp với quy định về an toàn thực phẩm hoặc hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo.

    Quảng cáo thực phẩm dưới hình thức bài viết của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế có nội dung mô tả thực phẩm có tác dụng điều trị bệnh; sử dụng hình ảnh, uy tín, thư tín của đơn vị, cơ sở y tế, nhân viên y tế, thư cảm ơn của bệnh nhân để quảng cáo thực phẩm.

    Quảng cáo thực phẩm chức năng dưới dạng liệt kê công dụng của từng thành phần của sản phẩm.

     Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tháo dỡ hoặc xóa bỏ quảng cáo.

    Câu 2: Ông Nguyễn Mạnh Thắng trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào được xem là thân nhân của người có công với cách mạng được Nhà nước đóng Bảo hiểm y tế?

    Trả lời: Thân nhân người có công với cách mạng thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế. Theo quy định tại khoản 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 quy định: “Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định đã nêu ở bên”

    Để xác định rõ các đối tượng nào là thân nhân của người có công được hưởng chính sách này, ngày 26/7/2016, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 25/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn xác định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm:

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ trên 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng;

    - Con liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ;

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

    Câu 3. Ông Lưu Tiến Minh trú tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia hỏi: Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho học sinh ở xã, thôn đặc biệt khó khăn như thế nào?

    Trả lời: Theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn như sau:

    Thứ nhất, về đối tượng được hỗ trợ và điều kiện học sinh được hưởng chính sách hỗ trợ:

    1. Học sinh tiểu học và trung học cơ sở phải bảo đảm một trong các điều kiện sau:

    - Là học sinh bán trú đang học tại trường phổ thông dân tộc bán trú;

    - Là học sinh mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở thuộc xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Nhà ở xa trường khoảng cách từ 4 km trở lên đối với học sinh tiểu học và từ 7 km trở lên đối với học sinh trung học cơ sở hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: Phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá;

    - Là học sinh mà bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi đang học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở thuộc xã khu vực II vùng dân tộc và miền núi. Nhà ở xa trường khoảng cách từ 4 km trở lên đối với học sinh tiểu học và từ 7 km trở lên đối với học sinh trung học cơ sở hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: Phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá.

    2. Học sinh trung học phổ thông là người dân tộc thiểu số, phải bảo đảm các điều kiện sau:

    - Đang học tại trường trung học phổ thông hoặc cấp trung học phổ thông tại trường phổ thông có nhiều cấp học;

    - Bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Nhà ở xa trường khoảng cách từ 10 km trở lên hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: Phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá.

    3. Học sinh trung học phổ thông là người dân tộc Kinh, phải đảm bảo điều kiện sau:

    - Đang học tại trường trung học phổ thông hoặc cấp trung học phổ thông tại trường phổ thông có nhiều cấp học;

    - Bản thân và bố, mẹ hoặc người giám hộ có hộ khẩu thường trú tại xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Nhà ở xa trường khoảng cách từ 10 km trở lên hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn: Phải qua sông, suối không có cầu; qua đèo, núi cao; qua vùng sạt lở đất, đá.

    - Là nhân khẩu trong gia đình thuộc hộ nghèo.

    (Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn).

    Thứ hai, về mức hỗ trợ:

    - Hỗ trợ tiền ăn: Mỗi học sinh được hỗ trợ mỗi tháng bằng 40% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh;

    - Hỗ trợ tiền nhà ở: Đối với học sinh phải tự túc chỗ ở do nhà trường không thể bố trí ở bán trú trong trường, mỗi tháng được hỗ trợ bằng 10% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh;

    - Hỗ trợ gạo: Mỗi học sinh được hỗ trợ mỗi tháng 15 kg gạo và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh.

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Đơn của ông Hoàng Văn Đạo trú tại thôn Tin Đèo, xã Mai Sao, huyện Chi Lăng về việc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố người có hành vi vi phạm pháp luật. Trong đơn của ông đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyển giải quyết là Công an huyện Chi Lăng. Công an huyện Chi Lăng sẽ có trách nhiệm xem xét, giải quyết.

    2. Ông Hoàng Văn Thu trú tại xã Đoàn Kết, huyện Tràng Định thắc măc về việc giao đất, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của gia đình ông. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND huyện Tràng Định để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 20 tháng 6 năm 2017

    Câu 1. Ông Hoàng Vũ Tùng trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Thủ tụctiếp nhận, xác minh nạn nhân bị mua bán trong nước được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo Điều 24 Luật phòng, chống mua bán ngườiquy định:

    1. Nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển ngay người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân.

    2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được thông báo của Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện việc tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân và phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp xác định thông tin ban đầu về nạn nhân trong trường hợp họ chưa có một trong các giấy tờ, tài liệu quy định bao gồm

    - Giấy xác nhận của cơ quan Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định.

    - Giấy xác nhận của cơ quan giải cứu theo quy định.

    - Giấy xác nhận của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.

    - Giấy tờ, tài liệu do cơ quan nước ngoài cấp đã được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hóa lãnh sự chứng minh người đó là nạn nhân.

    3. Sau khi tiếp nhận, căn cứ vào giấy tờ, tài liệu quy định hoặc kết quả xác định thông tin ban đầu về nạn nhân, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét để thực hiện việc hỗ trợ chi phí đi lại trong trường hợp nạn nhân tự trở về nơi cư trú; đối với nạn nhân là trẻ em thì thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích cư trú; trường hợp nạn nhân cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý và có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì làm thủ tục chuyển giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Đối với người chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận là nạn nhân thì Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị cơ quan Công an cùng cấp tiến hành việc xác minh.

    4. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp có đủ điều kiện xác định là nạn nhân thì cơ quan đã tiến hành xác minh cấp giấy xác nhận nạn nhân cho họ.

    Câu 2. Ông Hứa Văn Tuấn trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Pháp luật quy định hành vi nào bị nghiêm cấm để bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em?

    Trả lời: Theo Điều 6, Luật Trẻ em năm 2016 quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em bao gồm:

    1. Tước đoạt quyền sống của trẻ em.

    2. Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

    3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.

    4. Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn.

    5. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.

    6. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.

    7. Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.

    8. Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc Điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.

    9. Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.

    10. Cung cấp dịch vụ Internet và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.

    11. Công bố, Tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em.

    12. Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để trục lợi.

    13. Đặt cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em gần cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ.

    14. Lấn chiếm, sử dụng cơ sở hạ tầng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí và hoạt động dịch vụ bảo vệ trẻ em sai Mục đích hoặc trái quy định của pháp luật.

    15. Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, Điều trị trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.

    Câu 3. Ông Nông Văn Phúc trú tại trị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Các chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi, đối tượng được hưởng chính sách bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo Điều 17 Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định các chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi bao gồm:

    1. Bố trí ngân sách hằng năm phù hợp để thực hiện chính sách chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.

    2. Bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    3. Lồng ghép chính sách đối với người cao tuổi trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

    4. Phát triển ngành lão khoa đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi; đào tạo nhân viên chăm sóc người cao tuổi.

    5. Khuyến khích, tạo điều kiện cho người cao tuổi rèn luyện sức khoẻ; tham gia học tập, hoạt động văn hoá, tinh thần; sống trong môi trường an toàn và được tôn trọng về nhân phẩm; phát huy vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    6. Khuyến khích, hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tuyên truyền, giáo dục ý thức kính trọng, biết ơn người cao tuổi, chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

    7. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi.

    8. Xử lý nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Đối tượng được hưởng chính sách Bảo trợ xã hội là:

    1. Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng những người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng.  

    2. Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc trường hợp người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

     

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 13 tháng 6 năm 2017

    Câu 1. Ông Vi Mạnh Chinh trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi? Quy trình Tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định việc Tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh như sau:

    1. Khi công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân có trách nhiệm đón tiếp, yêu cầu họ nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc hướng dẫn người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày nội dung vụ việc.

    2. Nội dung trình bày phải được ghi vào sổ tiếp công dân gồm; số thứ tự, ngày tiếp, họ tên, địa chỉ, nội dung sự việc, quá trình xem xét, giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc tiếp nhận, xử lý vụ việc.

    Trường hợp người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chưa có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân hướng dẫn viết đơn hoặc ghi lại đầy đủ, chính xác nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh bằng văn bản và yêu cầu họ ký xác nhận hoặc điểm chỉ; trường hợp nội dung trình bày chưa rõ ràng, đầy đủ thì người tiếp công dân đề nghị người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày bổ sung hoặc bổ sung tài liệu, chứng cứ.

    3. Trường hợp trong đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì người tiếp công dân hướng dẫn người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh viết thành đơn riêng để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị hoặc phản ánh với cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.

    Việc phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết

    1. Việc phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết trong quá trình tiếp công dân được thực hiện như sau:

    a) Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình và đủ điều kiện thụ lý thì người tiếp công dân tiếp nhận thông tin, tài liệu, chứng cứ kèm theo, đồng thời báo cáo với người có thẩm quyền thụ lý;

    b) Trường hợp khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để khiếu nại, tố cáo. Trường hợp khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới mà chưa được giải quyết thì người tiếp công dân báo cáo người có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết;

    c) Trường hợp khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết đúng chính sách, pháp luật thì người tiếp công dân giải thích, hướng dẫn để người đến khiếu nại, tố cáo chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo và yêu cầu công dân chấm dứt việc khiếu nại, tố cáo;

    d) Trường hợp nhận được đơn khiếu nại, tố cáo không do người khiếu nại, người tố cáo trực tiếp chuyển đến thì thực hiện việc phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    2. Việc phân loại, chuyển nội dung kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết trong quá trình tiếp công dân được thực hiện như sau:

    a) Trường hợp kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người tiếp công dân báo cáo người có thẩm quyền để nghiên cứu, xem xét, giải quyết hoặc phân công bộ phận nghiên cứu, xem xét, giải quyết;

    b) Trường hợp kiến nghị, phản ánh không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì người tiếp công dân chuyển đơn hoặc chuyển bản ghi lại nội dung trình bày của người kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để nghiên cứu, tiếp thu, xem xét, giải quyết.

     Trách nhiệm thông báo cho Ban tiếp công dân, người tiếp công dân về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được chuyển đến

    1. Khi nhận được nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh do bộ phận tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình chuyển đến, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm xem xét, xử lý hoặc phân công bộ phận chuyên môn xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý cho người tiếp công dân để thông báo lại cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định..

    2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận được khiếu nại, tố cáo do cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban tiếp công dân chuyển đến có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật và thông báo kết quả cho cơ quan, người đã chuyển đơn biết trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày vụ việc được giải quyết; trường hợp vụ việc đã được giải quyết trước đó thì thông báo ngay cho cơ quan, người đã chuyển đơn biết.

    Thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

    1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, người tiếp công dân có trách nhiệm trả lời trực tiếp hoặc thông báo bằng văn bản đến người đã đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một trong các nội dung sau đây:

    a) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được thụ lý để giải quyết;

    b) Việc xem xét khiếu nại, tố cáo để thụ lý cần kéo dài thời gian do cần xác minh thêm theo quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo;

    c) Từ chối thụ lý đối với khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình hoặc không đủ điều kiện thụ lý;

    d) Nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.

    2. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban tiếp công dân có trách nhiệm thông báo cho người khiếu nại, tố cáo về kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong trường hợp người đó đã có yêu cầu trước đó.

    Câu 2. Ông Nguyễn Văn Chung trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thủ tục xin cấp lại sổ hộ khẩu được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 24 Luật cư trú 2006:

    1. Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

    2. Sổ hộ khẩu bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại.

    3. Bộ Công an phát hành mẫu sổ hộ khẩu và hướng dẫn việc cấp, cấp lại, đổi, sử dụng, quản lý sổ hộ khẩu thống nhất trong toàn quốc.

    * Căn cứ tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA, hồ sơ cấp lại sổ hộ khẩu gồm có:

    - Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Trường hợp cấp lại sổ hộ khẩu tại thành phố, thị xã thuộc tỉnh và quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

    *  Nơi nộp hồ sơ cấp lại sổ hộ khẩu:

    - Đối với thành phố trực thuộc Trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã.

    - Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện; Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    * Thời hạn giải quyết:

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp lại sổ hộ khẩu cho công dân (khoản 3 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA).

    Khoản 2 Điều 3 Thông tư 02/2014/TT-BTC quy định lệ phí cấp lại sổ hộ khẩu không quá 20.000 đồng/lần cấp.

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của tập thể công nhân làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn thực nghiệp Hàng Phong có trụ sở tại thôn Khỏn Phổ, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn thắc mắc về việc chưa được bồi thường, hỗ trợ tiền lương khi công ty phải ngừng sản xuất để di rời giải phóng mặt bằng phục vụ cho việc thực hiện dự án khu đô thị phía nam Mai Pha.

    Đơn của tập thể công nhân làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn thực nghiệp Hàng Phong đã được chúng tôi chuyển đến UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét giải quyết và trả lời.

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 6 tháng 6 năm 2017

    Câu 1. Ông Lành Tiến Mạnh trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất được xác định trên các căn nào?

    Trả lời:

              Theo Điều 3, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về Căn cứ tính tiền sử dụng đất: thì người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Luật Đất đai và được xác định trên các căn cứ sau:

    1. Diện tích đất được giao, được chuyển mục đích sử dụng, được công nhận quyền sử dụng đất.

    2. Mục đích sử dụng đất.

    3. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất:

    a) Giá đất theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định áp dụng trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân được công nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở trong hạn mức.

    Việc xác định diện tích đất trong hạn mức tại Điểm này phải đảm bảo nguyên tắc mỗi hộ gia đình (bao gồm cả hộ gia đình hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật), cá nhân chỉ được xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở một lần và trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì hộ gia đình, cá nhân đó được cộng dồn diện tích đất của các thửa đất để xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở nhưng tổng diện tích đất lựa chọn không vượt quá hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nơi lựa chọn.

    Hộ gia đình, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai diện tích thửa đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở được áp dụng tính thu tiền sử dụng đất; nếu bị phát hiện kê khai gian lận sẽ bị truy thu nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế.

    b) Giá đất cụ thể được xác định theo các phương pháp so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập, thặng dư quy định tại Nghị định của Chính phủ về giá đất áp dụng trong các trường hợp sau:

    - Xác định tiền sử dụng đất đối với trường hợp diện tích tính thu tiền sử dụng đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh còn lại trong các trường hợp: Tổ chức được giao đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất; hộ gia đình, cá nhân được giao đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; được công nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở vượt hạn mức.

    - Xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.

    c) Giá đất cụ thể được xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng đối với trường hợp diện tích tính thu tiền sử dụng đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong Bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại áp dụng để xác định tiền sử dụng đất trong các trường hợp:

    - Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

    - Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất;

    - Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở vượt hạn mức.

    Hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất để áp dụng cho các trường hợp quy định tại Điểm này."

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Quyên, trú tại xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành, người lao động nữ được hưởng các chính sách, chế độ gì khác với người lao động là nam giới.

    Trả lời: Để đảm bảo quyền làm việc và quyền bình đẳng giới của phụ nữ, tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiệnquyền lao động và thiên chức làm mẹ, chăm sóc và nuôi dạy trẻ. Bộ luật lao động 2012 và Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính phủ quy định cụ thể như sau:

    1. Chính sách hỗ trợ, khuyến khích

    - Nhà nước đảm bảo quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ, khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà và có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.

    - Người sử dụng lao động, có sử dụng nhiều lao động nữ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế. Các khoản chi tăng thêm cho lao động nữ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính. Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ.

    2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ

     

    Khi sử dụng lao động nữ, người sử dụng lao động phải tuân theo một số nghĩa vụ sau đây: 

    - Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.

    - Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ. Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc;

    - Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ.

    3. Chế độ làm việc, chế độ thai sản của lao động nữ

     

    - Người sử dụng lao động, không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa trong trường hợp: Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

    - Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương. NSDLĐ không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp NSDLĐ là cá nhân chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

    - Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút,  tối thiểu là 03 ngày trong một tháng; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo HĐLĐ.

     

    - Lao động nữ trước và sau khi sinh con được nghỉ thai sản, hưởng nguyên lương trong thời gian là 06 tháng. Hết thời gian nghỉ thai sản 06 tháng, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với NSDLĐ. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    4. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai

    Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động, kèm theo ý kiến đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

    Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

     

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Nguyễn Thị Thuận trú tại tổ 4, khối 8, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi về việc Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã chậm giải quyết theo luật định trong vụ kiện đòi tài sản của gia đình bà.

     

    Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để xem xét trả lời và giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 30 tháng 5 năm 2017

     

     

    Câu 1. Bà Vy Thị Lý trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: Mức cho vay, lãi suất, thời hạn và điều  kiện, thủ tục cho vay đối với hộ cận nghèo?

     

    Trả lời:

     

    Theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg, ngày 23/2/2013 cuả Thủ tướng Chính phủ quy định về tín dụng đối với hộ cận nghèo thì mức cho vay đối với hộ cận nghèo do Ngân hàng Chính sách xã hội và hộ cận nghèo thỏa thuận nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa phục vụ sản xuất kinh doanh áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ.

     Lãi suất cho vay bằng 130% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo quy định trong từng thời kỳ. Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay. Thời hạn cho vay do Ngân hàng Chính sách xã hội và hộ cận nghèo vay vốn thỏa thuận phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

     Điều kiện, hồ sơ, thủ tục và quy trình cho vay đối với hộ cận nghèo được thực hiện như đối với cho vay hộ nghèo, cụ thể như sau:

    a) Điều kiện để được vay vốn:

    - Người vay cư trú hợp pháp tại địa phương;

    - Có tên trong danh sách hộ nghèo được UBND cấp xã quyết định theo chuẩn hộ cận nghèo;

    - Được Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của UBND cấp xã.

    b) Hồ sơ vay vốn bao gồm:

    Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (bản chính).

    Số bộ hồ sơ: Một bộ.

    c) Thủ tục cho vay:

    Bước 1:

    - Người vay tự nguyện gia nhập Tổ tiết kiệm và vay vốn tại nơi sinh sống.

    - Người vay viết giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay gửi Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn.

    Bước 2:

    - Tổ tiết kiệm và vay vốn nhận giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của tổ viên, tiến hành tổ chức họp tổ để bình xét cho vay, kiểm tra các yếu tố trên giấy đề nghị vay vốn, đối chiếu với đối tượng xin vay đúng với chính sách vay vốn của Chính phủ. Nếu hồ sơ vay vốn chưa đúng thì hướng dẫn người vay làm lại. Sau đó lập danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn kèm giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của các tổ viên trình UBND cấp xã.

    - UBND cấp xã xác nhận các hộ xin vay đúng là những hộ thuộc diện nghèo theo quy định và hiện đang cư trú hợp pháp tại xã trên danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH

    - Sau khi có xác nhận của UBND cấp xã, Tổ tiết kiệm và vay vốn có trách nhiệm gửi bộ hồ sơ xin vay tới NHCSXH cấp huyện để làm thủ tục phê duyệt cho vay.

    Bước 3:

    - NHCSXH nhận bộ hồ sơ vay vốn tiến hành xem xét, phê duyệt cho vay.

    - Sau khi phê duyệt, NHCSXH gửi thông báo kết quả phê duyệt cho vay tới UBND cấp xã.

    Bước 4:

    - UBND cấp xã thông báo đến tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác cấp xã để thông báo tới Tổ tiết kiệm và vay vốn và Tổ tiết kiệm và vay vốn thông báo đến người vay.

    Câu 2. Ông Nguyễn Trung Thành trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc?

    Trả lời:

    Theo Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao bồm:

    1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

    2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

    a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

    b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

    c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.”

    Như vậy, theo quy định, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện hoặc người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định.

     

    Câu 3. Ông Nông Thanh Tú trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký hộ tịch trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời: Theo Khoản 1, Điều 7, luật Hộ tịch quy định Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau:

    - Đăng ký sự kiện hộ tịch về: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Khai tử cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

    - Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

    - Thực hiện các việc hộ tịch: Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

    - Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

    Theo Khoản 2, Điều 7, luật Hộ tịch quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau:

    - Đăng ký sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài, bao gồm: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử.

    - Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc;

    - Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện: khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

    * Trừ trường hợp: Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 5 năm 2017

     

     

     

    Câu 1. Nông Thế Thành trú tại xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn hỏi: theo quy định của pháp luật thì đối tượng nào được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng?

     

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thì những đối tượng sau sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:

     1. Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

    a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

    b) Mồ côi cả cha và mẹ;

    c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;

    d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

    g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    1) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

    2. Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

    3. Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

    4. Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

    5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

    b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

    c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

    6. Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

    Câu 2. Ông Nguyễn Ngọc Hoàn trú tại xã Vân Thủy, huyện Chi Lăng hỏi: Mức cho vay ưu đãi đối với Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là bao nhiêu? Đối tượng nào được vay chương trình này?

     

    Trả lời:

    Theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg ngày 03/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định sổ 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, mức cho vay đối với chương trình này là 6 triệu đồng/công trình/hộ. Như vậy, đối với 1 hộ sẽ được xem xét cho vay tối đa là 12 triệu đồng cho công trình cung cấp nước sạch và công trình xây dựng nhà vệ sinh.

    Cũng theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, đối tượng được vay vốn Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là: “Hộ gia đình định cư hợp pháp tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh và hộ gia đình sau khi đã trả hết nợ vốn vay, có nhu cầu vay mới để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp, không đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia được UBND cấp xã xác nhận”.

    Câu 3. Bà Lê Kim Ngọc, trú tại đường Văn Miếu, Khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc chia tài sản khi vợ chồng ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi ly hôn, việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Về nguyên tắc, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

    1. Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    2. Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

    3. Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    4. Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    5. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    6. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

    Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

    7. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn thắc mắc về việc UBND thành phố Lạng Sơn đã thực hiện việc phá dỡ nhà ở, công trình xây dựng tại khu dân cư khi chưa có phương án được phê duyệt. Chúng tôi đã chuyển Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 16 tháng 5 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Đức Lộc trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: những trường hợp nào chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan có thẩm quyền?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 57 Luật đất đai năm 2013, các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan có thẩm quyền bao gồm:

    - Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

    - Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

    - Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

    - Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

    - Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

    - Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

    - Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

    Theo đó, người sử dụng đất phải nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính. Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Sau đó, người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

     

    Câu 2. Ông Bế Đức Hoan trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi: Chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở được quy định như thế nào, đối tượng và điều kiện áp dụng đối với chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở?

     

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 1, Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở thì khi áp dụng chính sách hỗ trợ hộ gia đình người có công với cách mạng về nhà ở cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    - Hỗ trợ cho hộ gia đình mà người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ hiện đang ở và có hộ khẩu thường trú tại nhà ở đó trước ngày 15/6/2013.

    - Cần huy động từ nhiều nguồn vốn để thực hiện: Nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia đình tham gia đóng góp và tự tổ chức xây dựng nhà ở.

    - Sau khi được hỗ trợ, các hộ xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đã có, đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 30 m2 (đối với những hộ độc thân thì có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không thấp hơn 24 m2); đảm bảo “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng).

    Về đối tượng áp dụng

    Chính sách hỗ trợ này được áp dụng đối với những hộ gia đình có một hoặc nhiều người có công với cách mạng. Trong đó, người có công với cách mạng được liệt kê tại Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của  Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 về ưu đãi người có công với cách mạng của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bao gồm:

    - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.

    - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

    - Liệt sĩ.

    - Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

    - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

    - Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến.

    - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

    - Bệnh binh.

    - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

    - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.

    - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.

    - Người có công giúp đỡ cách mạng.

    Về điều kiện áp dụng

    Căn cứ Điều 2 của Quyết định này hộ gia đình được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau:

    - Là hộ gia đình có người có công với cách mạng đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận nêu ở trên.

    - Nhà đang ở là nhà tạm hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng (kể cả các hộ đã được hỗ trợ theo các chính sách khác trước đây) với mức độ như sau:

    + Phải phá dỡ để xây mới nhà ở.

    + Phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở.

    Về mức hỗ trợ

    Theo Điều 3 Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) được phân bổ như sau:

    - Hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải phá dỡ để xây mới nhà ở .

    - Hỗ trợ 20 triệu đồng/hộ đối với trường hợp phải sửa chữa khung, tường và thay mới mái nhà ở.

    Các hộ gia đình nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên có thể chủ động làm đơn và gửi hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí về nhà ở tới Ủy ban nhân dân cấp xã. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách hộ người có công với cách mạng được hỗ trợ về nhà ở trên địa bàn và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hỗ trợ cho các hộ gia đình thuộc diện được hỗ trợ.

     

    Câu 3. Bà Nguyễn Mai Hoa trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện để người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp?

    Trả lời: Điều 49 Luật Việc làm 2013 quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

    1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

    - Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

    - Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

    2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn); đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng;

    3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định;

    4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

    - Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

    - Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

    - Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

    - Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

    - Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

    - Người lao động chết.

    Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp

    Theo Điều 16 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm:

    1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

    2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:

    - Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

    - Quyết định thôi việc;

    - Quyết định sa thải;

    - Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

    - Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

    3. Sổ bảo hiểm xã hội.

    Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động.

     

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn thắc mắc về việc UBND thành phố Lạng Sơn đã thực hiện việc phá dỡ nhà ở, công trình xây dựng tại khu dân cư khi chưa có phương án được phê duyệt.Chúng tôi đã chuyển Đơn của những hộ dân trú tại đường Hùng Vương đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 9 tháng 5 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lý Minh Sơn trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc được quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 28 và khoản 1 Điều 47 Luật Hộ tịch thì trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc được áp dụng thống nhất cho cả cấp huyện và cấp xã, cụ thể như sau:

    1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp yêu cầu xác định lại dân tộc thì phải có giấy tờ làm căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật.

    2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho người yêu cầu.

    Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

    Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

    3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

    Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

    Câu 2: Ông Vương Tiến Bình trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Nhà nước kéo đường dây điện cao thế đi qua trên nhà và đất của gia đình tôi và không thuộc diện phải giải tỏa, thu hồi đất thì gia đình tôi có được bồi thường, hỗ trợ không?

     

    Trả lời:

    Theo Điều 19, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP về Bồi thường, hỗ trợ đối với đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không:

    1. Đất ở, các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không điện áp đến 220Kv thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì chủ sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một lần như sau:

    a) Đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là loại đất ở được quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai;

    b) Diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng là diện tích đất ở thực tế trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi đất ở, tính trên diện tích đất nằm trong hành lang;

    c) Trên cùng một thửa đất, bao gồm đất ở và các loại đất khác của một chủ sử dụng đất, khi bị hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không chiếm dụng khoảng không lớn hơn hạn mức đất ở thì phần diện tích các loại đất khác trên cùng thửa đất trong hành lang cũng được bồi thường, hỗ trợ. Mức bồi thường, hỗ trợ không lớn hơn 80% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó tính trên diện tích các loại đất khác nằm trong hành lang;

    d) Trường hợp đất ở không phải là đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, hỗ trợ dựa trên điều kiện thực tế của từng địa phương.

    2. Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không thì chủ sử dụng đất được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc hỗ trợ được thực hiện một lần, không lớn hơn 30% mức bồi thường thu hồi đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, tính trên diện tích đất trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không.

    3. Mức bồi thường, hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể. Kinh phí chi trả từ nguồn vốn đầu tư của chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp.

    Như vậy theo quy định trên nếu nhà ông có đường dây điện cao thế đi qua mà không phải thu hồi đất và nhà thì ông sẽ được bồi thường và hỗ trợ theo quy định trên.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Ngọc Bồng trú tại Pò Bó, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Gia đình có đất đang sử dụng hợp pháp, đã kê khai để chia cho các con là công chức nhà nước, nhưng Cán bộ địa chính xã trả lời các con tôi không thuộc đối tượng được nhận quyền sử dụng đất là đúng hay sai? căn cứ vào văn bản pháp luật nào?

     

     

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 191, Luật Đất đai 2013 quy định những trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất gồm:

     

    1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

    2. Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    3. Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.

    4. Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.

    Do trong thư hỏi ông không nói rõ đất mà ông chia cho các con là loại đất gì, đề nghị ông tham khảo quy định trên của Điều luật. Nếu các con ông là công chức thì  sẽ không được nhận quyền sử dụng đất trồng lúa, còn đối với đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích khác sẽ không bị giới hạn.

     

     

    Nhắn tin: trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Hoàng Kim Bảo trú tại thôn Tòng Chu, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia hỏi về việc tranh chấp đất đai của gia đình ông.

    Về vấn đề ông hỏi đề nghị ông làm đơn gửi đến UBND xã nơi có đất tranh chấp để được hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013. Nếu việc tranh chấp đất đai của gia đình ông hòa giải không thành thì ông có thể gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

    2. Ông Lộc Giáo Phương trú tại thôn Chè Lân, xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi về việc truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho mẹ ông.

     

    Hiện nay hồ sơ truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng của mẹ ông đã được Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước xem xét quyết định truy tặng danh hiệu vinh dự Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho mẹ ông.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 2 tháng 5 năm 2017

     

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Văn Mạnh trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Những trường hợp nào khi tham gia giao thông mà vi phạm nhiều lần sẽ bị tịch thu phương tiện?

    Trả lời: Theo Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thì những trường hợp sau đây ngoài việc bị phạt tiền từ 5-7 triệu đồng nếu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần sẽ bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 3-5 tháng thì sẽ bị tịch thu phương tiện:

    1. Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe.

    2. Dùng chân điều khiển xe.

    3. Ngồi về một bên điều khiển xe.

    4. Nằm trên yên xe điều khiển xe.

    5. Thay người điều khiển khi xe đang chạy.

    6. Quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe.

    7. Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị.

    8. Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh.

    9. Điều khiển xe thành nhóm từ hai xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

    Ngoài ra, nếu người thực hiện những hành vi trên gây ra tai nạn giao thông, tùy tính chất, mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Chị Nông Thị Mai trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về việc mang thai hộ? Các bên có quyền và nghĩa vụ như thế nào đối với việc mang thai hộ?

    Trả lời: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con  được quy định tại khoản 22 Luật hôn nhân gia đình 2014.

    Theo đó, điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 của Luật như sau: Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

    Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

    - Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

    - Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

    - Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

    - Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

    - Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại điều 97 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

    1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

    2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

    3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

    4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

              Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

    5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

     

    Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: 

    - Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

    - Vợ chồng đang không có con chung;

    - Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

    Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại điều 98 Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

    1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

    2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

    3. Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.

    4. Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.

    5. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

     

    Câu 3. Ông Bế Ngọc Hùng trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi:Những trường hợp nào bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai?

    Trả lời: Theo Điều 64, Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

    a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

    b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

    c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

    d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

    đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

    e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

    g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

    h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

    i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

    Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

     

    Nhắn tin: Trong chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được  thư của ông Vy Văn Bộ trú tại thôn Khuổi Phầy, xã Hải Yến, huyện Cao Lộc về việc ông không đồng ý với kết quả giải quyết vụ tai nạn giao thông liên quan đến con trai ông.

    Đề nghị ông liên hệ với Công an huyện Hữu Lũng để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 25 tháng 4 năm 2017

    Câu 1. Ông Nguyễn Đức Dũng trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: những đối tượng nào phải công khai, minh bạch tài sản thu nhập?

    Trả lời: Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định cụ thể về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập bao gồm:

     

    1.      Đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách, người

    ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, người được dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

     

         2. Cán bộ, công chức từ Phó trưởng phòng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên và người được hưởng phụ cấp chức vụ tương đương (có hệ số phụ cấp chức vụ từ 0,2 trở lên) trong cơ quan, đơn vị của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức, đơn vị khác được giao biên chế và có sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước.

       

    3. Sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó tiểu đoàn trưởng, người hưởng phụ cấp chức vụ tương đương Phó tiểu đoàn trưởng trở lên trong Quân đội nhân dân; sĩ quan chỉ huy từ cấp Phó tiểu đoàn trưởng, Phó trưởng công an phường, thị trấn, Phó đội trưởng trở lên trong Công an nhân dân.

     

       4. Người giữ chức vụ tương đương Phó trưởng phòng trở lên tại các đơn vị sự nghiệp công lập như: bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ quan báo, tạp chí, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

     

       5. Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học, trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, người giữ chức vụ tương đương Phó trưởng phòng trở lên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề của Nhà nước.

     

       6. Người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước: Thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên, thành viên ban kiểm soát, kiểm soát viên, người giữ chức danh quản lý tương đương từ Phó trưởng phòng trở lên; Người được cử làm đại diện phần vốn của Nhà nước, phần vốn của doanh nghiệp nhà nước và người đó giữ chức danh quản lý từ Phó trưởng phòng trở lên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, của doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp liên doanh, liên kết).

     

        7. Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó chủ tịch, ủy viên Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; chỉ huy trưởng quân sự, công chức địa chính, xây dựng, tài chính, tư pháp - hộ tịch xã, phường, thị trấn; Trưởng công an xã.

     

        8. Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm tra viên, thẩm phán, thư ký Tòa án, kiểm toán viên nhà nước, thanh tra viên, chấp hành viên, công chứng viên nhà nước.

     

        9. Ngoài ra, đối tượng kê khai tài sản, thu nhập là những công chức, viên chức không giữ chức vụ trong các cơ quan của Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập nhưng được bố trí thường xuyên làm các công việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước; Trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong các lĩnh vực như: Tổ chức cán bộ, tài chính, ngân hàng, công thương, xây dựng, giao thông, y tế, văn hóa - thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông, tài nguyên và môi trường, nông nghiệp và phát triển nông thôn, đầu tư và ngoại giao, tư pháp, lao động - thương binh và xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, quốc phòng, công an, thanh tra và Phòng, chống tham nhũng.

    Câu 2. Ông Nông Mạnh Trường trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi tịch thu tạm giữ phương tiện của người vi phạm hành chính thì cơ quan chức năng có thẩm quyền tạm giữ có trách nhiệm như thế nào đối với phương tiện bị tịch thu?

    Trả lời: Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận vào biên bản. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ, người có thẩm quyền xử phạt thấy tình trạng tang vật, phương tiện có thay đổi so với thời điểm ra quyết định tạm giữ thì phải lập biên bản về những thay đổi này; biên bản phải có chữ ký của người lập biên bản, người có trách nhiệm tạm giữ và người chứng kiến.

     

    Thông tư số: 47/2014/TT-BCA của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính  bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Cụ thể như sau:

     

        - Về điều kiện nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu:

     

        Đối với nơi tạm giữ là nhà, kho, bãi thì phải bảo đảm an toàn, điều kiện vệ sinh môi trường và không gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người.

     

      Trường hợp nơi tạm giữ tang vật, phương tiện ở ngoài trời thì phải bố trí mái che hoặc phương tiện chống mưa, nắng khác; Phải bảo đảm khô ráo, thoáng khí; có hệ thống thiết bị chiếu sáng; Xung quanh phải có hàng rào bảo vệ an toàn, có hệ thống thoát nước; Phải có nội quy về phòng cháy và chữa cháy; trang bị phương tiện phòng, cháy, chữa cháy phù hợp; Có các thiết bị, phương tiện kỹ thuật phù hợp cho việc quản lý, bảo quản từng loại tang vật, phương tiện bị tạm giữ. Thủ trưởng nơi tạm giữ tang vật, phương tiện phải xây dựng và tổ chức thực tập phương án phòng, chống cháy, nổ.

     

        Đối với nơi tạm giữ là bến nước, âu thuyền thì phải đảm bảo an toàn, điều kiện vệ sinh môi trường và không gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người. Trường hợp nơi tạm giữ tang vật, phương tiện ở ngoài trời thì phải bố trí mái che hoặc phương tiện chống mưa, nắng khác;  Phải bảo đảm khô ráo, thoáng khí; có hệ thống thiết bị chiếu sáng.

     

     Riêng nơi tạm giữ là bến nước thì còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn của bến thủy nội địa.

     

       - Bảo đảm an toàn khi quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu:

     

        Đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu là máy móc, phương tiện có sử dụng xăng, dầu hoặc các nhiên liệu dễ gây cháy, nổ, trước khi đưa vào nơi tạm giữ phải hút hết nhiên liệu ra khỏi bình chứa.

     

        Đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu là hàng hóa, vật phẩm dễ gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh, dễ bị hư hỏng phải có các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phù hợp để bảo quản trong thời gian tạm giữ.

     

        Nghiêm cấm đưa vào nơi tạm giữ những chất dễ gây cháy, nổ, chất độc, chất phóng xạ nếu nơi tạm giữ không có những điều kiện, phương tiện kỹ thuật bảo quản các chất đó.

     

        - Bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu:

     

      Nơi tạm giữ tang vật, phương tiện có thể là nơi tạm giữ riêng của một cơ quan hoặc nơi tạm giữ chung của nhiều cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm.

     

        Đối với cơ quan thường xuyên phải tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng lớn, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm cấp đất và kinh phí để xây dựng nơi tạm giữ.

     

       Trường hợp cơ quan tạm giữ tang vật, phương tiện chưa đủ điều kiện để xây dựng nơi tạm giữ hoặc quy mô xây dựng nơi tạm giữ không đủ để quản lý, bảo quản hết tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu thì cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể thuê nơi tạm giữ riêng của cơ quan mình.

       

     Việc thuê nơi tạm giữ phải ký kết hợp đồng. Nội dung hợp đồng phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định của Bộ luật dân sự và các yêu cầu của hoạt động quản lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính, trong đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Đối tượng của hợp đồng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng; các nội dung khác.

     

         Trường hợp tạm giữ tang vật, phương tiện với số lượng ít hoặc tang vật, phương tiện là những vật nhỏ, gọn mà xét thấy không cần thiết phải chuyển đến nơi tạm giữ là nhà, kho, bến, bãi thì người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện có thể quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện đó tại trụ sở cơ quan mình. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện phải giao tang vật, phương tiện bị tạm giữ cho cán bộ có đủ khả năng và điều kiện quản lý.

     

        Trong trường hợp không thể bố trí nơi tạm giữ tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu thì nơi tạm giữ tang vật, phương tiện là nơi do người có thẩm quyền tạm giữ, tịch thu quyết định.