Google ứng dụng camera điện thoại vào chỉ đường và tìm đồ

Thay vì bối rối không biết tiến lên hay quay ngược lại khi đi đường, người dùng có thể mở camera song song với Google Maps để định hướng.

Không ít người dùng từng cảm thấy khó xác định khi tìm đường bằng bản đồ số, bởi khi Google Maps nói đi thẳng thì họ không thể xác định ngay là đi thẳng theo hướng nào. Tại sự kiện I/O đang diễn ra ở Mỹ, Google đã trình diễn một giải pháp trực quan là kết hợp giữa camera và bản đồ.

Cụ thể, khi mở camera, hình ảnh cùng mũi tên trên bản đồ giúp bạn nhanh chóng biết hướng đi. Thậm chí, Google còn bổ sung một con cáo đồ hoạ dẫn đường và bạn chỉ việc đi theo.
 

Bên cạnh đó, hãng công nghệ Mỹ cũng phát triển một số tính năng mới cho Google Lens - công nghệ camera thông minh cho phép người dùng chỉ cần hướng ống kính máy ảnh vào một vật thể như cửa hàng, loài hoa... và tra cứu thông tin về nó.
 

Người dùng có thể sao chép một đoạn văn bản ngoài đời thực vào điện thoại mà không cần mất công gõ.

Người dùng có thể sao chép một đoạn văn bản ngoài đời thực vào điện thoại mà không cần mất công gõ.


Không chỉ nhận diện hình ảnh, Google Lens phiên bản mới còn có thể nhận diện văn bản và cung cấp định nghĩa cho các từ, cụm từ mà người dùng gặp trong đời thực. 
Ngoài ra, họ cũng có thể hướng camera vào một đoạn văn bản, đánh dấu phần nội dung muốn sao chép và Lens sẽ chuyển đoạn văn bản đó vào điện thoại, như chuyển mật khẩu Wi-Fi ghi trên giấy vào phần đăng nhập Wi-Fi trên smartphone.

Một tính năng khác là sẽ được các "tín đồ shopping" đánh giá cao là Style Match. Ví dụ, khi thấy một người đeo túi xách, mặc áo hay đi đôi giày đẹp, bạn có thể bật camera trỏ vào món đồ và Google Lens sẽ hiển thị các kết quả tìm kiếm về những món đồ có thiết kế tương tự theo thời gian thực.

Google Lens hiển thị kết quả tìm kiếm về các mẫu áo tương tự áo ma-nơ-canh đang mặc.

Google Lens hiển thị kết quả tìm kiếm về các mẫu áo tương tự áo ma-nơ-canh đang mặc.


Các tính năng mới của Google Lens sẽ có mặt trong vài tuần tới và được tích hợp vào ứng dụng camera trên hàng loạt điện thoại của Nokia, LG, Sony, Motorola, Xiaomi, Asus... bên cạnh Google Pixel.

Theo vnexpress.net
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 22/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/CT KINH 22-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 22/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/TAY 22-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 22/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/DAO 22-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 21/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/KINH TOI 21-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 21/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/CT TAY 21-10-2019.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 21/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/CT DAO 21-10-2019.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 20/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/CA NHAC KINH 20-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 20/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/CA NHAC TAY 20-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 20/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/CA NHAC DAO 20-10.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 19/10/2019
sites/default/files/audio/2019/10/KINH 19-10.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 23/10/2019
 6:02:30 Bản tin sáng Ngày 23/10/2019

6:08:24 Quốc tế sáng Ngày 23/10/2019

6:13:41 Văn bản mới, chính sách mới Số 141

6:17:35 Mỗi ngày một cuốn sách Số 140

6:21:31 Sitcom 5s Tập 53 - Phần 1

6:36:53 Chuyên mục 1: Đảng trong cuộc sống hôm nay

6:44:21 Chuyên mục 2: Trả lời bạn xem truyền hình

6:58:32 Ký sự Mê Kông ký sự - Tập 15/50

7:20:44 Phim hoạt hình Tập 238 - Thám tử 004 trái bóng lạc đường

7:30:44 Chuyên mục 4: Người cao tuổi

7:37:38 Vui khỏe mỗi ngày Tập 11

7:47:30 Phim lịch sử Con đường bí ẩn - Tập 4

8:09:28 Đất và người Xứ Lạng Số 24

8:26:03 Chuyện thật như đùa Tập 89

8:35:55 Ca nhạc Bắc Sơn mời gọi

9:00:21 Bản tin sáng Ngày 23/10/2019

9:06:15 Quốc tế sáng Ngày 23/10/2019

9:10:30 Bản tin tiếng trung Ngày 23/10/2019

9:25:30 Truyền hình tiếng Tày Ngày 22/10/2019

9:53:26 Chuyên mục 1: Vấn đề hôm nay

9:59:19 Thời sự tổng hợp Ngày 22/10/2019

10:19:49 Thông tin thị trường vùng cao Số 43

10:30:40 An toàn sống Tập 88

10:40:06 Chuyên mục 2: Điện lực Lạng Sơn vì niềm tin của bạn

10:48:16 Chuyên mục Chống buôn lậu và gian lận thương mại - Số 36

10:59:54 Phim truyện Đứa con khác họ - Tập 19/42 phim Đài Loan

11:44:53 Bản tin trưa Ngày 23/10/2019

12:00:00 Cuộc sống quanh ta Một ngày ở bản người Dao Công Sơn

12:15:00 Học hát dân ca Số 10

12:30:23 Chuyển tiếp sóng VTV1

15:00:23 Bản tin chiều Ngày 23/10/2019

15:20:12 Phim truyện Sương khói đồng hoang - Tập 13/39 phim VN

16:09:55 Văn bản mới, chính sách mới Số 141

16:13:49 Sitcom 5s Tập 53 - Phần 1

16:29:11 Chuyên mục 3: Vì màu xanh cuộc sống

16:36:07 Chuyên mục 4: Truyền hình nhân đạo

16:43:22 Truyền hình tiếng Dao Ngày 23/10/2019

17:12:22 Trang truyền hình cơ sở Số 85 - Huyện Hữu Lũng

17:28:39 Bản tin tiếng trung Ngày 23/10/2019

17:43:39 Phim hoạt hình Tập 239- Chuyện ông Gióng -Tập 1

17:56:25 Mỗi ngày một cuốn sách Số 140

18:05:19 Phim truyện Sương khói đồng hoang - Tập 14/39 phim VN

18:50:13 Chuyên mục : An toàn giao thông

18:59:34 Chuyển tiếp VTV1 Chương trình thời sự VTV1

19:49:42 Thời sự tổng hợp Ngày 23/10/2019

20:16:12 Bản tin quốc tế Ngày 23/10/2019

20:21:12 Bản tin Thể thao Ngày 23/10/2019

20:26:12 Vì trẻ em Xứ Lạng hôm nay Số 20

20:41:32 Chuyên mục 1: Vấn đề hôm nay

20:46:25 Chuyện mục 2: Quốc phòng toàn dân

21:02:22 Phim truyện Đứa con khác họ - Tập 20/42 phim Đài Loan

21:46:55 Chuyên mục 3: Tuổi trẻ Xứ Lạng

21:54:00 Chuyên mục 4: Thi đua yêu nước

22:00:02 Phim truyện Bí ẩn trái tim - Tập 36/36 phim TQ

22:45:07 Sitcom 5s Tập 54 - Phần 1

23:00:15 Văn bản mới, chính sách mới Số 141

23:04:09 Mỗi ngày một cuốn sách Số 140

23:08:05 Ký sự Mê Kông ký sự - Tập 15/50

23:30:17 Ca nhạc Lời ru cỏ non

  • TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 22 tháng 10 năm 2019

    Câu 1. Ông Sầm Văn Dương, trú tại xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng hỏi: người được phân công tiếp công dân có quyền từ chối tiếp công dân trong những trường hợp nào ?

    Trả lời

    Việc tiếp công dân tại các trụ sở tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương, các bộ, ngành phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm khách quan, đúng pháp luật… Trong Luật Tiếp công dân năm 2013 cũng đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng như xác định các trường hợp cụ thể người tiếp công dân được quyền từ chối tiếp công dân.

     Điều 7, Luật Tiếp công dân quy định về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, như sau:

     1. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các quyền sau đây:

     a) Trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

     b) Được hướng dẫn, giải thích về nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình;

      c) Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiếp công dân;

     d) Nhận thông báo về việc tiếp nhận, kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

     đ) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không sử dụng thông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng người phiên dịch;

     e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

     2. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các nghĩa vụ sau đây:

     a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có);

     b) Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân;

      c) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại;

      d) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân;

      đ) Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

     e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình.

      Tuy nhiên, có những trường hợp cho phép người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân theo Điều 9, Luật Tiếp công dân quy định người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:

     - Người trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

     - Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân;

     - Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài;

    - Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Trần Anh Tấn trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 73 Luật Trẻ em năm 2016 quy định về phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật như sau:

    1. Cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú thực hiện các biện pháp sau đây nhằm chuẩn bị và thúc đẩy việc tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật:

    a) Duy trì mối liên hệ giữa trẻ em với gia đình;

    b) Tổ chức học văn hóa, học nghề, kỹ năng sống cho trẻ em;

    c) Xem xét, đánh giá quá trình chấp hành việc học tập, rèn luyện của trẻ em tại cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng để đề xuất với cơ quan có thẩm quyền giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc chấm dứt biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của pháp luật.

    2. Chậm nhất là 02 tháng trước khi trẻ em chấp hành xong hình phạt tù, 01 tháng trước khi trẻ em chấp hành xong biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ hoặc trường giáo dưỡng nơi trẻ em đang chấp hành hình phạt tù hoặc biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có trách nhiệm thông báo và cung cấp thông tin có liên quan cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em về cư trú để chuẩn bị việc tiếp nhận và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch can thiệp, hỗ trợ và áp dụng biện pháp bảo vệ đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

    4. Cơ quan lao động - thương binh và xã hội, tư pháp, công an, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để hướng dẫn, giúp đỡ Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp và áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp khác đối với trẻ em.

    Nhắn tin: Trong tuần qua, đài chúng tôi có nhận được đơn phản ánh của một số hộ nhân dân khối 9, khối 10, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn về việc Công ty Viettel vận hành máy phát điện gây ô nhiễm môi trường( tiếng ồn) ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của nhân dân.

    Đài PTTH đã chuyển đơn đến Chủ tịch UBND thành phố giải quyết theo thẩm quyền.


     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 15 tháng 10 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Linh Văn Tuân trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về tốc độ đối với xe cơ giới và xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Bộ Giao thông vận tải vừa ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2019. Theo Thông tư, khi tham gia giao thông trên đường bộ, người điều khiển phương tiện phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu giữa hai xe (thuộc chủng loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng) được ghi trên biển báo hiệu đường bộ. 

     

    Cụ thể, tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trong khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên là 60 km/h.

     

    Tại đường hai chiều; đường một chiều có 1 làn xe cơ giới, vận tốc tối đa 50 km/h. Riêng xe máy chuyên dùng, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự, tốc độ tối đa cho phép là 40 km/h.

     

    Cùng đó, tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông ngoài khu vực đông dân cư (trừ đường cao tốc) đối với xe ôtô con, xe ôtô chở người đến 30 chỗ (trừ xe buýt); ôtô tải có trọng tải nhỏ hơn hoặc bằng 3,5 tấn là 90 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên. Tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới, tốc độ tối đa là 80km/h.

     

    Xe ôtô chở người trên 30 chỗ (trừ xe buýt); ôtô tải có trọng tải trên 3,5 tấn (trừ ôtô xitéc) được phép lưu thông với vận tốc tối đa 80 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên. Tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới tốc độ tối đa là 70km/h.

     

    Xe ôtô buýt; ôtô đầu kéo kéo sơmi rơmoóc; xe môtô; ôtô chuyên dùng (trừ ôtô trộn vữa, ôtô trộn bêtông) lưu thông với vận tốc tối đa 70 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên; Tối đa 60km/h tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới.

     

    Xe ôtô kéo rơ moóc; ôtô kéo xe khác; ôtô trộn vữa, ôtô trộn bêtông, ôtô xi téc lưu thông với vận tốc tối đa 60 km/h tại đường đôi; đường một chiều có từ hai làn xe cơ giới trở lên; Tối đa 50km/h tại đường hai chiều; đường một chiều có một làn xe cơ giới.

     

    Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.

     

    Khi điều khiển xe chạy với tốc độ dưới 60 km/h, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước xe của mình; khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn giao thông.

     

    Đối với các cơ quan thẩm quyền quản lí cắm biển báo tốc độ, Thông tư quy định rõ:

     

    - Bộ Giao thông vận tải được quyền quyết định đặt biển báo đối với đường bộ cao tốc.

     

    - Tổng cục Đường bộ Việt Nam đối với hệ thống đường quốc lộ và đường khác thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giao thông vận tải (trừ đường bộ cao tốc).

     

    - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng thuộc phạm vi quản lý.

     

    Câu 2. Ông Ngụy Hải Châu trú tại xã Sơn Hà, huyên Hữu Lũng hỏi: Về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước và việc xác định đối tượng là trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Nghị định 24/2019/NĐ-CP của Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/03/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi quy định cụ thể như sau:

     

    - Về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước: Quy định rõ thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước đối với trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

     

    - Về hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo ở cơ sở nuôi dưỡng: Quy định cụ thể việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

     

    - Về xác định đối tượng là trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi bao gồm: trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em mắc các bệnh về máu; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác cần điều trị khẩn cấp hoặc cả đời.

     

    - Về tìm người nhận trẻ em làm con nuôi : Không còn phân loại trẻ em thuộc danh sách 1 (trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng cần tìm gia đình thay thế mà không phải là trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo) và danh sách 2 (trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo và trẻ em từ 5 tuổi trở lên hoặc có hai trẻ em trở lên là anh chị em ruột cần tìm gia đình thay thế)

     

    - Về xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi nước ngoài

     

    Trước khi xác nhận trẻ em có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài theo quy định thì Sở Tư pháp kiểm tra, thẩm định hồ sơ trẻ em và đối chiếu với các quy định về đối tượng, độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi, trường hợp được nhận đích danh, trường hợp phải thông qua thủ tục giới thiệu.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được cho làm con nuôi ở nước ngoài, thì phải có văn bản xác minh và kết luận rõ ràng của Công an cấp tỉnh về nguồn gốc trẻ em bị bỏ rơi, không xác định được cha mẹ đẻ.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà Công an cấp tỉnh xác minh được thông tin về cha, mẹ đẻ và Sở Tư pháp liên hệ được với cha, mẹ đẻ thì Sở Tư pháp tiến hành lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ trước khi xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi.

     

    Trường hợp không thể liên hệ được với cha, mẹ đẻ, Sở Tư pháp niêm yết tại trụ sở Sở Tư pháp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xác minh,    đồng thời có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của cha, mẹ đẻ niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã về việc cho trẻ em làm con nuôi. Thời hạn niêm yết là 60 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 08 tháng 10 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Hoàn trú tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình hỏi: trẻ em dưới 16 tuổi có cả bố và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù có được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hộithì:

    Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng:

     

    a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

     

    b) Mồ côi cả cha và mẹ;

     

    c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;

     

    d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

     

    đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

     

    g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

     

    h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

    k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     

    Như vậy: Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp các trường hợp như trên sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Trường hợp này trẻ có cả bố, mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù thì thuộc trường hợp trẻ em được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

     

    Câu 2. Ông Triệu Vắn Ôn trú tại xã Bính Xá, huyện Đình Lập hỏi: điều kiện để được công nhận là hộ nghèo theo quy định của pháp luật:

     

    Trả lời:

     

    Hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.

     

    Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg áp dụng từ ngày 1/1/2016: Hộ nghèo

     

    * Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    * Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

     

    + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    Việc xét hộ nghèo được thực hiện theo thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, đối với trường hợp hộ gia đình có phát sinh khó khăn đột xuất thì làm giấy đề nghị xét duyệt bổ sung hộ nghèo, hộ cận nghèo (theo mẫu số 1a phụ lục kèm theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH), có xác nhận của trưởng thôn khối phố nơi cư trú và nộp trực tiếp đến UBND cấp xã để được xem xét, giải quyết.

     

    Câu 3. Ông Mai Văn Vinh trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về phụ cấp, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã?

     

    Trả lời:

     

    Nghị định 34/2019/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố quy định cụ thể về phụ cấp, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã như sau:

     

    Về phụ cấp và khoán kinh phí đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

     

    Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội và chế độ bảo hiểm y tế. Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả hỗ trợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn như sau:

     

    - Loại 1 được khoán quỹ phụ cấp bằng 16,0 lần mức lương cơ sở;

     

    - Loại 2 được khoán quỹ phụ cấp bằng 13,7 lần mức lương cơ sở;

     

    - Loại 3 được khoán quỹ phụ cấp bằng 11,4 lần mức lương cơ sở.

     

    Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố

     

    Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố có không quá 03 người được hưởng phụ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước và chỉ áp dụng đối với các chức danh: Bí thư Chi bộ; Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố; Trưởng Ban công tác mặt trận. Người tham gia công việc ở thôn, tổ dân phố ngoài 03 chức danh nêu trên không hưởng phụ cấp hàng tháng mà được hưởng bồi dưỡng khi trực tiếp tham gia vào công việc của thôn, tổ dân phố từ đoàn phí, hội phí khoán cho các đoàn thể và từ các nguồn quỹ khác (nếu có).

     

    Chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.

     

    Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp bằng 3,0 lần mức lương cơ sở để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở mỗi thôn, tổ dân phố. Riêng đối với thôn có từ 350 hộ gia đình trở lên, thôn thuộc xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn thuộc xã biên giới hoặc hải đảo được khoán quỹ phụ cấp bằng 5,0 lần mức lương cơ sở.

     

    Căn cứ vào quỹ phụ cấp quy định tại khoản này và căn cứ vào đặc thù của từng cấp xã, yêu cầu quản lý, tỷ lệ chi thường xuyên của cấp xã và nguồn thu ngân sách của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định mức phụ cấp của từng chức danh, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh đối với người hoạt động không chuyên trách và mức bồi dưỡng người trực tiếp tham gia công việc của thôn, tổ dân phố.”

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 01 tháng 10 năm 2019

     

     Câu 1. Ông Triệu Văn Phúc, trú tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia hỏi: Điều kiện để lao động nam hưởng trợ cấp một lần khi vợ sinh con được pháp luật quy định như thế nào?

     Trả lời:

     Theo quy định tại Điểm e, Khoản 1, Điều 31 Luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nam là: Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con.

     Điều 38 Luật BHXH và Khoản c, Điểm 2 Công văn số 3432/LĐTBXH-BHXH ngày 8/9/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về việc thực hiện chế độ BHXH theo Luật BHXH năm 2014 quy định: Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH hoặc mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng 2 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.

    Khoản 2, Điều 9 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con đối với trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH thì cha phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

    Căn cứ các quy định nêu trên, nếu tại thời điểm vợ của ông sinh con ông đang đóng BHXH thì ông được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Khoản 2, Điều 34 Luật BHXH như sau:

    “a, 5 ngày làm việc;

    b, 7 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

    c, Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc;

    d, Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

    Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định trên được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con”.

    Trường hợp vợ của ông tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con thì ông được hưởng trợ cấp một lần khi vợ sinh con bằng 2 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh cho mỗi con.

    Câu 2. Ông Lương Hồng Giang, trú tại xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng hỏi: các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Điều 7 Luật công chứng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng như sau:

    1. Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;

    2. Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;

    3. Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;

    4. Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;

    5. Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức có liên quan;

    6. Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;

    7. Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức mình trong việc hành nghề công chứng;

    8. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức mình;

    9. Tổ chức hành nghề công chứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký;

    10. Công chứng viên đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;

    11. Công chứng viên tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch mà mình nhận công chứng;

    12. Vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

    Câu 3. Ông Nguyễn Xuân Cường trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi nào bị nghiêm cấm khi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội?

    Trả lời: Tại Điều 8 của Luật An ninh mạng quy định các hành vi bị nghiêm cấm cụ thể như sau:

    1. Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:

    a) Hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

    b) Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

    d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

    đ) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;

    e) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

    2. Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

    3. Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.

    4. Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

    5. Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

    6. Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 24 tháng 9 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Trần Văn Đức trú tại phường Vĩnh Trại thành phố Lạng Sơn hỏi: Thủ tục cấp lại Giấy đăng ký kết hôn dược pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ vào Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch:

     

    Thứ nhất, đối với trường hợp UBND nơi vợ chồng đăng ký kết hôn trước đây còn lưu giữ Sổ hộ tịch:

     

    Điều 63 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: Cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch (cơ quan đăng ký hộ tịch, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan khác được giao thẩm quyền theo quy định của pháp luật) cấp bản sao trích lục hộ tịch về sự kiện hộ tịch của mình đã được đăng ký.

     

    Thủ tục cấp bản sao giấy chứng nhận kết hôn được quy định tại Điều 64 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:

     

    - Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

     

    Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục hộ tịch của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

     

    - Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch cấp bản sao trích lục hộ tịch cho người yêu cầu.

     

    Thứ hai, đối với trường hợp UBND mà vợ chồng ông đăng ký kết hôn trước đây không lưu giữ Sổ hộ tịch.

     

    Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

     

    - Về thẩm quyền đăng ký lại kết hôn: khoản 1 Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn.

     

    - Về thủ tục đăng ký lại kết hôn: Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

     

    1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

     

    a) Tờ khai theo mẫu quy định;

     

    b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

     

    2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định.

     

    Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại UBND cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND có văn bản đề nghị UBND nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

     

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, UBND nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

     

    3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định.

     

    4. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 01 tháng 01 của năm đăng ký kết hôn trước đây.

     

    Câu 2. Ông Mai Hoàng Minh trú tại xã Tân Văn, huyện Bình Gia hỏi: Tiêu chuẩn của danh hiệu Gia đình văn hóa theo quy định của pháp luật hiện hành?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 122/2018/NĐ-CP ngày 17/9/2018 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa"; "Thôn văn hóa", "Làng văn hóa", "Ấp văn hóa", "Bản văn hóa", "Tổ dân phố văn hóa" thì Tiêu chuẩn của danh hiệu Gia đình văn hóa bao gồm các tiêu chuẩn sau đây:

     

    1. Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng; pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua củ a địa phương nơi cư trú, gồm các tiêu chí sau:

     

    - Các thành viên trong gia đình chấp hành các quy định của pháp luật; không bị xử lý kỷ luật tại nơi làm việc và học tập;

     

    -  Chấp hành hương ước, quy ước của cộng đồng nơi cư trú;

     

    - Treo Quốc kỳ trong những ngày lễ, sự kiện chính trị của đất nước theo quy định;

     

    - Có tham gia một trong các hoạt động văn hóa hoặc văn nghệ ở nơi cư trú; thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao;

     

    -  Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo quy định;

     

    - Tham gia bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, cảnh quan thiên nhiên của địa phương;

     

    -  Thực hiện các quy định về vệ sinh môi trường, đổ rác và chất thải đúng giờ, đúng nơi quy định;

     

    - Tham gia đầy đủ các phong trào từ thiện, nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, khuyến học khuyến tài; sinh hoạt cộng đồng ở nơi cư trú;

     

     - Không vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh;

     

     -  Không vi phạm quy định phòng, chống cháy nổ

     

    - Không vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông như: Lấn chiếm lòng đường, hè phố, tham gia giao thông không đúng quy định.

     

    2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ; tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng, gồm các tiêu chí sau:

     

    - Ông, bà, cha, mẹ và các thành viên trong gia đình được quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng;

     

     -  Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng, hòa thuận, thủy chung;

     

    - Thực hiện tốt chính sách dân số; thực hiện bình đẳng giới;

     

    - Các thành viên trong gia đình tham gia bảo hiểm y tế và được chăm sóc sức khỏe;

     

    - Các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, văn minh, ứng xử có văn hóa trong gia đình, cộng đồng và xã hội;

     

    - Tương trợ, giúp đỡ mọi người trong cộng đồng khi khó khăn, hoạn nạn.

     

    3. Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả, gồm các tiêu chí sau:

     

    - Kinh tế gia đình ổn định và phát triển từ nguồn thu nhập chính đáng;

     

    - Tham gia các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội do địa phương tổ chức;

     

    - Người trong độ tuổi lao động tích cực làm việc và có thu nhập chính đáng;

     

    - Trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường;

     

     - Sử dụng nước sạch;

     

    - Có công trình phụ hợp vệ sinh;

     

    - Có phương tiện nghe, nhìn và thường xuyên được tiếp cận thông tin kinh tế, văn hóa - xã hội.

     

     Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 122/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ các trường hợp không xét tặng danh hiệu Gia đình văn hóa: là hộ gia đình có thành viên vi phạm một trong các trường sau:

     

      1. Bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

     

     2. Không hoàn thành nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ nộp thuế.

     

     3. Bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng; phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường.

     

     4. Có tảo hôn hoặc hôn nhân cận huyết thống.

     

      5. Có bạo lực gia đình bị xử phạt hành chính.

     

      6. Mắc các tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm, trộm cắp, tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc.

     

      7. Tham gia tụ tập đông người gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 17 tháng 9 năm 2019

    Câu 1. Bà Chu Lan Hương trú tại xã Đại Đồng huyện Tràng Định hỏi: Thủ tục ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng bỏ đi biệt tích dược pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các trường hợp ly hôn theo yêu cầu một bên như sau:

    - Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

    - Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

    - Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

    Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.” Như vậy, để Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn thì bạn phải thực hiện thủ tục tuyên bố mất tích đối với người chồng đã bỏ đi biệt tích.

    Thủ tục tuyên bố một người mất tích được quy định tại các Điều 384, 385 và Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

    - Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm ra thông báo; tên Tòa án ra thông báo; số và ngày, tháng, năm của quyết định thông báo tìm kiếm người mất tích tại nơi cư trú; Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo; họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích; địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu người mất tích biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người mất tích.

    - Việc công bố thông báo được quy định như sau: Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tuyên bố một người mất tích tại nơi cư trú, thông báo này phải đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cầu chịu.

    - Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo.

    Đối với việc tuyên bố người mất tích, tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các điều kiện sau: “1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

    Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

    Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố một bên vợ hoặc chồng là người mất tích thì bên còn lại có thể khởi kiện và được Tòa án giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên.

    Câu 2. Ông Hoàng Khánh Hà trúc tại Phường Chi Lăng, Thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào được tạm hoãn, miễn gọi nghĩa vụ quân sự theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015, Thông tư 148/2018/TT-BQP quy định về tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành về việc tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ, sẽ được tạm hoãn hoặc miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự, nếu rơi vào một trong các trường hợp dưới đây.

    Các trường hợp được tạm hoãn nhập ngũ:

    - Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.

    - Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) xác nhận.

    - Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.

    - Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.

    - Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.

    - Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

    - Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

    Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ:

    - Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một.

    - Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ.

    - Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

    - Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân.

    - Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

     Câu 3: Ông Lê Văn Ninh trú tại xã Mai Sao huyện Chi Lăng hỏi: Quy định cụ thể của pháp luật về các trường hợp không được đăng ký tham gia đấu giá tài sản?  

    Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 4 Điều 38 Luật đấu giá tài sản năm 2016 quy định  Những người sau đây không được đăng ký tham gia đấu giá:

    - Người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người tại thời điểm đăng ký tham gia đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

    - Người làm việc trong tổ chức đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá; người trực tiếp giám định, định giá tài sản; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người trực tiếp giám định, định giá tài sản;

    - Người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật;

    - Cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của Người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật

    - Người không có quyền mua tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó.

    Nhắn tin:

    Trong tuần vừa qua, chúng tôi có nhận được đơn của 36 chủ kinh doanh thuê ki-ốt tại khu vực Sân vận động Đông Kinh, Thành phố Lạng Sơn kiến nghị về việc tiếp tục thuê ki-ốt khu vực khán đài Sân vận động Đông Kinh, Thành phố Lạng Sơn.

     Đơn của các chủ hộ kinh doanh đã được gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 10 tháng 9 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Nguyễn Thị Hường trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”.

     

    Tại Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. Theo đó, người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

     

    Hướng xử lý việc ghi địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau (Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP):

     

    1. Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

     

    2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

     

    – Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

     

    – Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ trụ sở”. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

     

    – Trường hợp Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

    Do đó, trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì tòa án sẽ không được đình chỉ giải quyết vụ án để trả hồ sơ vụ kiện như trước đây mà phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng chung đã được quy định trong BLTTDS 2015. Trong trường hợp tòa không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì tòa án có thể thông qua thủ tục niêm yết để xét xử vắng mặt. Hoặc tòa án có thể thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng khi có yêu cầu của các đương sự khác trong vụ án.

     

      Câu 2. Ông Dương Minh Long trú tại xã Mai Pha thành phố Lạng Sơn  hỏi: Quy định cụ thể của pháp luật về hưởng bảo hiểm thất nghiệp như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Luật Việc làm năm 2013 và Nghị định số 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp:

     

    Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

     

    Người lao động tham gia ký kết các hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc sau phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp:

     

    Hợp đồng lao động không xác định thời hạn

     

    Hợp đồng lao động xác định thời hạn

     

    Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

     

    Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

     

    Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

     

    Chấm dứt hợp đồng lao động trừ các trường hợp: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

     

    Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động  đối với trường hợp giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động không xác định thời hạn; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

     

    Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.

     

    Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

     

    Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

     

     

    Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

     

    Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

     

    Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

     

    Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở  nước ngoài theo hợp đồng;

     

    Người lao động chết.

     

    Cách tính hưởng bảo hiểm thất nghiệp

     

    Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp ( nhưng không được quá 05 lần mức lương cơ sở hoặc mức lương tối thiểu vùng )

    Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

     

    Về thủ tục đăng ký để hưởng bảo hiểm thất nghiệp

     

    Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

     

    Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

     

    Giấy đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp;

     

    Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động:

     

    Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

     

    Quyết định thôi việc;

     

    Quyết định sa thải;

     

    Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

     

    Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

    Sổ bảo hiểm xã hội.

     

    Nhắn tin:

     

    Trong tuần vừa qua, chúng tôi có nhận được đơn của ông Nguyễn Khắc Định trú tại tổ 2, khối 7, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc thắc mắc về việc chưa được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.

     

     Đơn của ông đã được Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Lạng Sơn trả lời tại Thông báo số 218/TB-TTDVVL ngày 16/8/2019 theo quy định của pháp luật.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 03 tháng 9 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Trần Văn Nam trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người lao động bị tai nạn lao động dược pháp luật  quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

     

    Điểm c, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

    - Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

     

    b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

     

    c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

     

    - Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn.

     

    Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:

     

    - Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị Tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị Tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

     

    - Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị Tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:

     

    - Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do BHYT chi trả đối với người lao động tham gia BHYT.

     

    -Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

     

    -Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia BHYT.

     

    - Trả đủ tiền lương cho người lao động bị Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động.

     

    - Bồi thường cho người lao động bị Tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:

     

    Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%.

     

    Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

     

    - Trợ cấp cho người lao động bị Tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại Khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng.

     

    - Giới thiệu để người lao động bị Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật.

     

    - Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra Tai nạn lao động công bố biên bản điều tra Tai nạn lao động đối với các vụ Tai nạn lao động chết người.

     

    - Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc.

     

    - Lập hồ sơ hưởng chế độ về Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

     

    - Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.

     

      Câu 2. Bà Hoàng Bích Hạnh trú tại xã Trùng Quán huyện Văn Lãng hỏi: Những trường hợp nào được hoãn thi hành án tử hình theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật thi hành hình sự năm 2019, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Hội đồng thi hành án tử hình sẽ quyết định hoãn thi hành án tử hình:

     

    - Người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự. Đó là: Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người đủ 75 tuổi trở lên; Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

     

    - Có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;

     

    - Ngay trước khi thi hành án người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.

     

    Khi quyết định hoãn thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thi hành án; họ, tên, chức vụ của thành viên Hội đồng; lý do hoãn thi hành án. Biên bản hoãn thi hành án phải được tất cả các thành viên Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

     

    Câu 3: Ông Lương Xuân Vinh trú tại xã Vân Nham huyện Hữu Lũng hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành, những đối tượng nào có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường?

     

    Theo quy định tại Điều 2 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định: Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo đó, người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ là đối tượng được bồi thường theo quy định.

     

    Theo quy định tại Điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, đối tượng cụ thể có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường bao gồm:

     

    1. Người bị thiệt hại;

     

    2. Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại;

     

    3. Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự;

     

    4. Cá nhân, pháp nhân được những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 nêu trên ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 27 tháng 8 năm 2019

    Câu 1. Ông Nông Văn Phú trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: Hiện nay mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Ngày 01/7/2019, Chính phủ ban hành Nghị định 58/2019/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Theo đó, mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị định 58/2019/NĐ-CP là 1.624.000 đồng. Hằng tháng mức trợ cấp, phụ cấp với người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945 theo diện thoát ly là 1.815.000 đồng; diện không thoát ly 3.081.000 đồng.

    Trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân của một liệt sĩ 1.624.000 đồng; thân nhân của hai liệt sĩ 3.248.000 đồng; thân nhân của ba liệt sĩ trở lên 4.872.000 đồng.

    Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo mức trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ) hưởng mức phụ cấp 1.361.000 đồng.

    Người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống ở gia đình hưởng mức trợ cấp 1.624.000 đồng.

    Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến hưởng mức trợ cấp 1.361.000 đồng.

    Trường hợp Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 41% - 100%, mức trợ cấp từ 1.695.000 đồng - 4.137.000 đồng. Bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên có bệnh tật đặc biệt nặng hưởng phụ cấp 1.624.000 đồng.

    Trợ cấp ưu đãi hàng năm và trợ cấp ưu đãi một lần

    Trợ cấp ưu đãi hàng năm được quy định như sau: Liệt sĩ không còn người hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng thì người thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp thờ cúng là 500.000 đồng.

    Trợ cấp ưu đãi đối với con của người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học tại: Cơ sở giáo dục mầm non 200.000 đồng; cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, trường dự bị đại học, trường năng khiếu, trường lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật 250.000 đồng; cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, phổ thông dân tộc nội trú 300.000 đồng.

    Trợ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học là 300.000 đồng.

    Về trợ cấp ưu đãi một lần, Nghị định quy định: Trợ cấp một lần khi báo tử liệt sĩ, mức trợ cấp 20 lần mức chuẩn; hỗ trợ chi phí báo tử 1.000.000 đồng.

    Đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến chết trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến được truy tặng, mức trợ cấp 20 lần mức chuẩn…

    Nghị định số 99/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2019. Nghị định số 58/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2019. Các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 1/7/2019.

    Câu 2. Ông Bế Văn Mâu trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa trong sản xuất, kinh doanh hóa chất được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hóa chất, quy định yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa trong sản xuất, kinh doanh hóa chất như sau:

        1. Nhà xưởng phải đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, phù hợp với tính chất, quy mô và công nghệ sản xuất, lưu trữ hóa chất;

       2. Nhà xưởng, kho chứa phải có lối, cửa thoát hiểm. Lối thoát hiểm phải được chỉ dẫn rõ ràng bằng bảng hiệu, đèn báo và được thiết kế thuận lợi cho việc thoát hiểm, cứu hộ, cứu nạn trong trường hợp khẩn cấp;

       3. Hệ thống thông gió của nhà xưởng, kho chứa phải đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về hệ thống thông gió;

       4. Hệ thống chiếu sáng đảm bảo theo quy định để đáp ứng yêu cầu sản xuất, lưu trữ hóa chất. Thiết bị điện trong nhà xưởng, kho chứa có hóa chất dễ cháy, nổ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ;

       5. Sàn nhà xưởng, kho chứa hóa chất phải chịu được hóa chất, tải trọng, không gây trơn trượt, có rãnh thu gom và thoát nước tốt.

       6. Nhà xưởng, kho chứa hóa chất phải có bảng nội quy về an toàn hóa chất, có biển báo nguy hiểm phù hợp với mức độ nguy hiểm của hóa chất, treo ở nơi dễ thấy. Các biển báo thể hiện các đặc tính nguy hiểm của hóa chất phải có các thông tin: Mã nhận dạng hóa chất; hình đồ cảnh báo, từ cảnh báo, cảnh báo nguy cơ. Trường hợp hóa chất có nhiều đặc tính nguy hiểm khác nhau thì hình đồ cảnh báo phải thể hiện đầy đủ các đặc tính nguy hiểm đó. Tại khu vực sản xuất có hóa chất nguy hiểm phải có bảng hướng dẫn cụ thể về quy trình thao tác an toàn ở vị trí dễ đọc, dễ thấy;

       7. Nhà xưởng, kho chứa phải có hệ thống thu lôi chống sét hoặc nằm trong khu vực được chống sét an toàn và được định kỳ kiểm tra theo các quy định hiện hành;

       8. Đối với bồn chứa ngoài trời phải xây đê bao hoặc các biện pháp kỹ thuật khác để đảm bảo hóa chất không thoát ra môi trường khi xảy ra sự cố hóa chất và có biện pháp phòng chống cháy nổ, chống sét;

       9. Nhà xưởng, kho chứa phải đáp ứng đủ các điều kiện về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, an toàn và vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật có liên quan.

    Câu 3. Ông Triệu Văn Phú, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: quy định việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 55 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án, cụ thể như sau: 

    Việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính có nội dung yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.

    Thời điểm chấp nhận yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính là thời điểm Tòa án có thẩm quyền thụ lý yêu cầu bồi thường.

    Việc xác định thiệt hại được bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính được thực hiện theo quy định của Luật này sau khi Tòa án có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

    Trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính thì bản án, quyết định của Tòa án còn phải có các nội dung sau đây:

    - Hành vi gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

    - Thiệt hại, mức bồi thường, phục hồi danh dự (nếu có) và việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có);

    - Cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường, thực hiện phục hồi danh dự (nếu có) và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có).

    - Trường hợp người yêu cầu bồi thường không đồng ý với nội dung giải quyết bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc bản án, quyết định của Tòa án không có nội dung giải quyết bồi thường thì chỉ được tiếp tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường theo thủ tục tố tụng.

    Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi đã nhận được đơn thư của ông Hoàng Văn Tiến trú tại thôn Ôn Cựu I, xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình. Trong đơn, ông đề nghị xem xét giải quyết chế độ chính sách của gia đình ông đối với việc thờ cúng liệt sỹ.

    Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND huyện Lộc Bình, để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 20 tháng 8 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Vi Văn Hồng trú tại xã Bính Xá, huyện Đình Lập hỏi: Điều kiện tạm hoãn nghĩa vụ quân sự, trình tự thủ tục tạm hoãn nghĩa vụ quân sự được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Về điều kiện tạm hoãn nghĩa vụ quân sự

     

    Điều kiện tạm hoãn nghĩa vụ quân sự được quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015và Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 140/2015/TT-BQP, theo đó điều kiện gồm:

     

    Thứ nhất là những công dân không đạt tiêu chuẩn về sức khỏe theo quy định của Bộ y tế và của Bộ quốc phòng đưa ra đối với tuyển chọn công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự. 

     

    Theo quy định của pháp luật, công dân được gọi nhập ngũ khi đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi; trường hợp công dân đi học tại các trường đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp thì sẽ được tạm hoãn nhập ngũ trong thời gian của khóa học, sau khi hết khóa học thì sẽ tiếp tục được gọi nhập ngũ cho đến hết năm 27 tuổi. 

     

    Về điều kiện sức khỏe thì người được xếp hạng sức khỏe dưới sức khỏe loại 3 , tức là sức khỏe loại 4, 5, 6 thì sẽ không đủ điều kiện nhập ngũ. Đối với các công dân sức khỏe loại 3 nhưng nghiện ma túy, mắc HIV/AIDS, hoặc bị các tật khúc xạ về mắt như là bị cận thị từ 1,5 điop trở lên, bị viễn thị ở các mức độ thì cũng không gọi nhập ngũ vào quân đội. Việc xác định loại sức khỏe như thế nào thì sẽ do Hội đồng khám sức khỏe ở địa phương căn cứ trên quy định tại Thông tư số 16/2016/TTLT-BYT-BQP của Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế quy định về việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự để quyết định.

     

    Thứ hai là vì mục đích nhân đạo và tạo điều kiện ổn định cuộc sống cho nhân dân thì nhà nước quy định tạm hoãn đối với công dân là lao động chính và duy nhất trong gia đình phải trực tiếp nuôi dưỡng nhân thân mất khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động, hoặc khi gia đình bị thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt gây thiệt hại về người và tài sản, nhưng chỉ có một người lao động chính duy nhất của gia đình và được Ủy ban nhân dân xã xác nhận tình trạng trên thì công dân đó được phép tạm hoãn nghĩa vụ quân sự.

     

    Thứ ba là công dân hiện đang là con một của bệnh binh hoặc là con một của người bị nhiễm chất độc màu da cam bị suy giảm khả năng lao động từ 61%-80%. Với hoàn cảnh gia đình hiện nay nếu công dân đi thực nghĩa vụ quân sự thì không có ai chăm sóc người nhà vì gia đình không còn ai do vậy với trường hợp này thì nhà nước cho phép công dân tạm hoãn nghĩa vụ quân sự.

     

    Thứ tư là trong gia đình của công dân có anh, chị hoặc em ruột đang là hạ sỹ quan, binh sĩ trong quân đội nhân dân hoặc trong công an nhân dân do vậy việc công dân tiếp tục đi thực hiện nghĩa vụ quân sự nữa thì không cần thiết do vậy nếu thấy cần thiết thì công dân hoàn toàn được hưởng chế độ tạm hoãn nghĩa vụ quân sự.

     

    Thứ năm là người được Ủy ban nhân xã quyết định cho đi đến xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước theo diện di dân, dãn dân theo quy định của pháp luật, với những công dân này thì việc thực hiện nghĩa vụ quân sự lập tức sẽ không đáp ứng được và ảnh hưởng đến công việc ở những nơi vùng sâu, vùng xa.

     

    Thứ sáu là công dân hiện đang là cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong nhưng đã được điều động tới làm việc, công tác ở những vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế – xã hội.

     

    Thứ bảy là công dân đang đã và đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông hoặc đang được đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học hoặc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

     

    Như vậy công dân nào đáp ứng được một điều kiện trong các điều kiện trên thì hoàn toàn được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự.

     

    Về trình tự thủ tục tạm hoãn nghĩa vụ quân sự

     

    Căn cứ theo thẩm quyền quyết định tạm hoãn nghĩa vụ quân sự tại Khoản 1 Điều 42 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 thì công dân thực hiện thủ tục tạm hoãn nghĩa vụ quân sự theo trình tự như sau:

     

    Bước 1: Khi có lệnh gọi nhập ngũ thì công dân mang hồ sơ xin tạm hoãn nghĩa vụ quân sự nộp tại Ủy ban nhân dân cấp xã để nộp hồ sơ

     

    Bước 2: Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ xem xét, đăng ký, quản lý công dân trong diện tạm hoãn nghĩa vụ quân sự và đề nghị ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ ra quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ.

     

    Bước 3: Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ ra quyết định tạm hoãn gọi nhập ngũ nếu hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không hợp lệ công dân vẫn phải đi nghĩa vụ như bình thường.

     

    Bước 4: Trên cơ sở quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ niêm yết công khai danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày.

     

    Câu 2. Ông Vương Hải Long trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các trường hợp nào khi thi công công trình xây dựng được miễn, hoặc không cần giấy phép xây dựng?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 89 Luật Xây dựng 2014 thì những loại công trình, những trường hợp dưới đây khi xây dựng, sửa chữa, cải tạo không cần thiết phải xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng: 

     

    Thứ nhất, những trường hợp không cần xin Giấy phép và cũng không cần thông báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền: 

     

    + Công trình xây dựng trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ và những lĩnh vực khác theo quy định pháp luật mà phải bảo đảm bí mật theo yêu cầu của Nhà nước khi hoạt động đầu tư xây dựng; công trình được xây dựng có diện tích đất thuộc hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên theo yêu cầu xây dựng khẩn cấp.

     

    + Công trình xây dựng tạm thời để nhằm mục đích phục vụ thi công cho một công trình khác là công trình chính – công trình đã được cấp giấy phép xây dựng, có quy mô và công năng là yếu tố quan trọng để quyết định đầu tư của dự án. 

     

    + Công trình xây dựng nhà ở đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đáp ứng được tất cả những tiêu chí sau đây: nằm trong dự án phát triển đô thị hoặc nằm trong dự án phát triển nhà ở có quy mô theo quy định (nhà ở không quá 7 tầng, tổng diện tích sàn không được lớn hơn 500m2 có quy hoạch chi tiết 1/500). 

     

    + Công trình chỉ tiến hành sửa chữa, cải tạo hoặc lắp đặt các thiết bị nằm trong công trình. Việc thay đổi những nội dung này không làm ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực, không làm biến đổi công dụng công trình, không làm ảnh hưởng tới môi trường xung quanh và an toàn cho chính công trình đó. Tóm lại so với bản vẽ thiết kế cũ thì việc sửa chữa, thay đổi công trình không được làm thay đổi cơ bản kết cấu cũ của ngôi nhà.

     

    + Công trình chỉ tiến hành sửa chữa, cải tạo có làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài so với bản vẽ thiết kế công trình trước tuy nhiên bề mặt có thay đổi này không nằm tiếp giáp với đường trong đô thị mà ở khu vực đó có quy định cần phải quản lý kiến trúc. 

     

    + Công trình xây dựng tại vùng nông thôn và phải là vùng chưa có quy hoạch để phát triển thành đô thị và đã có quy hoạch chi tiết xây dựng đã được phê duyệt.

     

    + Nhà ở riêng lẻ của người dân tại nông thôn, trừ những nhà ở riêng lẻ nằm trên phần diện tích đất thuộc khu vực mà Nhà nước xác định hoặc có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là khu bảo tồn, khu di tích lịch sử văn hóa.  

     

    Thứ hai, những trường hợp không cần xin Giấy phép tuy nhiên chủ đầu tư trước khi khởi công vẫn cần phải thực hiện thông báo thời điểm khởi công xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương. Chủ đầu tư cần nộp hồ sơ thiết kế xây dựng để cơ quan có thẩm quyền quản lý, theo dõi và lưu trữ hồ sơ. 

     

    + Những công trình thuộc dự án đầu tư cấp trung ương được người có thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, bao gồm: Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp. 

     

    + Công trình xây dựng với hướng tuyến (đường cáp viễn thông, đường dẫn khí, cấp thoát nước, đường bộ, …) hướng ra ngoài đô thị và phải phù hợp với quy hoạch xây dựng có hướng tuyến công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chấp thuận. 

     

    + Công trình xây dựng thuộc một trong các dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký quyết định phê duyệt và đã qua thẩm định thiết kế xây dựng, thuộc một trong những khu: khu phát triển công nghiệp theo hướng đảm bảo cân bằng kinh tế – xã hội – môi trường, khu công nghiệp chuyên dụng để chế biến các sản phẩm đưa ra thị trường nước ngoài hoặc liên quan đến xuất nhập khẩu, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500. 

     

    + Công trình xây dựng tại khu vực nông thôn và khu vực này chưa có quy hoạch chi tiết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt xây dựng điểm dân cư nông thôn có yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng theo luật định. 

     

    Vậy, chỉ trừ những trường hợp được miễn xin cấp Giấy phép xây dựng kể trên còn lại khi tiến hành xây dựng, cải tạo công trình chủ đầu tư đều phải xin Giấy phép trước khi bắt đầu khởi công công trình. Những trường hợp không thuộc trường hợp miễn nhưng không xin Giấy phép sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật. 

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 8 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Triệu Chằn Vang trú tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình hỏi: Hành vi trồng những loại cây có chứa chất ma túy sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ Điều 247 Bộ luật Hình sự 2015 quy định Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy như sau:

     

    “1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

     

    a) Đã được giáo dục 2 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;

     

    b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

     

    c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3000 cây.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm:

     

    a) Có tổ chức;

     

    b) Với số lượng 3000 cây trở lên;

     

    c) Tái phạm nguy hiểm.

     

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

     

    4. Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”

     

    Căn cứ theo quy định này, hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cần sa chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau:

     

    + Đã được giáo dục 2 lần và tạo điều kiện ổn định cuộc sống: được hiểu là người vi phạm đã được cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, cũng như những người có trách nhiệm tại địa phương vận động, tuyên truyền, nhắc nhở cấm trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa, … Việc giáo dục phải được lập biên bản và được thực hiện trước khi bị xử phạt hành chính. Đồng thời những cá nhân, cơ quan có trách nhiệm tại địa phương phải hỗ trợ về vốn, kỹ thuật sản xuất, hỗ trợ giống cây trồng… hoặc hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lương thực… để thay thế cây thuốc phiện, cây cần sa…

     

    + Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này: Được hiểu là đã bị xử phạt hành chính theo khoản 3 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy nay lại tiếp tục thực hiện hành vi này.

     

    + Hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

     

    + Với số lượng từ 500 cây trở lên.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Đình Hạc trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những trường hợp nào bị tịch thu phương tiện giao thông khi tham gia giao thông?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì vi phạm một trong các lỗi sau, người điều khiển phương tiện giao thông sẽ bị tịch thu phương tiện:

     

    1. Theo Điểm c khoản 12 Điều 6:

     

    Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi sau đây:

     

    - Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy; quay người về phía sau để điều khiển xe hoặc bịt mắt điều khiển xe;

     

    - Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

     

    - Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

     

    - Điều khiển xe thành nhóm từ 02 xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

     

    2. Theo Khoản 6 Điều 8:

     

    Người điều khiển xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi sau đây:

     

    - Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; đuổi nhau trên đường;

     

    - Đi xe bằng một bánh đối với xe đạp, xe đạp máy; đi xe bằng hai bánh đối với xe xích lô.

     

    3. Theo Điểm d khoản 6 Điều 16:

     

    Người điều khiển xe ô tô (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm một trong các hày vi sau đây:

     

    - Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông (đối với loại xe có quy định về niên hạn sử dụng);

     

    - Điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông).

     

    4. Theo Điểm d khoản 5 Điều 17:

     

    Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông.

     

    5. Theo Điểm a khoản 3 Điều 19:

     

    Người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng sản xuất, lắp ráp hoặc cải tạo trái quy định tham gia giao thông.

     

    6. Theo Điểm b khoản 14 Điều 30: Chủ phương tiện cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

     

    7. Theo Điểm a khoản 4 Điều 34: Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo trái phép trên đường giao thông.

     

    8. Theo Điểm b khoản 4 Điều 34: Người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

     

    9. Theo Điểm b khoản 3 Điều 36:

     

    Người điều khiển phương tiện đăng ký hoạt động trong Khu kinh tế thương mại đặc biệt, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần các hành vi sau đây:

     

    - Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không có tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập, tái xuất theo quy định;

     

    + Điều khiển xe không có phù hiệu kiểm soát theo quy định hoặc có nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng phù hiệu không do cơ quan có thẩm quyền cấp.

     

    - Người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không có tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập, tái xuất theo quy định;

     

    + Điều khiển xe không có phù hiệu kiểm soát theo quy định hoặc có nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng phù hiệu không do cơ quan có thẩm quyền cấp.

     

    10. Theo Khoản 4 Điều 54: Tổ chức đưa phương tiện tự tạo chạy trên đường sắt.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 06 tháng 8 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Lục Văn Minh trú tại xã Văn An, huyện Văn Quan hỏi: các biện pháp bảo vệ tố cáo được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Luật Tố Cáo năm 2018, thì các biện pháp bảo vệ tố cáo được như sau:

     

    Biện pháp bảo vệ bí mật thông tin

     

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, chuyển đơn tố cáo, giải quyết tố cáo căn cứ vào tình hình cụ thể quyết định áp dụng biện pháp sau đây:

     

    1. Giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp;

     

    2. Lược bỏ họ tên, địa chỉ, bút tích, các thông tin cá nhân khác của người tố cáo ra khỏi đơn tố cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để quản lý theo chế độ mật khi giao cơ quan, tổ chức, cá nhân xác minh nội dung tố cáo;

     

    3. Bố trí thời gian, địa điểm, lựa chọn phương thức làm việc phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin cho người tố cáo khi làm việc trực tiếp với người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

     

    4. Áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật;

     

    5. Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin của người tố cáo.

     

    Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm

     

    1. Biện pháp bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức bao gồm:

     

    a) Tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ;

     

    b) Khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;

     

    c) Xem xét bố trí công tác khác cho người được bảo vệ nếu có sự đồng ý của họ để tránh bị trù dập, phân biệt đối xử;

     

    d) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

     

    2. Biện pháp bảo vệ việc làm của người được bảo vệ là người làm việc theo hợp đồng lao động bao gồm:

     

    a) Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người được bảo vệ;

     

    b) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

     

    Biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm

     

    1. Đưa người được bảo vệ đến nơi an toàn.

     

    2. Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết.

     

    3. Áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ theo quy định của pháp luật.

     

    4. Yêu cầu người có hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ chấm dứt hành vi vi phạm.

     

    5. Biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Mạc Văn Đô trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Những người nào được quyền yêu cầu bồi thường oan sai do người thi hành công vụ gây ra, nhà nước bồi thường người bị oan sai trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

      Người bị oan sai được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường cho những tổn hại về tinh thần và vật chất mà mình phải chịu. Từ ngày 01/07/2018, việc giải quyết bồi thường oan sai được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Người thiệt hại được định nghĩa là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do người thi hành công vụ gây ra.

     

    Điều 5 Luật quy định người thiệt hại, người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết, tổ chức thừa kế quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại, người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật… có quyền yêu cầu bồi thường.

     

    Thời hiệu yêu cầu bồi thường là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường

     

    Nhà nước bồi thường trong trường hợp sau:

     

    Theo điều 18, nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp:

     

     - Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ.

     

     - Người bị bắt, bị tạm giữ mà có quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

     

    - Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

     

    - Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, bị kết án tử hình, đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

     

    - Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù được xác định không phạm tội.

     

    - Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án oan…

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 30 tháng 7 năm 2019

    Câu 1. Ông Nông Hoàng Anh trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi cho vay nặng lãi sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Cho vay nặng lãi là hình thức tín dụng tư nhân chuyên cho vay với mức lãi suất cao, không nằm trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức tín dụng hợp pháp, không theo các quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng, ngân hàng; là loại hình tội phạm nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

    Theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự 2015 có quy định về mức lãi suất được cho phép như sau: Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác… Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

     Như vậy nếu lãi suất cho vay vượt quá 20% thì được coi  là cho vay nặng lãi. Nếu trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về mức lãi suất vượt quá 20%/năm, khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không thừa nhận và không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá đó. Tức là bên vay chỉ có nghĩa vụ trả lãi ở mức lãi suất tối đa theo quy định pháp luật là 20% /năm của khoản tiền vay.

    Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi cho vay nặng lãi mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:

               1. Xử phạt hành chính

     Theo điểm d khoản 3 Điều 11 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự-an toàn xã hội thì đối với hành vi cho vay nặng lãi có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi “cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.”

      2. Xử lý hình sự

      Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017 quy định về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:

     Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.       

    Câu 2. Ông Trương Minh Đạt trú tại Thị trấn Thất Khê huyện Tràng Định hỏi: Thế nào là di chúc hợp pháp và hiệu lực của di chúc dược pháp luật quy định như thế nào?        

    Trả lời:

     Di chúc có thể bằng văn bản hoặc di chúc miệng

    Di chúc phải được lập thành văn bản tiếng Việt có thể viết tay hoặc đánh máy in trên giấy nhìn được, đọc được. Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

    Di chúc bằng văn bản bao gồm 04 loại: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

    Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.

    Di chúc hợp pháp

    Theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

    Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

    Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

    Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện về di chúc hợp pháp được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

    Hiệu lực của di chúc

    Di chúc được coi là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ khi không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp kể cả về mặt hình thức hay nội dung của di chúc.

    Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu. Khi Toà án ban hành Quyết định hoặc Bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố di chúc vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ thì phần nội dung di chúc không bị vô hiệu vẫn có hiệu lực thực hiện, nếu tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ tài sản thừa kế của người chết sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người được thừa kế của người để lại di sản thừa kế.

    Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là khi người lập di chúc chết. Đối với di chúc chung của vợ chồng thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người thứ 2 chết sau cùng.

    Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp:  Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

    Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

    Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

    Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 7 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Vy Lan Phương trú tại xã Tú Xuyên, huyện Văn Quan hỏi: Hành vi bạo hành trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Trẻ em là mầm non, là tương lai của đất nước và là đối tượng được đặc biệt quan tâm, chăm sóc và giáo dục và bảo vệ của cả xã hội, điều này đã được cụ thể hóa trong Điều 14 và khoản 2 Điều 6 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự”, “Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật”

     

    Theo khoản 6 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2014 quy định “Hành vi ngược đãi, hành hạ trẻ em là một trong những hành vi bị nghiêm cấm”. Hành vi này được hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định 71/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số quy định của luật, bao gồm:

     

    " Xâm phạm thân thể, đánh đập, đối xử tồi tệ đối với trẻ em; bắt trẻ em nhịn ăn, uống, mặc rách, hạn chế vệ sinh cá nhân; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm.

     

    Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.

     

    Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau đớn để thể xác và tinh thần.

     

    Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác để chiếm đoạt, bắt cóc trẻ em, cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người giám hộ.

     

    Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương về tinh thần.

     

    Mua, bán trẻ em dưới mọi hình thức.

     

    Đánh tráo trẻ em vì bất cứ mục đích gì.

     

    Xúi giục, kích động, lừa dối trẻ em dưới mọi hình thức làm cho trẻ em thù ghét cha, mẹ, người giám hộ.

     

    Xúi giục, kích động, lừa dối trẻ em xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự của người khác.”

     

    Hiện nay, các mức xử phạt với người bạo hành trẻ em được quy định như sau:

     

    1. Xử lý hành chính

     

    Điều 27 của Nghị định 144/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em quy định: Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với các hành xâm phạm thân thể, gây tổn hại về sức khỏe đối với trẻ em. Mức phạt này cũng được áp dụng đối với hành vi dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em làm trẻ em tổn thương, đau đớn về thể xác, tinh thần.

     

    Ngoài bị phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng, người có các hành vi nêu trên còn phải chịu mọi chi phí khám, chữa bệnh cho trẻ em.

     

    2. Xử lý hình sự

     

    Nếu hành vi bạo hành trẻ em gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm tùy theo tính chất mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bao gồm các tội sau:

     

    – Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (tùy theo mức độ tỷ lệ tổn thương cơ thể mà bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân).

     

    – Điều 128 Tội vô ý làm chết người (phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 10 năm).

     

    – Điều 123 Tội giết người (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).

     

    – Điều 140 Tội hành hạ người khác (phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm).

     

    Ngoài ra, người thực hiện hành vi hành hạ, ngược đãi đối với trẻ em còn phải bồi thường cho cha mẹ hoặc người giám hộ của các bé số tiền để bù đắp những tổn thất vật chất thực tế và tổn thất tinh thần.

     

              Câu 2. Ông Hoàng Văn Giang trú tại phường Vĩnh Trại thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em chưa xác định được cha, mẹ; trẻ em sinh ra do mang thai hộ như thế nào?

     

              Quyền được khai sinh và có quốc tịch là một trong những quyền quan trọng của trẻ em ngay từ khi sinh ra và được quy định trong các văn bản pháp luật của nước ta. Đăng ký khai sinh cho trẻ em không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.

     

              Đối với một số trường hợp đặc biệt là trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em chưa xác định được cha, mẹ; trẻ em sinh ra do mang thai hộ, pháp luật nước ta đã quy định cụ thể thẩm quyền đăng ký khai sinh trong các trường hợp này tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch như sau:

     

            Đối với đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi

     

           Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo. Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.

     

           Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

     

           Sau khi đã lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch. Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

     

              Đối với đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ

     

           Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ đang cư trú có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ chưa xác định được cha, mẹ. Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống.

     

            Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.

     

            Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ không thuộc diện bị bỏ rơi, chưa xác định được cha và mẹ được thực hiện như quy định tại khoản 3 Điều 14 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ chưa xác định được cha, mẹ”.

     

            Đối với đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ

     

            Người yêu cầu đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch và văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ. Phần khai về cha, mẹ của trẻ được xác định theo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

     

            Nghị định 123/2015/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Đối với hồ sơ yêu cầu đăng ký hộ tịch được cơ quan đăng ký hộ tịch (bao gồm đăng ký khai sinh) tiếp nhận trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua, chúng tôi nhận được đơn thư của tập thể nhân dân Thôn Nà Tậu, xã Song Giáp huyện Cao Lộc thắc mắc về việc không được nhận tiền đền bù bãi khác thác tài nguyên (cát) do ảnh hưởng của công trình thủy điện Khánh Khê.

     

    Đề nghị đại diện tập thể nhân dân Thôn Nà Tậu liên hệ UBND huyện Cao Lộc để được giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 16 tháng 7 năm 2019

    Câu 1. Ông Trần Gia Linh trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người bị cơ quan tiến hành tố tụng bắt tạm giữ có các quyền và nghĩa vụ gì?

    Trả lời: Theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thì người bị tạm giữ bao gồm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú..

    Người bị tạm giữ có những quyền như sau:

    - Được biết lý do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    - Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    - Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

    - Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

    - Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

    - Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

    - Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.

    Riêng đối với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, quyền của người bị tạm giữ đã được cụ thể hóa, chi tiết hơn. Theo đó, khoản 1 Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 quy định người bị tạm giữ có các quyền sau đây:

    - Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

    - Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

    - Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

    - Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

    - Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

    - Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

    - Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ;

    - Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

    - Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

    - Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật Thi hành tạm giữ tạm giam và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

    Cần lưu ý rằng, thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ đối với người bị tạm giữ tối đa không quá 09 ngày. Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.

    Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết;...

    Câu 2. Ông Hà Văn Dũng trú tại xã Hoàng Việt huyện Văn Lãng hỏi: Trẻ em không nơi nương tựa bao gồm những đối tượng nào và chế độ trợ cấp ưu đãi đối với đối tượng này được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Trẻ em 2016; Điều 5 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em (gọi tắt là Nghị định số 56/2017/NĐ-CP) thì trẻ em không nơi nương tựa là:

    - Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật; Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em có cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cả cha và mẹ không còn khả năng chăm sóc trẻ em; Trẻ em có cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em có cả cha và mẹ đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trẻ em sống trong gia đình có cả cha và mẹ trong độ tuổi trẻ em; Trẻ em có cả cha và mẹ bị hạn chế quyền làm cha mẹ hoặc tạm thời cách ly khỏi cha hoặc mẹ theo quy định của pháp luật.

    Về các chính sách hỗ trợ:

    Theo quy định từ Điều 18 đến Điều 21 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP thì trẻ em không nơi nương tựa thuộc nhóm trẻ em có hoàn ảnh đặc biệt được nhà nước hỗ trợ một số chính sách sau:

    - Chính sách chăm sóc sức khỏe: Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; Nhà nước trả hoặc hỗ trợ trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh hoặc giám định sức khỏe cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và các chính sách chăm sóc sức khỏe khác theo quy định của pháp luật.

    - Chính sách trợ giúp xã hội: Nhà nước thực hiện chế độ trợ cấp hằng tháng đối với cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế; hỗ trợ chi phí mai táng và chế độ trợ cấp, trợ giúp khác cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của pháp luật về chính sách trợ giúp xã hội.

    - Chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo quy định của pháp luật giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp.

    - Chính sách trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ bảo vệ trẻ em khác: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý; Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hỗ trợ tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ bảo vệ trẻ em khác theo quy định tại Điều 48, 49, 50 Luật trẻ em. Cụ thể:

    - Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ phòng ngừa bao gồm: Tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng, gia đình, trẻ em về mối nguy hiểm và hậu quả của các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; về trách nhiệm phát hiện, thông báo trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Cung cấp thông tin, trang bị kiến thức cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em về trách nhiệm bảo vệ trẻ em, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện các yếu tố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; Trang bị kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ để bảo đảm trẻ em được an toàn; Giáo dục, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em; Xây dựng môi trường sống an toàn và phù hợp với trẻ em. (Điều 48)

    - Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ hỗ trợ bao gồm: Cảnh báo về nguy cơ trẻ em bị xâm hại; tư vấn kiến thức, kỹ năng, biện pháp can thiệp nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ xâm hại trẻ em cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và trẻ em nhằm tạo lập lại môi trường sống an toàn cho trẻ em có nguy cơ bị xâm hại; Tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ nguy hại, áp dụng các biện pháp cần thiết để hỗ trợ trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật trẻ em; Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình của trẻ em được tiếp cận chính sách trợ giúp xã hội và các nguồn trợ giúp khác nhằm cải thiện Điều kiện sống cho trẻ em. (Điều 49)

    - Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ can thiệp bao gồm: Chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, phục hồi thể chất và tinh thần cho trẻ em bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần can thiệp; Bố trí nơi tạm trú an toàn, cách ly trẻ em khỏi môi trường, đối tượng đe dọa hoặc đang có hành vi bạo lực, bóc lột trẻ em; Bố trí chăm sóc thay thế tạm thời hoặc lâu dài cho trẻ em thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 62 của Luật này; Đoàn tụ gia đình, hòa nhập trường học, cộng đồng cho trẻ em bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Tư vấn, cung cấp kiến thức cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, các thành viên gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt về trách nhiệm và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục hòa nhập cho trẻ em thuộc nhóm đối tượng này; Tư vấn, cung cấp kiến thức pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Các biện pháp hỗ trợ trẻ em bị xâm hại và gia đình của trẻ em quy định tại Khoản 1 Điều 43, Khoản 1 Điều 44 và Điểm d Khoản 2 Điều 49 của Luật trẻ em;theo dõi, đánh giá sự an toàn của trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. (Điều 50)

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 09 tháng 7 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Nguyễn Thị Thanh trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định cụ thể của pháp luật về chế độ ăn, ở và đăng ký khai sinh cho trẻ sinh ra trong trại tạm giam như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về chế độ ăn, ở và quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi như sau:

     

    - Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế, được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe; nếu sinh con thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp thực phẩm, đồ dùng, thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, được bảo đảm thời gian cho con bú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở giam giữ đóng trụ sở có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (m2).

    - Cơ sở giam giữ phải tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên thì phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng; trường hợp không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì thủ trưởng cơ sở giam giữ đề nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có cơ sở giam giữ chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam sau khi được trả tự do được nhận lại con đang được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng.

     

    Từ khi sinh ra cho đến khi đủ 36 tháng tuổi, nếu ở cùng mẹ trong Trại tạm giam thì chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được thực hiện theo quy định tại Điều 35 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và được hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định 120/2017/NĐ-CP ngày 6/11/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam. Cụ thể:

     

    Trẻ dưới 36 tháng tuổi ở cùng mẹ trong Trại tạm giam được bảo đảm định lượng ăn; được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); được bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em theo quy định của Luật trẻ em năm 2016, Ngày Quốc tế thiếu nhi, ngày tết Trung thu được hưởng chế độ ăn gấp 02 lần ngày thường, Mỗi tháng được cấp sữa và đồ dùng sinh hoạt cần thiết trị giá tương đương 20 kg gạo tẻ loại trung bình/01 trẻ em.

     

    Trẻ được chăm sóc y tế, tiêm phòng theo quy định của Bộ Y tế, trường hợp bị bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của bệnh xá, Trại tạm giam làm thủ tục chuyển đến cơ sở y tế của Nhà nước để điều trị; lãnh đạo Trại tạm giam quyết định việc đưa mẹ của trẻ đi cùng để chăm sóc. Trại tạm giam có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế trong việc khám bệnh, chữa bệnh cho nơi khám, chữa bệnh.

     

    Câu 2. Ông Lê Văn Long trú tại phường Chi Lăng Thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định của pháp luật  về biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cụ thể như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP như sau:

     

      1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

     Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 1 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện; Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy; Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.

     

       Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp: người không có năng lực trách nhiệm hành chính; người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được UBND cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

     

      2. Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy.

     

       Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy gồm: Bác sỹ, Y sĩ được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điều trị cắt cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại các cơ sở y tế quân y, y tế quân dân y; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của ngành công an; phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc; phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; bệnh viện cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các bộ, ngành khác.

     

       Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải chịu trách nhiệm về việc xác định của mình trước pháp luật.

     

        3. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

       Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;

     

       Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch UBND cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người nghiện ma túy;

     

       Trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.

     

       Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định trên, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện.Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp.

     

       4. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     

       Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao cơ quan đã lập hồ sơ để tiếp tục thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.

     

       Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao gồm: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định; Văn bản của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua, chúng tôi nhận được đơn thư của ông Hoàng Lê Nghiệp trú tại thôn Bắc Nam, xã Đồng Giáp huyện Văn Quan hỏi về việc sửa lại  tên đệm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền  đính chính lại tên đệm trong Giấy Chứng minh thư nhân dân và trong sổ hộ khẩu.

     

    Đề nghị ông liên hệ tại Văn phòng HĐND, UBND huyện Văn Quan (qua bộ phận tiếp nhận và trả kết quả) để được hướng dẫn, giải quyết theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 02 tháng 7 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Chu Thùy Dung trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các giao dịch dân sự như thế nào phải có sự đồng ý của vợ và chồng theo quy định của pháp luật hiện hành?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

     

    Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập; vợ chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình … (Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Theo đó, pháp luật quy định vợ/chồng cũng có thể tự mình quyết định thực hiện việc giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đối với một số giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng.

     

    Các giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của vợ và chồng:

     

    Thứ nhất, Giao dịch liên quan đến tài sản riêng của vợ/chồng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình (Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) .

     

    Thứ hai, Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ, chồng (Điều  31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng có thể là tài sản chung của vợ chồng, không phải tài sản riêng của vợ/chồng như nhà thuê… thì cần phải có sự đồng ý của vợ và chồng. Trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó, không cần sự đồng ý của bên còn lại nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ/chồng.

     

    Thứ ba, Giao dịch liên quan đến một số tài sản chung của vợ chồng  (Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Các giao dịch về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng sẽ do vợ chồng thỏa thuận (sự đồng ý của vợ và chồng). Trừ trường hợp, sử dụng tài sản chung thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì không cần có sự thỏa thuận của vợ chồng. Ví dụ như: việc mua sắm đồ gia dụng thiết yếu của gia đình thì không cần thỏa thuận với người còn lại. Nhưng nếu vợ hoặc chồng thực hiện các giao dịch là tài sản có giá trị khác thì phải cần có sự đồng ý của vợ hoặc chồng. Bao gồm các giao dịch liên quan đến tài sản chung sau:

     

        + Bất động sản: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, tài sản khác theo quy định của pháp luật…

     

       + Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu như: tàu biển, phương tiện giao thông đường thủy nội địa, phương tiện giao thông cơ giới, tàu cá, phương tiện giao thông đường sắt, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia...

     

        + Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

     

    Việc định đoạt các tài sản này phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Ví dụ như: bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán xe ô tô… cần có sự đồng ý, thỏa thuận bằng văn bản của vợ và chồng.

     

    Như vậy, vợ, chồng cần bàn bạc và có sự đồng ý của vợ/chồng khi thực hiện đối với một số giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

     

     Câu 2. Ông Trần Đình Dũng trú tại xã Hùng Sơn huyện Tràng Định hỏi: Người đang chấp hành hình phạt tù được tha tù trước thời hạn trong những điều kiện nào?

     

    Trả lời:

     

    Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của Đảng, Nhà nước và pháp luật Việt Nam nhằm khuyến khích những người chấp hành án phạt tù tích cực cải tạo, nhanh chóng hoà nhập cộng đồng, là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của BLHS, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ”.

     

    Về thẩm quyền: Tha tù trước thời hạn có điều kiện do Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù quyết định dựa trên cơ sở đề nghị của Trại giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu  theo Điều 368 BLTTHS năm 2015 và Điều 5, Điều 7 Thông tư liên tịch số 04 ngày 09/02/2018 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

     

    Về đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện: Đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện là người đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 66, 106 Bộ luật hình sự năm 2015.

     

    Về điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện: Theo đó, người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

    - Phạm tội lần đầu;

     

    - Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

     

    - Có nơi cư trú rõ ràng;

     

    - Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

     

    - Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

    Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

     

    - Không tha tù trước thời hạn đối với các đối tượng: Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật Hình sự năm 2015; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 2015 do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

     

    Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước. Khi hết thời gian thử thách, họ sẽ được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 25 tháng 6 năm 2019

    Câu 1. Ông Lý Tiến Hoành trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

    Trả lời:

    Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự được quy định cụ thể tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (Có hiệu lực từ ngày 01/07/2016).

    Theo đó, các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự bao gồm:

    1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.

    3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.

    4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

    5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.

    6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.

    7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

    8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

    9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

    10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.

    11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

    12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

    13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.

    14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.

    15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.

    16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.

    17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định.

    Câu 2. Ông Bùi Văn Quang trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: trách nhiệm của chủ vật nuôi khi gây ra thiệt hại cho người khác được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Về trách nhiệm dân sự:

    Trách nhiệm đối với những thiệt hại do vật nuôi (súc vật) gây ra đã được quy định đầy đủ tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra). Theo đó, chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu. Đây là trách nhiệm bồi thường dân sự cho những thiệt hại về vật chất hoặc sức khoẻ do súc vật gây ra.

    2. Về xử phạt: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ vật có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

    - Xử phạt hành chính: Theo Điểm e Khoản 2 Điều 5 Nghị định167/2013/NĐ-CP mức xử phạt hành vi này như sau:

              Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi:  Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác

    Về trách nhiệm hình sự:

    Trường hợp súc vật gây ra những thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng cho người khác thì chủ sở hữu súc vật có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, tuỳ theo mức độ thiệt hại. Có hai trường hợp:

    Trường hợp thứ nhất: Nếu súc vật gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì áp dụng Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội “Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

    Trường hợp thứ hai: Nếu súc vật làm chết người thì áp dụng Điều 128, Bộ luật hình sự năm 2015 về tội "Vô ý làm chết người".

    Theo đó, (1) người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; (2) phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

    Câu 3. Ông Hứa Minh Quang trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các trường hợp được miễn giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo Điều 11 Nghị định 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất thì miễn tiền sử dụng đất được quy định cụ thể trong những trường hợp sau:

    1. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi:

    - Sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với:

    + Người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công;

    + Hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo;

    - Sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà ở cho người phải di dời do thiên tai.

    2. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn.

    3. Miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở cho các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    4. Miễn tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở để bố trí tái định cư hoặc giao cho các hộ gia đình, cá nhân trong các cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    5. Các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

    - Việc miễn tiền sử dụng đất đối với người có công với Cách mạng chỉ được thực hiện khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cho phép miễn tiền sử dụng đất theo pháp luật về người có công.

    - Hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số được miễn tiền sử dụng đất phải có hộ khẩu thường trú tại địa phương thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; vùng biên giới, hải đảo.

    - Người được giao đất ở mới theo dự án di dời do thiên tai được miễn nộp tiền sử dụng đất khi không được bồi thường về đất tại nơi phải di dời.

    Trường hợp được giảm tiền sử dụng đất

    1. Giảm 50% tiền sử dụng đất trong hạn mức đất ở đối với hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các địa bàn không thuộc phạm vi được miễn khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất; cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất đang sử dụng hoặc khi được chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở.

    2. Giảm tiền sử dụng đất đối với đất ở trong hạn mức giao đất ở (bao gồm giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận cho người đang sử dụng đất) đối với người có công với cách mạng mà thuộc diện được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công.

    3. Các trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 18 tháng 6 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Lưu Văn Mằn, trú tại xã Song Giáp, huyện Văn Quan hỏi: đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án được pháp luật quy định như thế nào

     

    Trả lời:

     

    Đương nhiên được xóa án tích được quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định cụ thể về xóa án tích như sau:

     

     Một người được coi là đương nhiên được xóa án tích khi họ không phạm phải các tội về xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh và đáp ứng các điều kiện:

     

    - Từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định của pháp luật.

     

    - Từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án.

     

    - Nếu họ vẫn phải chấp hành hình phạt bổ sung thì sẽ được xóa án tích khi chấp hành xong hình phạt bổ sung đó.

     

    Xóa án tích theo quyết định của tòa án được quy định tại Điều 71

    Căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án, Tòa án sẽ ra quyết định xóa án tích với các tội phạm về xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

     

    Các trường hợp cụ thể:

     

    - Khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định

     

    - Khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án

     

    Cách tính thời gian xóa án tích

     

    Thời hạn để tính xóa án tích được quy định chi tiết tại Điều 70, 71 của Bộ luật Hình sự 2015. Trong đó, Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

     

    Ngoài ra, thời hạn để đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của tòa án căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Cụ thể:

     

    Với trường hợp đương nhiên được xóa án tích:

     

    + 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

     

    + 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

     

    + 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

     

    + 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án

     

    Với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa

     

    + 03 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;

     

    + 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

     

    + 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án

     

    + Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội thì được áp dụng thời hạn xóa án tích theo quyết định của Tòa

     

    + Khi chưa được xóa án tích mà thực hiện hình vi phạm tội mới thì thời hạn xóa án tích được tính lại như ban đầu

     

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Trang, trú tại xã Tân Lang, huyện Văn Lãng hỏi: Thủ tục để được xóa án tích được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

     

    Theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thủ tục để được xóa án tích được quy định như sau:

     

    - Với trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn tiếp nhận và cấp phiếu lý lịch tư pháp không có án tích là 05 ngày

     

    - Với các trường hợp còn lại do Tòa án quyết định.

     

    Theo đó, người bị kết án phải gửi đơn yêu cầu xóa án tích (có nhận xét của chính quyền địa phương hoặc nơi làm việc, học tập).

     

    Trong thời gian 13 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án cấp sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích.

     

    Trong trường hợp người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu, thì sau 01 năm mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi, thì sau 02 năm mới được xin xóa án tích.

     

    Câu 3. Ông Bế Ngọc Thành, trú tại xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn hỏi: Những trường hợp nào không được ủy quyền mà bắt buộc chính cá nhân, tổ chức đó phải tự mình thực hiện theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Ủy quyền là việc một người đại diện một người khác thực hiện một hoặc một số công việc trong phạm vi được ủy quyền, tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào cũng có thể ủy quyền cho người khác thực hiện. Pháp luật hiện nay có rất nhiều văn bản pháp luật quy định một số trường hợp không được ủy quyền mà bắt buộc chính cá nhân, tổ chức đó phải tự mình thực hiện.

     

    1. Đăng ký kết hôn

     

    Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn (Khoản 1 Điều 18 Luật Hộ tịch 2014)

     

    2. Ly hôn

     

    Có thể ủy quyền cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để làm một số thủ tục khi ly hôn, tuy nhiên, đương sự nhất thiết phải có mặt tại phiên tòa để giải quyết vụ việc ly hôn.

     

    Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì họ là người đại diện. (Theo khoản 4 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

     

    3. Công chứng di chúc của mình

     

    Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc và không được ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc (Theo Điều 56 Luật công chứng 2014)

     

    4. Cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2

     

    Cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

     

    (Theo Khoản 2 Điều 46 Luật lý lịch tư pháp 2009).

     

    5. Chủ đầu tư dự án kinh doanh bất động sản không được ủy quyền ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, cho thuê mua bất động sản cho bên tham gia hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh hoặc góp vốn thực hiện

    (Theo Khoản 5 Điều 13 Luật kinh doanh bất động sản 2014)

     

    6. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba

    Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba.

    (Theo Khoản 5 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính 2015)

     

    7. Quyền, lợi ích đối lập với người ủy quyền tại cùng vụ việc

    Cụ thể, người được ủy quyền cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người ủy quyền mà quyền, lợi ích hợp pháp của người được ủy quyền đối lập với quyền, lợi ích của người ủy quyền.

    (Theo Điểm a Khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)

     

    8. Đang được ủy quyền bởi một đương sự khác trong cùng vụ việc có quyền, lợi ích đối lập với người sẽ ủy quyền

     

    Nếu người được ủy quyền đang là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho đương sự khác mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc.

    (Theo Điểm b Khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

     

    9. UBND cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không được ủy quyền

    (Theo Khoản 4 Điều 59 Luật đất đai 2013)

     

    10. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp

    (Theo Khoản 2 Điều 11 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015)

     

    11. Cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước ở địa phương nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền

    (Theo Khoản 2 Điều 14 Luật tổ chức chính quyền ở địa phương 2015)

     

    12. Đăng ký nhận cha, mẹ, con

    Điều 25, Điều 47 Luật Hộ tịch 2014.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 11 tháng 6 năm 2019

    Câu 1. Ông Lý Văn Hoạt, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cầm cố tài sản là gì? quyền và nghĩa vụ của các bên cầm cố tài sản được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Cầm cố tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bên vay. Cụ thể, cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi chung là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi chung là bên nhận cầm cố) nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Khái niệm này được quy định cụ thể tại Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015.

    Hiệu lực của cầm cố tài sản

    1. Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

    2. Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.

    Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

    Nghĩa vụ của bên cầm cố

    1. Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.

    2. Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.

    3. Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    Quyền của bên cầm cố

    1. Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận, do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.

    2. Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.

    3. Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.

    4. Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.

    Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố

    1. Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.

    2. Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.

    3. Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    4. Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

    Quyền của bên nhận cầm cố

    1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.

    2. Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

    3. Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.

    4. Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.

    Câu 2. Ông Lương Văn Báu, trú tại xã Lâm Ca, huyện Đình Lập hỏi: Hoãn thi hành án dân sự đối với bản án dân sự có hiệu lực pháp luật được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án dân sự và Điều 14 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì căn cứ hoãn thi hành án dân sự được phân biệt bởi hai trường hợp như sau:

    Trường hợp thứ nhất: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn chủ yếu vì lý do khách quan như: Khi người phải thi hành án bị ốm nặng, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án; Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án; Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết …

    Luật không quy định thời hạn hoãn đối với quyết định hoãn của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong những trường hợp này

    Trường hợp thứ hai: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị.

    Đối với trường hợp này Luật quy định rõ về thời điểm tiếp nhận yêu cầu cũng như thời hạn hoãn:

    – Thời điểm tiếp nhận yêu cầu chia làm hai mốc cụ thể:

    + Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế.

    + Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết. Trường hợp này được hiểu là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn hoặc không.

    – Số lần yêu cầu hoãn: Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án (Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhấn dân cấp cao và Viện kiểm sát tương đương) chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.

    Thời hạn hoãn: Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án.

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 04 tháng 6 năm 2019

    Câu 1. Ông Mai Thành Lâm, trú tại xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: thế nào là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản? việc xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài được pháp luật quy định như thế nào?

    Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Về mặt khách quan, đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối, làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Trong đó, gian dối là điều kiện và thủ đoạn thực hiện hành vi chiếm đoạt; còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi gian dối; về thời gian, hành vi gian dối diễn ra trước thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt.

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi giá trị của tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc về một trọng các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội; Tài sản là phượng tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

    Về mặt chủ quan: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước được hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn cho hậu quả đó sảy ra.

     Về hình phạt, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định gồm 4 khung hình phạt như sau:

    - Khung 1 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm, áp dụng đối với người phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

    - Khung 2 quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm tù, áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn sảo quyệt, như giả danh cơ quan, tổ chức, người có uy tính của Đảng, nhà nước để chiếm đoạt tài sản.

    - Khung 3 quy định hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

    - Khung 4 quy định hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

    Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Chỉnh, trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: Việc xử phạt hành vi vi phạm về phòng bệnh, chống dịch bệnh cho động vật được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Những hành vi vi phạm quy định về phòng bệnh, chống dịch bệnh cho động vậtđược quy định cụ thể tại Nghị định 90/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân phải chịu một trong các hình thức xử phạt như sau:

    - Phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời cho UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y nơi gần nhất hoặc nhân viên thú y cấp xã khi phát hiện và biết động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh, chết do bệnh truyền nhiễm.

    - Phạt tiền từ 5-6 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

    + Vận chuyển hoặc vứt gia súc, gia cầm mắc bệnh, chết và sản phẩm của chúng ra môi trường;

    + Buôn bán con giống mắc bệnh truyền nhiễm.

    - Đối với hành vi sử dụng thuốc thú y trong Danh mục thuốc thú y cấm sử dụng tại Việt Nam để phòng bệnh cho động vật sẽ bị phạt từ 8-10 triệu đồng.

    - Phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện vệ sinh, khử trùng, tiêu độc theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.

     - Phạt tiền từ 3-4 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

    + Khai báo không đúng số lượng, khối lượng động vật mắc bệnh, chết, sản phẩm động vật nhiễm bệnh phải tiêu hủy với mục đích trục lợi;

    + Khai báo không đúng số lượng, khối lượng vật tư, hóa chất để phòng, chống dịch bệnh động vật với mục đích trục lợi;

    + Cung cấp thông tin không chính xác về dịch bệnh động vật cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y hoặc nhân viên thú y cấp xã.

    - Đối với hành vi vận chuyển động vật mẫn cảm với dịch bệnh đã công bố và sản phẩm của chúng qua vùng có dịch bệnh động vật mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền nơi có dịch sẽ bị phạt từ 5-6 triệu đồng.

    - Phạt tiền từ 6-8 triệu đồng đối với một trong các hành vi:

    + Tiêu hủy không đúng quy định hoặc không tiêu hủy động vật mắc bệnh, chết, sản phẩm động vật mang mầm bệnh thuộc diện phải tiêu hủy theo quy định của pháp luật;

    + Không chấp hành biện pháp xử lý bắt buộc động vật mắc bệnh, động vật có dấu hiệu mắc bệnh, sản phẩm của động vật mang mầm bệnh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

    - Đối với hành vi vận chuyển động vật mắc bệnh, sản phẩm hoặc chất thải của động vật mang mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đang được công bố ra khỏi vùng có dịch khi không được phép của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y có thẩm quyền sẽ bị phạt từ 15-20 triệu đồng.

     Về xử lý hình sự:

    Theo quy định tại Điều 241 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật như sau:

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Đưa vào, mang ra hoặc cho phép đưa vào, mang ra khỏi vùng có dịch động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

    b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật thuộc diện kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm dịch;

    c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

     a) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

     b) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên;

    b) Dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

    4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của Bà Nguyễn Thị Vựng trú tại thôn Khuổi Lầy, xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình. Nội dung đơn thư của bà có thắc mắc về việc tranh chấp đất đai.

    Đề nghị bà liên hệ trực tiếp với Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 2 thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn để được tư vấn giải quyết. Địa chỉ liên hệ: khu Bản Kho, thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. SĐT: 02053 841 885.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 28 tháng 5 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Hoàng Văn Dũng, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu (Khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Một người có thể cấp dưỡng cho nhiều người. Nhiều người có thể cấp dưỡng cho một người hoặc nhiều người.

     

    1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng:

     

    Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác (Khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Cụ thể là:

     

    - Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con (Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    - Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (Điều 111 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    - Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (Điều 112 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    - Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật Hôn nhân và gia đình. Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 113 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    - Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 113 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    - Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình (Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    2. Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng

     

    Về mức cấp dưỡng: Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Về phương thức cấp dưỡng: Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết(Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Trong trường hợp một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 108 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

     

    Trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người hoặc cho nhiều người thì những người này thỏa thuận với nhau về phương thức và mức đóng góp phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mỗi người và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết (Điều 109 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).Trong các vụ án hình sự mà có người bị hại chết thì bị cáo còn có trách nhiệm bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015.

     

    3. Về hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

     

    Theo quy định của pháp luật, người có nghĩa vụ cấp dưỡng mà trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo đó:

     

    - Điều 54 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:1. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật.2. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.”

     

    - Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” như sau: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

     

    4. Về chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

     

    Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng sẽ chấm dứt trong các trường hợp được quy định tại Điều 118 Luât Hôn nhân và gia đình năm 2014. Các trường hợp cụ thể như sau: Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình; Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi; Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết; Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn; Trường hợp khác theo quy định của luật.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Văn Nam, trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình hỏi: Đối tượng nào được giảm 70% học phí theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021 đã quy định đối tượng được giảm 70% học phí gồm:

     

    a) Học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật công lập và ngoài công lập, gồm: Nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống;

     

    b) Học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc, cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với giáo dục nghề nghiệp. Danh mục các nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định;

     

    c) Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số (không phải là dân tộc thiểu số rất ít người) ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ Quyết định số 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017 - 2020.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 21 tháng 5 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Chu Văn Minh, trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định về đăng ký kết hôn đối với cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân?

     

    Trả lời:

     

    1. Điều kiện kết hôn

     

    Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

     

    - Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

     

    - Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

     

    - Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

     

    - Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp: Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

     

    Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

     

    2. Thẩm quyền đăng ký kết hôn

     

    Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch, cụ thể:

     

     - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ  là công dân Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn.

     

     - Việc đăng ký kết hôn của cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân căn cứ quy định sau:

     

     Điều 16 Luật cư trú năm 2006 quy định về nơi cư trú của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân như sau: Nơi cư trú của người đang làm nghĩa vụ quân sự hoặc đang phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân là nơi đơn vị của người đó đóng quân; Nơi cư trú của sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân, viên chức Công an nhân dân là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi cư trú theo quy định của Luật cư  trú.

     

      3. Hồ sơ đăng ký kết hôn

     

     Hồ sơ đăng ký kết hôn bao gồm các giấy tờ sau đây:

     

     - Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu;

     

     - Bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của hai bên nam, nữ, do  Thủ trưởng đơn vị đang công tác cấp.

     

    Ngoài việc phải nộp những giấy tờ trên, hai bên nam, nữ phải xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là: Hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt, ký xác nhận vào Sổ đăng ký và Giấy đăng ký kết hôn trước sự chứng kiến của Công chức Tư pháp-Hộ tịch.

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Khiêm, trú tại thôn Pàn Pè, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà nhập ngũ tháng 3/1986, xuất ngũ tháng 11/2003, thời gian đóng bảo hiểm xã hội là 17 năm 8 tháng vậy tôi có thuộc đối tượng được nhà nước đóng bảo hiểm y tế và được hưởng chế độ, chính sách theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg không?

     

    Trả lời:

     

    1. Về chế đội bảo hiểm y tế

     

     Ðiều 5, Nghị định số 146/2018/NÐ-CP ngày 17-10-2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT đã hướng dẫn cụ thể các nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước đóng BHYT. Theo đó, nhóm đối tượng là cựu chiến binh (CCB) được Nhà nước đóng BHYT gồm:

     

    a) CCB tham gia kháng chiến từ ngày 30-4-1975 trở về trước theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4, Ðiều 2, Nghị định số 150 ngày 12-12-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh CCB, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1, Ðiều 1, Nghị định số 157/2016/NÐ-CP ngày 24-11-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 150/2006/NÐ-CP ngày 12-12-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh CCB.

     

    b) CCB tham gia kháng chiến sau ngày 30-4-1975 quy định tại khoản 5, Ðiều 2, Nghị định số 150/2006/NÐ-CP ngày 12-12-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh CCB và tại khoản 1, Ðiều 1, Nghị định số 157/2016/NÐ-CP ngày 24-11-2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 150/2006/NÐ-CP của Chính phủ.

     

    Căn cứ các quy định trên, bà không thuộc đối tượng được nhà nước đóng bảo hiểm y tế.

     

    2. Về chế độ trợ cấp

     

    Tại điểm a, khoản 1, Điều 2 Quyết định số 62/2011/Q Đ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ Quy định Về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc quy định đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp bao gồm: “Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân, nhập ngũ, tuyển dụng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, có dưới 20 năm phục vụ trong quân đội, công an, cơ yếu đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc (bao gồm cả số đi lao động hợp tác quốc tế về phục viên, xuất ngũ, thôi việc) trước ngày 01 tháng 4 năm 2000 hoặc chuyển ngành sau đó thôi việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 hoặc thương binh nặng đang điều dưỡng tại các đoàn điều dưỡng thương binh, hiện không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độ bệnh binh hàng tháng”

    Theo quy định trên, bà không thuộc diện đối tượng được hưởng trợ cấp theo quyết định số 62/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

     

    Nhắn tin:

     

    Trong tuần vừa qua, chúng tôi nhận được câu hỏi của ông Việt Quốc Trung, trú tại thôn Bản Mạy, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định phản ánh về việc Mẹ ông là bà Trần Thị Hồng, có thời gian tham gia thanh niên xung phong làm đường phục vụ kháng chiến chống Pháp 04 tháng. Gia đình đã 3 lần đến UBND xã Chi Lăng làm hồ sơ kê khai hưởng Trợ cấp và khen thưởng, nhưng đến nay chưa được giải quyết.

    Với câu hỏi của ông, Đài PTTH tỉnh Lạng Sơn sẽ chuyển tới UBND xã Chi Lăng để kiểm tra và xem xét trả lời.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 14 tháng 5 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Lương Thị Hòa, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự?

     

    Trả lời:

     

    Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế do cơ quan quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm mục đích ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa người bị buộc tội tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. 

     

    Có 8 biện pháp ngăn chặn, bao gồm:

     

    - Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110)

     

    - Biện pháp bắt người được áp dụng trong các trường hợp bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can để tạm giam, bắt bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ (các điều 111, 112, 113)

     

    -         Biện pháp tạm giữ; biện pháp tạm giam (các điều 117, 119).

     

    -         Biện pháp bảo lĩnh (Điều 121)

     

    -         Biện pháp đặt tiền để bảo đảm (Điều 122)

     

    -         Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123)

     

    -         Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124)

     

     

     Về các trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.

     

      Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng đối với người bị buộc tội và không được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác khi có một trong các quy định sau:

     

    - Quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Nghĩa là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (gọi là giai đoạn tiền khởi tố). Biện pháp ngăn chặn mà người bị áp dụng trong giai đoạn này là có thể là biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đối tượng bị áp dụng phải là người chưa bị khởi tố mà có cơ sở nghi vấn buộc tội, nhưng sau đó khi có quyết định không khởi tố vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định hủy biện pháp ngăn chặn này.

     

    - Quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án: Trường hợp này được hiểu là vụ án phải được chấm dứt các hoạt động tố tụng. biện pháp ngăn chặn (tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh) nếu đang được áp dụng đối với bị can, bị cáo thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định hủy biện pháp ngăn chặn ngay.

     

    - Quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can: Về cơ bản nội dung giống như trường hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án. Nhưng có điểm khác biệt là hoạt động tố tụng đối với bị can được đình chỉ phải chấm dứt, biện pháp ngăn chặn đối với bị can được đình chỉ phải được hủy bỏ ngay. Còn các bị can khác trong vụ án vẫn tiến hành tố tụng và áp dụng biện pháp ngăn chặn.

     

    - Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ: Thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn thuộc về Tòa án và đối tượng áp dụng là bị cáo, người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử nhưng phải được Hội đồng xét xử tuyên bằng bản án là không phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, hoặc miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ thì biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ ngay.

     

    -         Cuối cùng là trường hợp xét thấy không cần thiết.

     

    Theo quy định của BLTTHS năm 2015 quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.

     

    Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngặn chặn này phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Văn Cảnh trú tại xã Tân Liên, huyện Cao Lộc hỏi: Quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý đối với người bị buộc tội?

     

    Trả lời:

     

    Người bị buộc tội có địa vị pháp lý bất lợi khi tham gia các hoạt động tố tụng hình sự, do đó việc đảm bảo quyền được trợ giúp pháp lý nói riêng và quyền được bào chữa nói chung góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, giúp các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và chính xác. Để đảm bảo quyền được trợ giúp pháp lý của người bị buộc tội, pháp luật về Tố tụng hình sự và Trợ giúp pháp lý quy định như sau:

     

        1. Người bị buộc tội là đối tượng trợ giúp pháp lý

     

        Điều 7 của Luật TGPL năm 2017 quy định 02 nhóm đối tượng là người bị buộc tội được trợ giúp pháp lý gồm:

     

        - Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 5 Điều 7): Đây là đối tượng thuộc diện chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự được Trung tâm TGPL nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho nhằm thực hiện chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội.

     

        - Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo (khoản 6 Điều 7): Theo quy định hiện nay, mức chênh lệch về thu nhập giữa hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng, do vậy người thuộc hộ cận nghèo cũng không thể đủ tài chính để thuê luật sư khi có vướng mắc pháp luật cần phải tham gia tố tụng, quan trọng nhất là tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

     

        Người  bị buộc tội là người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người nhiễm chất độc da cam, người cao tuổi, người khuyết tật… có khó khăn về tài chính cũng thuộc diện được trợ giúp pháp lý.

     

        2. Quy định về tư cách là người bào chữa đối với người bị buộc tội của Trợ giúp viên pháp lý

     

        Khoản 1 Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định tư cách tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý, luật sư là người bào chữa cho người được TGPL.

     

        Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã ghi nhận Trợ giúp viên pháp lý với tư cách là người bào chữa tại điểm d khoản 2 Điều 72 Bộ luật TTHS: “ 2. Người bào chữa có thể là Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý”.

     

        Bộ luật TTHS cũng chia sẻ trách nhiệm thực hiện bào chữa theo án chỉ định cho Trung tâm TGPL Nhà nước. Theo điều 76 Bộ luật TTHS quy định thì Trung tâm TGPL Nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được TGPL trong trường hợp: bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu đề nghị cử người bào chữa cho họ.

     

        3. Đảm bảo quyền được trợ giúp pháp lý của người bị buộc tội

     

           Khoản 3 Điều 31 Luật TGPL năm 2017 quy định: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương”.

     

        Bộ luật TTHS đã quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng (Điều 71), cụ thể: cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Trường hợp người bị buộc tội thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho họ quyền được TGPL; nếu họ đề nghị được TGPL thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước và việc thông báo, giải thích phải được ghi vào biên bản”.

     

        Theo quy định Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Nhà tạm giữ, trại tạm giam có trách nhiệm chuyển yêu cầu của người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trong đó có việc chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến Trung tâm TGPL tỉnh/thành phố. Như vậy, nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam có yêu TGPL thì nhà tạm giữ, trại tạm giam có trách nhiệm chuyển yêu cầu đó đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết là tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý (Trung tâm TGPL nhà nước và các tổ chức tham gia TGPL).

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 07 tháng 5 năm 2019

     

    Trong chuyên mục tuần này chúng tôi xin được giải đáp những vướng mắc về pháp luật qua đơn thư chúng tôi đã tổng hợp được trong tuần qua như sau:

     

    Câu 1. Ông Lê Văn Mạnh, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Án phí và lệ phí dân sự là khoản thu vào cho ngân sách nhà nước đảm bảo chi phí liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án mà đương sự phải nộp khi thực hiện quyền khởi kiện. Theo đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định cụ thể như sau:

     

    - Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

     

    - Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.

     

    - Tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự bao gồm tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tiền tạm ứng lệ phí phúc thẩm.

     

    Về nghĩa vụ nộp Tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí:

     

    Theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí thì:

     

    - Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.

    - Người nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.

     

    Tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau:

     

    - Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.

     

    - Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

     

    - Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

     

    - Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

     

    Các trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

     

    - Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

     

    - Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

     

    - Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

     

    - Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

     

    - Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ (Những trường hợp này còn được miễn các khoản tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án).

     

    Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí thì Tòa án chỉ xem xét miễn án phí đối với phần mà người thuộc trường hợp được miễn phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được miễn nộp.

     

    Giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án

    Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp.

     

    Những người thuộc trường hợp quy định trên vẫn phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí Tòa án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     

    Có căn cứ chứng minh người được giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án không phải là người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có tài sản để nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án;

     

    Theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì họ có tài sản để nộp toàn bộ tiền án phí, lệ phí Tòa án mà họ phải chịu.

     

    Trường hợp các đương sự thỏa thuận một bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp mà bên chịu toàn bộ án phí hoặc một phần số tiền án phí phải nộp thuộc trường hợp được giảm tiền án phí thì Tòa án chỉ giảm 50% đối với phần án phí mà người thuộc trường hợp được giảm tiền án phí phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14. Phần án phí, lệ phí Tòa án mà người đó nhận nộp thay người khác thì không được giảm.

     

    Câu 2. Ông Trần Văn Dũng trú tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định của pháp luật về xử lý hành vi tổ chức, môi giới xuất cảnh, nhập cảnh trái phép?

     

    Trả lời:

     

    Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép là hành vi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, và cư trú ở Việt Nam. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh là cơ quan chuyên trách thuộc Bộ Công an làm nhiệm vụ quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Khoản 15 Điều 3, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam).

     

    Các hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép nếu không nhằm chống chính quyền nhân dân, thì tùy theo tính chất, mức độ, có thể bị xử lý như sau:

     

    1. Xử phạt hành chính.

     

    Điều 17 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, đưa dẫn hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam trái phép.

     

    Đối với người nước ngoài vi phạm thì tùy theo mức độ có thể còn bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     

    2. Xử lý hình sự.

     

    Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định xử phạt đối với hành vi tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép như sau:

     

    - Người nào tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp nhằm chống chính quyền nhân dân quy định tại Điều 120 của Bộ luật Hình sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

     

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với từ 05 người đến 10 người; Có tính chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.

     

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: Đối với 11 người trở lên; Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên; Làm chết người.

     

    - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 30 tháng 4 năm 2019

     

    Câu 1. Bà Nguyễn Thị Phượng, trú tại xã Gia Cát, huyện Cao lộc hỏi: Chế độ miễn, giảm giá vé tàu cho các đối tượng chính sách xã hội được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Ngày 12/05/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định 65/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đường sắt, trong đó quy định miễn, giảm giá vé cho các đối tượng chính sách xã hội khi đi tàu, nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018.

     

    - Đối tượng được giảm giá vé:  Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng; người cao tuổi; các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

     

    - Giảm giá vé áp dụng như sau: Mức giảm 90% giá vé áp dụng cho người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; bà mẹ Việt Nam anh hùng; mức giảm 30% giá vé áp dụng cho các đối tượng là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; nạn nhân chất độc hóa học; giảm giá vé cho đối tượng là người khuyết tật đặc biệt nặng; người khuyết tật nặng; người cao tuổi thực hiện theo quy định của pháp luật về người khuyết tật và người cao tuổi.

     

    - Việc giảm giá vé nêu trên được áp dụng theo giá vé bán thực tế của loại chỗ, loại tàu mà đối tượng sử dụng.

     

    - Việc miễn, giảm giá vé cho các đối tượng chính sách xã hội nêu trên khi đi tàu khách liên vận quốc tế được thực hiện theo các quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam là thành viên.

     

    - Mức miễn, giảm giá vé cho các đối tượng chính sách xã hội là các đối tượng khác thực hiện theo quy định của pháp luật.

     

    - Căn cứ điều kiện và thời gian cụ thể, doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt có thể mở rộng đối tượng được miễn, giảm giá vé đối với trẻ em tùy theo độ tuổi và cho các đối tượng hành khách khác; mức giảm giá vé theo quy định của doanh nghiệp.Trường hợp đối tượng chính sách xã hội đi tàu được hưởng từ 02 chế độ giảm giá vé trở lên thì chỉ được hưởng một chế độ giảm giá vé cao nhất.Người được miễn, giảm giá vé tàu phải xuất trình giấy chứng nhận thuộc đối tượng quy định cùng giấy tờ tùy thân khi mua vé và khi đi tàu.

     

    Câu 2. Ông Phan Thanh Tùng trú tại Thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi: Quy định của pháp luật tố tụng về Thời hạn tạm giam để điều tra?

     

    Trả lời:

     

    Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định cụ thể tại Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, chi tiết như sau:

     

     - Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

     

    - Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

     

    Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

     

    - Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

     

    - Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

     

    - Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

     

    - Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

     

    Về thẩm quyền gia hạn tạm giam

     

    Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

     

    Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

     

    Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

     

    Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam quy định tại khoản này đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia mà không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.

     

    Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không quá 04 tháng; trường hợp đặc biệt không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.

     

    Trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 23 tháng 4 năm 2019

    Câu 1. Ông Trần Văn Trung, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi tiêu thụ tài sản không hợp pháp sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Hành vi tiêu thụ tài sản không hợp pháp là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tùy theo tính chất, mức độ có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

    1. Về xử lý hành chính

    Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:

    - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Trộm cắp tài sản; Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

    - Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:  Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác; Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý; Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản; Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác; Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có; Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.

    - Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi: Trộm cắp tài sản; Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản; Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

    2. Về xử lý hình sự.

     Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

    - Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;  Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm: Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

    - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

    - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Câu 2. Ông Đinh Văn Thắng trú tại xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng hỏi: Quy định của pháp luật về miễn giảm tiền sử dụng đất cho người có công với cách mạng?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10, Khoản 1 Điều 11 và Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất quy định:

    - Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất thì chỉ được miễn hoặc giảm một lần trong trường hợp: Được Nhà nước giao đất để làm nhà ở hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất khác sang làm đất ở hoặc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.

    - Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công; hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà ở cho người phải di dời do thiên tai.

    - Giảm tiền sử dụng đất đối với đất ở trong hạn mức giao đất ở (bao gồm giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận cho người đang sử dụng đất) đối với người có công với cách mạng mà thuộc diện được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công.

    Mức hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công

    Theo Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điểm c Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ thì người có công với cách mạng được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ tiền sử dụng đất theo các mức cụ thể như sau:

    - Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh, có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên; thân nhân của liệt sĩ đang hưởng tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất.

    - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh, có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 61% đến 80% được hỗ trợ 90% tiền sử dụng đất.

    - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao đông do thương tật, bệnh tật từ 41% đến 60% được hỗ trợ 80% tiền sử dụng đất.

    - Thân nhân của liệt sĩ quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% đến 40%; người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng; người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước", người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" được hỗ trợ 70% tiền sử dụng đất.

    - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị bắt tù đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được tặng Huân chương Kháng chiến hạng I hoặc Huân chương Chiến thắng hạng I được hỗ trợ 65% tiền sử dụng đất.

    Các mức hỗ trợ nêu trên được tính trong định mức đất ở do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và tính trên số tiền sử dụng đất mà người được hỗ trợ phải nộp.

    Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được thực hiện tại địa phương quản lý hồ sơ người có công, nơi người có công đăng ký hộ khẩu thường trú. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất thì chỉ được miễn hoặc giảm một lần trong trường hợp được Nhà nước giao đất để làm nhà ở hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất khác sang làm đất ở hoặc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở. Nếu đã được miễn hoặc giảm một lần thì không được miễn hoặc giảm thêm lần nào nữa.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 16 tháng 4 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Văn Ninh, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi tố cáo sai sự thật sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Tố cáo sai sự thật là hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hướng đến danh dự, uy tín của người khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị  truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật như sau:

     

    1. Xử lý hình sự

     

    Nếu người nào biết rõ nội dung tố cáo là sai sự thật, không có thật nhưng vẫn cố tình tố cáo tới cơ quan chức năng, loan truyền thông tin không đúng sự thật nhằm xúc phạm danh dự, uy tín của người khác thì hành vi đó sẽ bị xử lý về Tội vu khống, quy định tại Điều 156, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, người thực hiện hành vi vu khống tùy vào mức độ vi phạm pháp luật mà bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 07 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

     

    Việc điều tra, xác minh làm rõ hành vi vu khống là thẩm quyền của Cơ quan điều tra. Do đó, người bị tố cáo cần gửi đơn tố giác kèm theo những tài liệu phản ánh việc loan truyền tin đồn hoặc họ tên, địa chỉ của những người biết sự việc đến Cơ quan công an nơi người bị tố cáo cư trú hoặc làm việc để điều tra làm rõ sự việc và xử lý theo thẩm quyền.

     

     Nếu người bị tố cáo tự tìm hiểu và xác định ai là người tố cáo mình và đã có đơn tố giác người đó hoặc nói với người khác là người đó vu khống mình, mà cơ quan chức năng xác định ý kiến của người bị tố cáo là sai, cố tình bịa đặt thì người bị tố cáo cũng có thể bị xử lý về hành vi vu khống người khác.

     

    2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

     

     Theo Điều 592, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường: Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại khác do luật quy định và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện tại tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự, nhưng mức bồi thường tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Lan trú tại xã Tân Văn, huyện Bình Gia hỏi: Việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận tiền để tuyển dụng người khác vào làm việc trong cơ quan nhà nước thì bị xử lý như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    1. Đối với người có hành vi nhận tiền

     

    Điều 354, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định  hành vi này có dấu hiệu của Tội nhận hối lộ.

     

    Theo đó, người có hành vi sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ, hành vi này có thể trực tiếp hoặc qua trung quan (người thứ 3 hoặc nhiều người khác) để làm hoặc không làm một việc gì vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, cụ thể ở đây là việc nhận tiền để chạy việc cho người khác. Mức hình phạt đối với hành vi này có thể bị phạt tù từ 2 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình tùy thuộc vào mức độ, tính chất, hậu quả vi phạm. Ngoài ra, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

     

    2. Đối với người có hành vi đưa tiền

     

    Người đưa tiền phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội đưa hối lộ quy định tại Điều 364, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. 

     

    Theo đó, người có hành vi đưa tiền hối lộ có thể chịu truy cứu trách nhiệm hình sự bằng hình thức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm tùy thuộc vào mức độ, tính chất, hậu quả hành vi vi phạm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng. 

     

     Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

     

     Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

     

    3. Đối với người môi giới

     

    Người làm cầu nối giữa người đưa tiền và người nhận tiền phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội môi giới hối lộ quy định tại Điều 365, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.Theo đó, người có hành vi đưa tiền hối lộ có thể chịu truy cứu trách nhiệm hình sự bằng hình thức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 15 năm tùy thuộc vào mức độ, tính chất, hậu quả hành vi vi phạm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200.000 triệu đồng. 

     

    Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

     

    Câu 3: Bà Lương Thị Mai trú tại Thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao lộc hỏi: Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, nếu thuộc một trong những trường hợp sau thì sẽ được trở lại quốc tịch Việt Nam:

     

    - Người đã mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật này có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

     

    + Xin hồi hương về Việt Nam;

     

    + Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam;

     

    + Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

     

    + Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

     

    + Thực hiện đầu tư tại Việt Nam;

     

    + Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài.

     

    - Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

     

    - Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 5 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

     

    - Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây, tên gọi này phải được ghi rõ trong Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

     

    - Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người sau đây, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép:

     

    + Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

     

    + Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

     

    + Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 09 tháng 4 năm 2019

    Câu 1. Ông Trần Văn Minh, trú tại xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định hỏi: Các cơ quan có chức năng tiếp công dân và người được phân công tiếp công dân có quyền từ chối tiếp công dân trong những trường hợp nào?

    Trả lời

    Việc tiếp công dân tại các trụ sở tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương, các bộ, ngành phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo đảm khách quan, đúng pháp luật… Trong Luật Tiếp công dân năm 2013 cũng đã quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng như xác định các trường hợp cụ thể người tiếp công dân được quyền từ chối tiếp công dân.

        Điều 7, Luật Tiếp công dân quy định về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, như sau:

        1. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các quyền sau đây:

        a) Trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

        b) Được hướng dẫn, giải thích về nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của mình;

        c) Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người tiếp công dân;

        d) Nhận thông báo về việc tiếp nhận, kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

        đ) Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không sử dụng thông thạo tiếng Việt thì có quyền sử dụng người phiên dịch;

        e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

        2. Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có các nghĩa vụ sau đây:

        a) Nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có);

        b) Có thái độ đúng mực, tôn trọng đối với người tiếp công dân;

        c) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; ký hoặc điểm chỉ xác nhận những nội dung trình bày đã được người tiếp công dân ghi chép lại;

        d) Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân;

        đ) Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;

        e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình.

        Tuy nhiên, có những trường hợp cho phép người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân theo Điều 9, Luật Tiếp công dân quy định người tiếp công dân được từ chối tiếp người đến nơi tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:

        - Người trong tình trạng say do dùng chất kích thích, người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

        - Người có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm nội quy nơi tiếp công dân;

        - Người khiếu nại, tố cáo về vụ việc đã giải quyết đúng chính sách, pháp luật, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, thông báo bằng văn bản và đã được tiếp, giải thích, hướng dẫn nhưng vẫn cố tình khiếu nại, tố cáo kéo dài;

     - Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Phạm Trung Kiên trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi là thương binh nặng, nay có nhu cầu được trợ giúp pháp lý, tôi xin hỏi khi yêu cầu trợ giúp pháp lý tôi có quyền và nghĩa vụ gì?

    Trả lời:

    Luật trợ giúp pháp lý năm 2017, quy định, người được trợ giúp pháp lý có các quyền và nghĩa vụ như sau:

    1.  Người được trợ giúp pháp lý có quyền:

    1. Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác.

    2. Tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.

    3. Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan.

    4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý.

    5. Lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

    6. Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.

    7. Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    8. Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    2.  Người được trợ giúp pháp lý có nghĩa vụ:

    1. Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.

    2. Hợp tác, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, chứng cứ đó.

    3. Tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.

    4. Không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về cùng một vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thụ lý, giải quyết.

    5. Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 02 tháng 4 năm 2019

    Câu 1. Ông Nguyễn Văn Nam, trú tại xã Tân Liên, huyện Cao Lộc hỏi: Người làm và sử dụng bằng cấp giả để được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước thì bị xử lý như thế nào?

    Trả lời

    Người có hành vi làm, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả là hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ có thể bị xử lý như sau:

    1. Xử lý kỷ luật

    Công chức, viên chức sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả để được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước sẽ bị xử lý kỷ  luật buộc thôi việc  theo quy định của Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức.

    2. Xử lý hành chính

    Tại khoản 3 và khoản 5 Điều 16 Nghị định 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục đã quy định xử phạt vi phạm quy định về sử dụng và công khai thông tin cấp văn bằng, chứng chỉ quy định như sau:

    -  Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả.

    - Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu văn bằng, chứng chỉ giả.

    3. Xử lý hình sự

    Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi sử dụng bằng cấp giả, chứng chỉ giả mà công chức, viên chức thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà người phạm tội trên có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm.

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Hùng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Vi phạm quy định về sử dụng nguyên liệu để sản xuất, chế biến, cung cấp thực phẩm sẽ bị xử lý như thế nào như thế nào?

    Trả lời:

    Vi phạm về an toàn thực phẩm là hành vi trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về an toàn thực phẩm, đồng thời có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng. Tùy theo tính chất, mức độ người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý như sau:

    - Xử lý hành chính

    Theo Điều 4 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm thì các hành vi vi phạm quy định về sử dụng nguyên liệu để sản xuất, chế biến, cung cấp thực phẩm sẽ bị xử phạt hành chính như sau:

    1. Phạt tiền từ 01 lần đến 02 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với một trong các hành vi sau đây:

    a) Sử dụng nguyên liệu đã quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng đối với nguyên liệu thuộc diện bắt buộc phải ghi thời hạn sử dụng;

    b) Sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ;

    c) Sử dụng sản phẩm từ động vật, thực vật để sản xuất, chế biến thực phẩm mà không được kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm dịch thực vật theo quy định của pháp luật.

    2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng sản phẩm từ động vật, thực vật để sản xuất, chế biến thực phẩm mà có chỉ tiêu an toàn thực phẩm không phù hợp với quy định của quy chuẩn kỹ thuật tương ứng hoặc không phù hợp quy định pháp luật hoặc đã kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm dịch thực vật nhưng không đạt yêu cầu.

    3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá dưới 10.000.000 đồng.

    4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

    a) Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm;

    b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

    5. Phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

    6. Hình thức xử phạt bổ sung:

    a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm  quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này;

    b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 tháng đến 12 tháng đối với vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này;

    c) Tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 20 tháng đến 24 tháng đối với sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.

    7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

    a) Buộc tiêu hủy nguyên liệu, thực phẩm vi phạm quy định tại Điều này;

    b) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.

    Xử lý hình sự

    Người có hành vi vi vi phạm về an toàn thực phẩm, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự năm 2017, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, người phạm tội có thể bị xử phạt từ 01 năm đến 20 năm tù; bị phạt tiền từ 10 triều đến 100 triệu đồng; người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm.


     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 26 tháng 3 năm 2019

    Câu 1. Ông Triệu Xuân Mừng trú tại xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng hỏi: Những hành vi vi phạm các quy định về sản xuất kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Những hành vi được coi là vi phạm các quy định về sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được quy định tại điều 5 Luật An toàn thực phẩm năm 2010:

    1. Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm.

    2. Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.

    3. Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

    4. Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

    5. Sản xuất, kinh doanh:

    a) Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;

    b) Thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;

    c) Thực phẩm bị biến chất;

    d) Thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép;

    đ) Thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm;

    e) Thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu;

    g) Thực phẩm không được phép sản xuất, kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh;

    h) Thực phẩm chưa được đăng ký bản công bố hợp quy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp thực phẩm đó thuộc diện phải được đăng ký bản công bố hợp quy;

    i) Thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc quá thời hạn sử dụng.

    Câu 2. Ông Trần Văn Luân trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: hành vi tung tin đồn thất thiệt lên mạng, gây xôn xao dư luận làm ảnh hưởng đến tính hình an ninh trật tự xã hội bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật

    Trả lời:

    Hành vi tung tin đồn thất thiệt lên các trang mạng xã hội là vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ có thể bị xử lý như sau:

    1. Xử lý hành chính:

    Trường hợp hành vi tung tin đồn thất thiệt lên các trang mạng xã hội chưa đủ dấu hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy đinh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện như sau:

    - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người có hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác; hoặc hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm;

    - Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với người có hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin, dịch vụ có nội dung cờ bạc, lô đề hoặc phục vụ chơi cờ bạc, lô đề; dâm ô đồi trụy, mê tín dị đoan, trái đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc;

    Ngoài ra, còn bị đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ nội dung qua tin nhắn từ 01 tháng đến 03 tháng và buộc phải hoàn trả hoặc buộc thu hồi số lợi bất hợp pháp có được, thu hồi đầu số, kho số viễn thông.

    - Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số để tuyên truyền sai trái, không đúng sự thật về chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam.

    2. Xử lý hình sự:

     Điều 288 Bộ luật hình sự 2015 quy định Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, thì người tung tin đồn thất thiệt lên các trang mạng xã hội có thể bị xưr lý như sau:

    Theo đó, người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông.

    Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà người phạm tội trên có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm.

    Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Câu 3. Ông Hoàng Văn Thiên trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: pháp luật quy định như thế nào khi người dân phát hiện ra cháy nổ tại khu vực mình sinh sống? Trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo Điều 22 của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy như sau:

    1. Người phát hiện thấy cháy phải bằng mọi cách báo cháy ngay cho người xung quanh biết, cho một hoặc tất cả các đơn vị sau đây:

    a) Đội dân phòng hoặc đội phòng cháy và chữa cháy cơ sở, chuyên ngành tại nơi xảy ra cháy.

    b) Đơn vị Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy nơi gần nhất.

    c) Chính quyền địa phương sở tại hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất.

    2. Cơ quan, đơn vị khi nhận được tin báo về vụ cháy xảy ra trong địa bàn được phân công quản lý thì phải nhanh chóng đến tổ chức chữa cháy, đồng thời báo cho các cơ quan, đơn vị cần thiết khác để chi viện chữa cháy; trường hợp cháy xảy ra ngoài địa bàn được phân công quản lý thì sau khi nhận được tin báo cháy phải bằng mọi cách nhanh chóng báo cho các cơ quan, đơn vị quản lý địa bàn nơi xảy cháy biết để xử lý, đồng thời báo cáo cấp trên của mình.

    3. Người có mặt tại nơi xảy ra cháy và có sức khỏe phải tìm mọi biện pháp để cứu người, ngăn chặn cháy lan và dập cháy; người tham gia chữa cháy phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy chữa cháy.

    4. Lực lượng Công an, Quân đội, Dân quân tự vệ, cơ quan y tế, điện lực, cấp nước, môi trường đô thị, giao thông và các cơ quan khác có liên quan có nhiệm vụ chữa cháy và tham gia chữa cháy theo quy định tại Luật Phòng cháy và chữa cháy.

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 19 tháng 3 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Hoàng Đình Phúc, trú tại xã Mông An, huyện Bình Gia hỏi: chính sách hỗ trợ cho thân nhân, người thờ cúng liệt sĩ đi tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Thông tư số 298/2017/TT-BQP hướng dẫn thực hiện về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

     

    Theo đó, thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 298/2017/TT-BQP:

     

     - Được hỗ trợ tiền đi lại (bao gồm cả lượt đi và lượt về) theo khoảng cách từ nơi cư trú đến các đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu; số lượng không quá 3 người, mỗi năm một lần; mức chi cụ thể một lượt như sau:

     

    + Khoảng cách dưới 100 km: Mức 150.000 đồng/người;

     

    + Khoảng cách từ 100 km đến dưới 300 km: Mức 300.000 đồng/người;

     

    + Khoảng cách từ 300 km đến dưới 500 km: Mức 500.000 đồng/người;

     

    + Khoảng cách từ 500 km đến dưới 1.000 km: Mức 800.000 đồng/người;

     

    + Khoảng cách từ 1.000 km đến dưới 1.500 km: Mức 1.100.000 đồng/người;

     

    + Khoảng cách từ 1.500 km đến dưới 2.000 km: Mức 1.500.000 đồng/người;

     

    + Khoảng cách từ 2.000 km trở lên: Mức 1.700.000 đồng/người.

     

     -  Được hỗ trợ tiền ăn với số lượng không quá 3 người; thời gian không quá 5 ngày; mức hỗ trợ tiền ăn một ngày cho một người bằng 2 lần mức tiền ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh;

     

     -  Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ khi đến đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu nộp giấy giới thiệu, 1 bản sao có chứng thực giấy báo tử liệt sĩ hoặc Bằng Tổ quốc ghi công. Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh hoặc đơn vị cấp sư đoàn hoặc tương đương trở lên quyết định hỗ trợ; lập phiếu chi trả và lưu các giấy tờ nêu trên làm chứng từ thanh, quyết toán.

     

       Về mức bồi dưỡng đối với việc cung cấp thông tin tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ:

     

     - Bồi dưỡng mức 3.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được 1 hài cốt liệt sĩ;

     

    - Bồi dưỡng mức 5.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 2 đến 5 hài cốt liệt sĩ;

     

    - Bồi dưỡng mức 10.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 6 hài cốt liệt sĩ trở lên;

     

    - Người có thành tích xuất sắc về cung cấp thông tin chính xác được khen thưởng ngay sau khi có kết quả tìm kiếm, quy tập; do Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định;

     

    -  Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh hoặc đội tìm kiếm, quy tập (nếu làm nhiệm vụ ở ngoài nước) lập văn bản có xác nhận của chính quyền địa phương sở tại (cấp xã) và chỉ huy đơn vị tìm kiếm, quy tập trực tiếp chi trả chế độ cho người cung cấp thông tin chính xác; lập phiếu chi trả làm chứng từ thanh, quyết toán.

     

    Câu 2: Ông Vương Hoàng Tú trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: những hành vi bị nghiêm cấm khi đối xử với người khuyết tật và muốn xác nhận mức độ khuyết tật cần những thủ tục gì?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 4 Luật Người Khuyết tật quy định gồm có 7 hành vi bị nghiêm cấm khi đối xử với người khuyết tật:

     

    1.  Kỳ thị, phân biệt đối xử người khuyết tật.

     

    Xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật.

     

    Lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội.

     

    Lợi dụng người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật, hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật để trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

     

    Người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc theo quy định của pháp luật.

     

    Cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con của người khuyết tật.

     

    Gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết tật.

     

    Theo Điều 18 Luật Người khuyết tật muốn xác nhận mức độ khuyết tật cần những thủ tục sau:

     

    - Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú.

     

    - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

     

    - Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tổ chức việc xác định mức độ khuyết tật, lập hồ sơ xác định mức độ khuyết tật và kết luận.

     

    - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết và thông báo công khai kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật.

     

    Câu 3: Ông Nông Minh Tùng trú tại xã Vĩnh Lại, huyện Văn Quan hỏi: Những đối tượng nào được xem là thân nhân của người có công với cách mạng được Nhà nước đóng Bảo hiểm y tế?

     

    Trả lời: Thân nhân người có công với cách mạng thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế. Theo quy định tại khoản 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 quy định: “Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định đã nêu ở bên”

     

    Để xác định rõ các đối tượng nào là thân nhân của người có công được hưởng chính sách này, ngày 26/7/2016, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 25/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn xác định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm:

     

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ trên 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng;

     

    - Con liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ;

     

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 12 tháng 3 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Hiếu, trú tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình hỏi: Tôi là nguyên đơn trong vụ án dân sự, đề nghị cho tôi biết về nội quy phiên tòa, nếu vi phạm bị xử lý như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Nội quy phiên tòa được quy định tại Điều 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:

     

    1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.

     

    2. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

     

    3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

     

    4. Nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử phải được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, người tham gia tố tụng khác phải được sự đồng ý của họ.

     

    5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.

     

    6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa; không sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa.

     

    7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng.

     

    Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.

     

    8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.

     

    9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi, trả lời, phát biểu.

     

    Xử lý hành vi vi phạm nội quy phiên tòa được quy định tại điều Điều 491 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:

     

    1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa quy định tại Điều 234 của Bộ luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

     

    2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.

     

    3. Trường hợp người vi phạm nội quy phiên tòa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

     

    4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.

     

    Câu 2. Ông Chu Ngọc Chiến, trú tại thị trấn Na Sầm, huyệnVăn Lãng, hỏi: việc tiếp nhận, xác minh nạn nhân bị mua bán được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 24 Luật phòng, chống mua bán người quy định:

     

    1. Nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển ngay người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân.

     

    2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được thông báo của Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện việc tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân và phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp xác định thông tin ban đầu về nạn nhân trong trường hợp họ chưa có một trong các giấy tờ, tài liệu quy định bao gồm:

     

    - Giấy xác nhận của cơ quan Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định.

     

    - Giấy xác nhận của cơ quan giải cứu theo quy định.

     

    - Giấy xác nhận của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.

     

    - Giấy tờ, tài liệu do cơ quan nước ngoài cấp đã được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hóa lãnh sự chứng minh người đó là nạn nhân.

     

    3. Sau khi tiếp nhận, căn cứ vào giấy tờ, tài liệu quy định hoặc kết quả xác định thông tin ban đầu về nạn nhân, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét để thực hiện việc hỗ trợ chi phí đi lại trong trường hợp nạn nhân tự trở về nơi cư trú; đối với nạn nhân là trẻ em thì thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích cư trú; trường hợp nạn nhân cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý và có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nạn nhân là trẻ em không nơi nương tựa thì làm thủ tục chuyển giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Đối với người chưa có giấy tờ, tài liệu chứng nhận là nạn nhân thì Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị cơ quan Công an cùng cấp tiến hành việc xác minh.

     

    4. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp có đủ điều kiện xác định là nạn nhân thì cơ quan đã tiến hành xác minh cấp giấy xác nhận nạn nhân cho họ.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Đức trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn biết quy định của pháp luật về việc phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 73 Luật Trẻ em năm 2016 quy định về phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật như sau:

     

    1. Cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú thực hiện các biện pháp sau đây nhằm chuẩn bị và thúc đẩy việc tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em vi phạm pháp luật:

     

    a) Duy trì mối liên hệ giữa trẻ em với gia đình;

     

    b) Tổ chức học văn hóa, học nghề, kỹ năng sống cho trẻ em;

     

    c) Xem xét, đánh giá quá trình chấp hành việc học tập, rèn luyện của trẻ em tại cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng để đề xuất với cơ quan có thẩm quyền giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc chấm dứt biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của pháp luật.

     

    2. Chậm nhất là 02 tháng trước khi trẻ em chấp hành xong hình phạt tù, 01 tháng trước khi trẻ em chấp hành xong biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ hoặc trường giáo dưỡng nơi trẻ em đang chấp hành hình phạt tù hoặc biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có trách nhiệm thông báo và cung cấp thông tin có liên quan cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em về cư trú để chuẩn bị việc tiếp nhận và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em.

     

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em cư trú có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch can thiệp, hỗ trợ và áp dụng biện pháp bảo vệ đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

     

    4. Cơ quan lao động - thương binh và xã hội, tư pháp, công an, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để hướng dẫn, giúp đỡ Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp và áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp khác đối với trẻ em.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 05 tháng 3 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Bế Văn Đại trú tại xã Đề Thám, huyện Tràng Định hỏi: Quy định về cải chính thông tin của cha, mẹ trong Giấy khai sinh của con và việc cấp Trích lục khai sinh (bản sao) được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

     Việc đăng ký khai sinh do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như: do lỗi của người đi đăng ký khai sinh cung cấp hoặc do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch, trên thực tế có nhiều trường hợp trẻ em sinh ra đã được đăng ký khai sinh nhưng thông tin của cha hoặc mẹ trong giấy khai sinh bị đăng ký không đúng so với thực tế dẫn đến vướng mắc trong việc giải quyết các thủ tục hành chính tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc hoạt động của cá nhân. Để giải quyết vấn đề này, cá nhân có thể yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền tiến hành cải chính hộ tịch thông tin của cha, mẹ trong Giấy khai sinh và được thực hiện như sau:

     

       1. Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu đăng ký cải chính hộ tịch thực hiện theo quy định tại Điều 27, 46 của Luật hộ tịch 2014, cụ thể:

     

        - UBND cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

     

       - UBND cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước.

     

       - UBND cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của người nước ngoài có thẩm quyền giải quyết việc cải chính hộ tịch đối với người nước ngoài đã đăng ký hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

     

       - UBND cấp huyện nơi người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đăng ký hộ tịch trước đây có thẩm quyền giải quyết việc cải chính.

     

       2. Về thủ tục đăng ký cải chính hộ tịch được thực hiện theo quy định tại Điều 28, 47 của Luật hộ tịch 2014, cụ thể: Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo lãnh đạo cơ quan đăng ký hộ tịch  cấp trích lục cho người yêu cầu. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc

     

       Trong trường hợp cha, mẹ không còn giấy tờ chứng minh có liên quan (như Trích lục khai sinh bản sao) làm cơ sở để cải chính thông tin trong Giấy khai sinh của con thì làm thủ tục cấp bản sao Trích lục khai sinh tại UBND cấp xã nơi công dân đã đăng ký khai sinh trước kia.

     

       Việc cấp bản sao Trích lục khai sinh được quy định tại Điều 63, Điều 64, Luật Hộ tịch năm 2014, theo đó, cá nhân không phụ thuộc vào nơi cư trú có quyền yêu cầu Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch (nơi đăng ký khai sinh trước kia hoặc nơi lưu trữ Sổ đăng ký khai sinh) cấp bản sao trích lục khai sinh.

     

       Người yêu cầu cấp bản sao trích lục khai sinh trực tiếp hoặc thông qua người đại diện gửi tờ khai theo mẫu quy định cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch. Trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đề nghị cấp bản sao trích lục khai sinh của cá nhân thì gửi văn bản yêu cầu nêu rõ lý do cho Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch.  

     

       Ngay sau khi nhận được yêu cầu, nếu đủ điều kiện thì Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu hộ tịch sẽ cấp bản sao trích lục khai sinh cho người yêu cầu.

     

    Câu 2. Ông Mai Ngọc Huân trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện để được đăng ký nuôi con nuôi, trình tự, thủ tục, hồ sơ nhận nuôi con nuôi trong nước được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thứ nhất, về điều kiện để người đăng kí nuôi con nuôi được quy định tại khoản 1,2,3 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 như sau:

     

    – Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là cá nhân đã thành niên không bị mặc bệnh tâm thần hay các bệnh hạn chế khả năn nhận thức, có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự điều này giúp cho việc chăm sóc con nuôi được đảm bảo tốt nhất về việc điều kiện kinh tế, học tập và giáo dục.

     

    – Có điều kiện về sức khỏe tốt có giấy khám sức khỏe để xác định về sức khỏe đảm bảo khả năng chăm sóc cho con nuôi, bên cạnh đó người nhận nuôi cũng cần có kinh tế ổn định thu nhập đảm bảo, hơn nữa việc có chỗ ở nơi sinh sống đăng ký thường trú, tạm trú và môi trường sống lạnh mạnh dễ dàng cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

     

    – Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

     

    – Có tư cách đạo đức tốt như yêu thương trẻ em, biết giúp đỡ mọi người, trung thực, chân thành……có trình độ văn hóa;

     

           Người nhận nuôi con không thuộc các trường hợp như sau:

     

    + Người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên ví dụ: một số quyền như các quyền về chăm sóc, nuôi dưỡng, giám hộ đại diện…..

     

    + Người đang chấp hành hình phạt tù về các tội danh đã được quy định của Bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     

    + Người đã chấp hành xong hình phạt tù về một trong các tội Thứ nhất các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác ví dụ: Tội giết người, Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát, Tội đe dọa giết người, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ; Thứ hai tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình theo Điều 185 Bộ luật hình sự 2015; Thứ ba dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật theo Điều 325 Bộ luật hình sự 2015; Thứ tư mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại Bộ luật hình sự 2015.

     

    + Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

     

    Trình tự, thủ tục, hồ sơ nhận nuôi con nuôi trong nước được quy định như sau:

     

    + Đăng ký nuôi con nuôi tại:

     

    Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.

     

    + Hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi gồm:

     

    1. Đơn xin nhận con nuôi;

     

    2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

     

    3. Phiếu lý lịch tư pháp;

     

    4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

     

    5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi.

     

    + Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước

     

    1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

     

    a) Giấy khai sinh;

     

    b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

     

    c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

     

    d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

     

    đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

     

    2. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng.

     

    + Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi

     

    1. Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú. 

     

    2. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 26 tháng 02 năm 2019

    Câu 1. Ông Hứa Văn Trọng trú tại xã Hải Yến, huyện Cao Lộc hỏi: việc đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có sai sót về thông tin cá nhân được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Về thẩm quyền đính chính:

    Theo Khoản 1, Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

    a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

    b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

    Hồ sơ:

    Khoản 3 Điều 10 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục cấp đổi, cấp lại, đính chính, thu hồi giấy chứng nhận như sau:

    “3. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đính chính giấy chứng nhận, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gồm có:

    a) Đơn đề nghị đính chính đối với trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản phát hiện sai sót trên Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp;

    b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp”.

    Về thủ tục thực hiện:

    Điều 86 Nghị định số 43 năm 2014 của Chính phủ về việc thi hành Luật Đất đai quy định cụ thể như sau:

    Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính.

    Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai phát hiện Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót thì thông báo cho người sử dụng đất biết và yêu cầu người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để thực hiện đính chính.

    Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra; lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót; lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính vào Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.

    Trường hợp đính chính mà người được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng có yêu cầu cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký đất đai trình cơ quan có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    Về thời gian giải quyết:

    Không quá 15 ngày làm việc (không kể thời gian người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật).

    Câu 2. Ông Hoàng Nhất Khang trú tại xã Bằng Mạc, huyện Chi Lăng hỏi: Tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg quy định về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24 tháng 4 năm 2018. Theo đó, sẽ có 05 tiêu chí để lựa chọn người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số như sau:

        - Là công dân Việt Nam, không phân biệt thành phần dân tộc, cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

        - Bản thân và gia đình gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương.

        - Là người tiêu biểu, có nhiều công lao, đóng góp trong các phong trào thi đua yêu nước, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn bản sắc văn hóa và đoàn kết các dân tộc.

       - Hiểu biết về văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc; có mối liên hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng trong dòng họ, dân tộc và cộng đồng dân cư.

       - Có khả năng quy tụ, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số trong phạm vi nhất định bằng lời nói, qua việc làm, được người dân trong cộng đồng tín nhiệm, tin tưởng, nghe và làm theo.

        Về đối tượng lựa chọn:

        Người có uy tín được lựa chọn từ các đối tượng là Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang theo quy định của pháp luật hiện hành có quá trình công tác lâu năm, có cống hiến cho dân tộc, đất nước đã nghỉ công tác; già làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ hoặc những người thường được đồng bào dân tộc thiểu số mời thực hiện các nghi lễ cầu cúng cho gia đình, dòng họ, bản làng; chức sắc, chức việc trong các tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số (Phật giáo, Hồi giáo, Tin lành, Công giáo,...);  nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, nhà giáo, người hành nghề chữa bệnh giỏi hoặc người có điều kiện kinh tế thường giúp đỡ và được đồng bào tín nhiệm.

       Về điều kiện bình chọn người có uy tín:

       Mỗi thôn thuộc vùng dân tộc thiểu số có ít nhất 1/3 số hộ gia đình hoặc số nhân khẩu là người dân tộc thiểu số được bình chọn 1 người có uy tín.

       Trường hợp thôn không đủ điều kiện quy định nêu trên hoặc có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống, căn cứ tình hình thực tế và đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định số lượng người có uy tín được bình chọn, nhưng tổng số người có uy tín được bình chọn không vượt quá tổng số thôn của vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

       Về hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần

       Theo phân cấp quản lý thực hiện chính sách, người có uy tín được thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết của các dân tộc thiểu số không quá 2 lần/năm; mức chi không quá 500.000 đồng/người/lần; thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau không quá 1 lần/năm.

        Mức chi không quá 3.000.000 đồng/người/năm đối với cấp Trung ương; không quá 1.500.000 đồng/người/năm đối với cấp tỉnh; không quá 800.000 đồng/người/năm đối với cấp huyện.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 19 tháng 02 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Hoành trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc bồi  thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Điều 593 Bộ luật Dân sự quy định thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm như sau:

     

    - Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    - Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:

     

    + Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

     

    + Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

     

    - Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.

     

    Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như sau:

     

    - Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

     

    + Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

     

    + Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

     

    + Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

     

    + Thiệt hại khác do luật quy định.

     

    - Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

     

    Câu 2. Bà Nông Thị Thuận trú tại xã Tri Phương, huyện Tràng Định hỏi: Nhà nước có chính sách hỗ trợ nào cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số không?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 24/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số thì đối tượng được thụ hưởng chính sách là: phụ nữ là người dân tộc thiểu số hoặc phụ nữ là người Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn (trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) khi sinh con thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     

              - Sinh một hoặc hai con;

     

              - Sinh con thứ ba, nếu cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

     

              - Sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên;

     

              - Đã có một con đẻ, nhưng sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên;

     

              - Sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi;

     

              - Sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận;

     

              - Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ);

     

              - Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ); không áp dụng cho trường hợp hai vợ chồng đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống;

     

              - Phụ nữ thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số chưa kết hôn, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

     

              Định mức hỗ trợ: Hai triệu đồng/người.

     

              Thời điểm hỗ trợ: Tính từ tháng đầu sau khi sinh con thuộc đối tượng được hỗ trợ.

     

              Phương thức hỗ trợ: Bằng tiền, cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng.

     

    Câu 3. Ông Hà Văn Sơ trú tại xã Quan Bản, huyện Lộc Bình hỏi: Quy định về việc giám định tỷ lệ thương tật. Người bị hại có quyền tự yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật không? 

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật giám định tư pháp. 

     

    Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định bao gồm: 

     

    - Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;

     

    - Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

     

    - Nguyên nhân chết người;

     

    - Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

     

    - Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;

     

    - Mức độ ô nhiễm môi trường.

     

    Bên cạnh đó, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012 quy định về việc yêu cầu trưng cầu giám định như sau: 

     

    "2. Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

     

    3. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo."

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 11 tháng 02 năm 2019

     

    Câu 1. Ông Hoàng Trung Hải trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: Nếu bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, vụ án có xét xử được không? Bị đơn có quyền kháng án không? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?

     

    Trả lời

     

    Điều 227 Bộ luật dân sự 2015 quy định về sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như sau:

     

    1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

     

    Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

     

    2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

     

    a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

     

    b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ; 

     

    c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

     

    d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

     

    đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

     

    Như vậy, nếu phía bị đơn được triệu tập lần thứ hai mà không có mặt, không có lí do chính đáng thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử được theo đúng quy định đã nêu trên.

     

    Mặc dù bị đơn bị xét xử vắng mặt nhưng họ vẫn được quyền kháng cáo. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo (15 ngày) sẽ tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. (ĐIều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

     

    Việc niêm yết bản án được quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

     

    1. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và Điều 178 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

     

    2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người có chức năng tống đạt hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú, nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở thực hiện theo thủ tục sau đây:

     

    a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo;

     

    b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo;

     

    c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.

     

    3. Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết.

     

    Nếu hết 15 ngày, kể từ ngày niêm yết, bị đơn không có đơn kháng cáo thì bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành.