Các ngân hàng đang cho vay vượt huy động gần 2 triệu tỷ đồng, cho thấy áp lực lãi suất và thanh khoản đã lộ rõ. Việc NHNN ban hành Thông tư 08 cho phép tính lại 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào LDR, giúp 4 ngân hàng quốc doanh có thêm dư địa bơm vốn ra nền kinh tế. Nhưng điều đó cũng cho thấy sự lệ thuộc của nền kinh tế vào vốn ngân hàng.
Tín dụng vượt huy động gần 2 triệu tỷ đồng, áp lực thanh khoản lộ rõ sau quý I
Thống kê từ báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng trên sàn cho thấy, tăng trưởng tín dụng đã có sự khởi sắc ngay trong những tháng đầu năm. Tính đến hết ngày 31/3/2026, tổng dư nợ cho vay khách hàng của các ngân hàng đạt hơn 14,44 triệu tỷ đồng, trong khi tiền gửi khách hàng chỉ đạt 12,85 triệu tỷ đồng. Nói cách khác, các ngân hàng đang cho vay vượt huy động khoảng 2 triệu tỷ đồng.
Trong số 27 ngân hàng, chỉ có rất ít nhà băng có tiền gửi khách hàng cao hơn cho vay. HDBank là một trong những ngân hàng ghi nhận số tiền gửi khách hàng cao hơn so với dư nợ cho vay. Ở chiều ngược lại, có tới 13 ngân hàng sụt giảm tiền gửi khách hàng trong quý I, trong đó BIDV dẫn đầu với mức giảm lên tới 80,86 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2025.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, huy động vốn tăng rất chậm, khiến quy mô huy động vốn đang “chênh” khoảng 2 triệu tỷ đồng so với tín dụng.
Con số này cho thấy sức ép thanh khoản đã lan từ bảng cân đối của từng ngân hàng sang toàn hệ thống. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh mạnh hơn để hút tiền gửi. Đó là lý do chính khiến mặt bằng lãi suất huy động trong ba tháng đầu năm ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong khoảng ba năm gần đây.
“Điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của các TCTD. Đây cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới”, bà Tùng phân tích.
Áp lực đó xuất hiện đúng lúc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. Với mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong giai đoạn 2026-2031, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2031 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng; riêng năm 2026 vào khoảng 5,1 triệu tỷ đồng.
“Trong đó, nhu cầu vốn tín dụng dự kiến khoảng 1,8 triệu tỷ đồng. Con số này vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà NHNN đặt ra. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các TCTD sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng nói trên.
Điều đáng nói, nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, với tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 145%, trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng. Rủi ro kỳ hạn cũng nổi lên khi vốn huy động bằng VND chủ yếu là ngắn hạn, chiếm 80%, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn lớn. Điều này tiềm ẩn rủi ro với các TCTD trong việc cân đối đảm bảo an toàn hệ thống”, bà Tùng phân tích.
Thông tư 08 mở van vốn Kho bạc Nhà nước, 4 ông lớn quốc doanh có thêm gần 150 nghìn tỷ đồng cho vay nền kinh tế
Trong bức tranh đó, Thông tư số 08/2026/TT-NHNN được ban hành ngày 15/5 và có hiệu lực ngay trong ngày trở thành một động thái chính sách đáng chú ý. Văn bản này sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Điểm cốt lõi của Thông tư 08 là cho phép các ngân hàng được đưa trở lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, tức LDR. Trong khi đó, toàn bộ tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vẫn tiếp tục bị loại khỏi công thức này.
Đây là sự điều chỉnh ngược chiều so với lộ trình siết dần trước đó tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN. Theo quy định của Thông tư 22, tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước có kỳ hạn bị loại khỏi mẫu số LDR tăng dần qua từng năm và từ đầu năm 2026 đã bị loại bỏ hoàn toàn 100%.
Việc thay đổi này được đưa ra sau kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại cuộc họp về tình hình hoạt động ngân hàng những tháng đầu năm 2026, trong đó yêu cầu: “... Nghiên cứu sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để tạo điều kiện bảo đảm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, phù hợp với diễn biến thị trường trong từng thời kỳ”.
Cùng với đó là kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, đánh giá việc thực hiện quy định liên quan đến tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại Thông tư số 26/2022/TT-NHNN, xem xét, nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền.

Việc đưa trở lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số tính LDR giúp nhiều ngân hàng mở thêm dư địa cho vay. Về chính sách, đây là cách nhanh nhất để giảm áp lực thanh khoản cho nhóm ngân hàng lớn nhất hệ thống mà không cần ngay lập tức bơm thêm vốn chủ sở hữu. Tác động lớn nhất rơi vào nhóm ngân hàng thương mại nhà nước.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ LDR của VietinBank, BIDV, Vietcombank và Agribank đang có xu hướng tăng trong những tháng đầu năm 2026. Tại thời điểm 31/3/2026, tỷ lệ này lần lượt là 83,48%, 82,94%, 84,54% và 83,28%, gần sát ngưỡng tối đa 85%.
Trong khi đó, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước chủ yếu nằm tại các ngân hàng thương mại nhà nước. Tính đến tháng 3/2026, số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại toàn hệ thống ngân hàng là 626.716 tỷ đồng, trong đó riêng khối ngân hàng thương mại nhà nước là 624.167 tỷ đồng, chiếm 99,59% tổng số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các tổ chức tín dụng.

Báo cáo tài chính quý I/2026 của Vietcombank, BIDV và VietinBank cho thấy ba ngân hàng quốc doanh này đang nắm tổng cộng hơn 563.000 tỷ đồng tiền gửi Kho bạc Nhà nước, tăng gần 39% so với cuối năm ngoái.
Trong đó, Vietcombank ghi nhận gần 189.159 tỷ đồng tiền gửi Kho bạc Nhà nước, phần lớn là tiền gửi có kỳ hạn bằng VND. BIDV ghi nhận gần 188.627 tỷ đồng tiền gửi Kho bạc Nhà nước. Sau khi loại trừ phần tiền gửi không kỳ hạn, quy mô tiền gửi có kỳ hạn đủ điều kiện tính LDR cũng xấp xỉ 185.000 tỷ đồng. VietinBank ghi nhận khoảng 185.250 tỷ đồng tiền gửi Kho bạc Nhà nước, tăng gần 38% so với đầu năm.
Như vậy, việc kéo dài thời gian được tính 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ LDR có thể giúp mỗi ngân hàng trong nhóm này có thêm khoảng 37.000 tỷ đồng bổ sung vào nguồn vốn để mở rộng hoạt động cho vay.
Tuy nhiên, đây không phải nguồn vốn hoàn toàn ổn định. Qua rà soát, Ngân hàng Nhà nước cho biết tiền gửi Kho bạc Nhà nước là nguồn tiền ngắn hạn, có kỳ hạn tối đa 3 tháng và không ổn định do có thể bị rút trước hạn để đáp ứng nhu cầu thu chi ngân sách nhà nước, hoặc do hết kỳ hạn gửi tại ngân hàng thương mại nhưng ngân hàng đó không tiếp tục trúng thầu nhận tiền gửi Kho bạc Nhà nước.
“Theo thông lệ quốc tế khi tính tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng, tỷ lệ NSFR, có cho phép tính đến một phần tiền gửi Chính phủ và các tổ chức công lập của Chính phủ vào nguồn vốn ổn định sẵn có của TCTD. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung theo hướng kéo dài thời gian được tính 20% tiền gửi KBNN khi tính tỷ lệ LDR trên cơ sở kế thừa quy định tại điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư 22 là phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Đồng thời, quy định này cũng tạo ra dư địa để nguồn tiền gửi KBNN tại các NHTM có thể được sử dụng để đáp ứng thêm nhu cầu vốn và hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ”, Ngân hàng Nhà nước cho hay.
Ở góc nhìn thị trường, Công ty Chứng khoán ACBS đánh giá việc đưa 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào công thức tính LDR giúp hệ thống ngân hàng giảm áp lực duy trì các quy định mang tính “cơ học” trước đây, đặc biệt là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.

“Nhờ đó, mặt bằng lãi suất huy động trung và dài hạn, hiện vẫn phổ biến quanh 8-9% tại nhiều ngân hàng, sẽ có thêm dư địa để hạ nhiệt trong thời gian tới.
Quan trọng hơn, Chính phủ đang muốn đẩy mạnh tăng trưởng, nên việc khơi thông nguồn vốn từ nhóm ngân hàng lớn nhất hệ thống là cách nhanh nhất để bơm tiền vào các dự án trọng điểm và sản xuất kinh doanh”, ACBS phân tích.
Thông tư 08 vì vậy không chỉ là một sửa đổi kỹ thuật trong công thức tính LDR. Nó phản ánh thế cân bằng mới của chính sách tiền tệ, đó là vừa phải giữ an toàn hệ thống, vừa phải đảm bảo dòng vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao.
Trong ngắn hạn, việc đưa 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước đang nằm “ngủ” trong ngân hàng vào công thức tính LDR sẽ giúp nguồn vốn này được tận dụng hiệu quả hơn thông qua hoạt động tín dụng. Các ngân hàng lớn có thêm dư địa cho vay, lãi suất huy động bớt áp lực tăng, và dòng tiền có thể chảy nhanh hơn vào các dự án trọng điểm cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhưng về dài hạn, câu chuyện nằm ngoài một thông tư. Khi tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 145%, trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng, nền kinh tế tiếp tục đặt phần lớn gánh nặng vốn lên vai hệ thống ngân hàng. Điều đó khiến mỗi chu kỳ tăng trưởng cao đều nhanh chóng biến thành một bài toán thanh khoản. Thông tư 08 mở thêm một van vốn. Nhưng van vốn ấy cũng cho thấy đường ống tài chính của nền kinh tế đang chịu áp lực lớn đến mức nào.
Theo danviet.vn