Trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam, không nhiều gia đình có hai Nghệ sĩ Nhân dân cùng được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh – phần thưởng cao quý nhất dành cho những cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc và PGS.TS, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Hiển là một trường hợp đặc biệt như thế. Một người dành cả đời cho điện ảnh, một người âm thầm vun đắp cho nghệ thuật múa. Hai con đường sáng tạo khác nhau nhưng gặp nhau ở sự tận tụy với nghề và những đóng góp bền bỉ cho nền nghệ thuật nước nhà.

Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc – Người mang giải Vàng quốc tế đầu tiên về cho điện ảnh Việt Nam
Trong lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam, Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc được xem là một trong những đạo diễn thuộc thế hệ đặt nền móng cho nền điện ảnh non trẻ của đất nước. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, ông để lại dấu ấn sâu đậm ở cả phim tài liệu, phim truyện, công tác quản lý điện ảnh và đào tạo thế hệ kế cận.

Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc – Người mang giải Vàng quốc tế đầu tiên về cho điện ảnh Việt Nam. Ảnh: Gia đình cung cấp.
Sinh năm 1934 tại xã Hiền Quan, tỉnh Phú Thọ, Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc tham gia cách mạng từ năm 1949 và bắt đầu công tác trong ngành điện ảnh từ năm 1953 tại An toàn khu Việt Bắc. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông được cử sang học đạo diễn phim truyện tại Trường Đại học Điện ảnh toàn Liên bang Xô Viết ở Moskva. Đây là giai đoạn quan trọng giúp ông xây dựng nền tảng nghề nghiệp vững chắc, để sau này trở thành một trong những tên tuổi lớn của điện ảnh Việt Nam.
Khi mới 25 tuổi, ông đã gây tiếng vang với bộ phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải. Tác phẩm do ông biên kịch và đạo diễn được trao Huy chương Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Moskva năm 1959 cho phim tài liệu xuất sắc nhất. Đây không chỉ là giải Vàng quốc tế đầu tiên của điện ảnh Việt Nam mà còn được xem là giải Vàng quốc tế đầu tiên của nền văn học nghệ thuật nước nhà.

Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc (phải) làm phim thời trẻ. Ảnh: Gia đình cung cấp
Từ thành công ban đầu đó, Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc tiếp tục khẳng định tài năng qua hàng loạt tác phẩm nổi bật như Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi, Nguyễn Văn Trỗi, Đường về quê mẹ, Hoa thiên lý, Sài Gòn tháng 5/1975... Nhiều bộ phim của ông giành giải thưởng cao tại các liên hoan phim trong nước và quốc tế.
Đặc biệt, trong gia tài sáng tác của ông, chùm phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem là dấu ấn nổi bật. Các tác phẩm Nguyễn Ái Quốc đến với Lênin, Đường về Tổ quốc và Hồ Chí Minh - Chân dung một con người không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa tư liệu lịch sử sâu sắc.
Để thực hiện những bộ phim này, ông cùng ê-kíp đã sang Liên Xô trong thời gian dài, khai thác hàng vạn mét phim, ảnh và tài liệu lưu trữ. Đoàn làm phim gặp gỡ nhiều nhân chứng lịch sử, tìm kiếm các tư liệu quý liên quan đến hành trình hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc tại Nga và châu Âu. Những thước phim chân thực đã góp phần tái hiện sinh động cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân trong đợt phong tặng đầu tiên. Ảnh: Gia đình cung cấp
Năm 1984, Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân trong đợt phong tặng đầu tiên. Đến năm 2007, ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho cụm bảy tác phẩm điện ảnh xuất sắc gồm Nước về Bắc Hưng Hải, Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi, Hồ Chí Minh - Chân dung một con người, Nguyễn Ái Quốc đến với Lênin, Đường về Tổ quốc, Nguyễn Văn Trỗi và Đường về quê mẹ.
Ngay cả khi đã nghỉ hưu, niềm đam mê điện ảnh vẫn không rời xa ông. Năm 68 tuổi, ông tiếp tục thực hiện bộ phim sử thi Hà Nội 12 ngày đêm, tái hiện cuộc chiến “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Bộ phim sau đó được đánh giá là một trong những tác phẩm chiến tranh tiêu biểu của điện ảnh Việt Nam đầu thế kỷ XXI, được mời tham dự nhiều liên hoan phim quốc tế tại Nhật Bản, Ai Cập, Thụy Sĩ, Iran, Pháp và Tây Ban Nha.
Không chỉ sáng tác, ông còn giữ nhiều trọng trách như Giám đốc Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, Cục trưởng Cục Điện ảnh, đồng thời tham gia hội đồng giám khảo tại nhiều liên hoan phim quốc tế.
Năm 2023, Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc qua đời ở tuổi 90. Đại sứ Liên bang Nga tại Việt Nam đã gửi thư chia buồn chính thức tới gia đình. Trong thư, vị đại sứ nhắc đến những đóng góp của ông đối với điện ảnh và quan hệ văn hóa Việt Nam – Liên bang Nga. Đó là sự ghi nhận đặc biệt dành cho một nghệ sĩ đã dành trọn cuộc đời cho điện ảnh.

NSND Nguyễn Thị Hiền và NSND Bùi Đình Hạc khi ở Nga. Ảnh: NVCC.
Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Hiển – Người phụ nữ dành cả đời cho nghệ thuật múa
Nếu Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc là gương mặt tiêu biểu của điện ảnh thì PGS- TS, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Hiển lại là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật biên đạo múa chuyên nghiệp ở Việt Nam.
Năm 1959, bà trúng tuyển vào Trường Múa Việt Nam và là một trong bốn học sinh đầu tiên được cử sang Học viện Nghệ thuật Sân khấu Quốc gia Moscow học chuyên ngành biên đạo múa. Sau này, bà tiếp tục bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ nghệ thuật học tại ngôi trường danh tiếng này, trở thành người phụ nữ duy nhất của ngành múa Việt Nam đạt học vị tiến sĩ nghệ thuật học và được phong học hàm Phó Giáo sư.

Biên đạo Nguyễn Thị Hiển dựng tiết mục múa cho diễn viên Chu Thuý Quỳnh. Cả hai sau này đều là NSND. Ảnh: GĐCC
Hơn nửa thế kỷ hoạt động nghệ thuật, bà ghi dấu ấn ở cả ba lĩnh vực sáng tác, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tính đến năm 2012, bà đã đào tạo 9 Nghệ sĩ Nhân dân và 30 Nghệ sĩ Ưu tú cho ngành múa Việt Nam.
Một trong những đóng góp quan trọng của bà là biên soạn cuốn Nghệ thuật Biên đạo múa, giáo trình đào tạo đại học đầu tiên dành cho ngành biên đạo múa ở Việt Nam. Công trình này được xem là tài liệu nền tảng cho nhiều thế hệ sinh viên nghệ thuật. Trong sự nghiệp sáng tác, bà có nhiều tác phẩm nổi bật, trong đó các tác phẩm Hoa phong lan trên đỉnh Truông Bồn, Xuân về trên bản Khơ Mú và Bức tranh thôn nữ đã giúp bà được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2022.
Đằng sau những thành công đó là không ít hy sinh thầm lặng. Năm 1967, khi chỉ còn vài ngày nữa sinh con trai đầu lòng, bà vẫn miệt mài dàn dựng vở múa Trừ Văn Thố. Đúng thời điểm ấy, chồng bà nhận nhiệm vụ vào tuyến lửa Quảng Bình để cộng tác với đạo diễn người Hà Lan Joris Ivens thực hiện bộ phim Vĩ tuyến 17: Chiến tranh nhân dân.

NSND Nguyễn Thị Hiển thời trẻ. Ảnh: Gia đình cung cấp
Tin tưởng và ủng hộ chồng lên đường làm nghề, bà một mình sinh con trong điều kiện vô cùng thiếu thốn tại một trạm xá nhỏ không điện, không dầu, không sữa. Hơn ba tháng sau, ông Bùi Đình Hạc mới trở về sau khi hoàn thành công việc.
Nhiều năm sau, nhắc lại quãng thời gian ấy, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Hiển vẫn xem đó là một trong những giai đoạn khó khăn nhất cuộc đời. Nhưng cũng chính từ những hy sinh ấy, nghệ thuật đã được nuôi dưỡng bằng tình yêu nghề và sự cống hiến không mệt mỏi.
Năm 2001, bà được trao Giải thưởng Nhà nước. Hai thập kỷ sau, Giải thưởng Hồ Chí Minh đã ghi nhận những đóng góp bền bỉ của bà đối với nghệ thuật múa Việt Nam.
Hiện nay, dù đã ngoài 80 tuổi và sức khỏe giảm sút, bà vẫn duy trì thói quen đọc sách, nghiên cứu tài liệu. Công việc khiến bà dành nhiều tâm huyết nhất là cùng con trai hoàn thiện cuốn sách về cuộc đời và sự nghiệp của cố Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc như một cách lưu giữ những giá trị mà ông để lại cho điện ảnh Việt Nam.

Gia đình NSND Bùi Đình Hạc - NSND Nguyễn Thị Hiển. Ảnh: NVCC
Hai con người, hai lĩnh vực nghệ thuật khác nhau nhưng cùng chung một lý tưởng cống hiến. Việc cả Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc và Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Hiển đều được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh là minh chứng cho những đóng góp xuất sắc của họ đối với nền văn hóa nghệ thuật nước nhà.
Tiếp nối truyền thống gia đình, con trai của họ là đạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Bùi Trung Hải cũng theo đuổi con đường điện ảnh, được đào tạo tại Nga, thực tập tại Pháp và nhận học bổng Fulbright của Chính phủ Mỹ. Hiện ông là Phó Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn phim của Liên hoan phim Quốc tế Hà Nội 2026.
Hai thế hệ gắn bó với nghệ thuật, nhưng trên hết, điều khiến gia đình này trở nên đặc biệt chính là sự tận tụy với nghề, sự hy sinh thầm lặng và tình yêu dành cho nghệ thuật được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo danviet.vn