Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã chia sẻ với PV Dân Việt như vậy trước việc Bộ Y tế đề xuất hướng dẫn người từ 40 tuổi chuẩn bị cho tuổi già. Đây là đề xuất đúng hướng, có cơ sở khoa học và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh.
"Chuẩn bị cho tuổi già không thể bắt đầu khi một người đã già"
Mới đây, Bộ Y tế đề xuất người từ 40 tuổi trở lên sẽ nhận được tài liệu, hướng dẫn và tập huấn về duy trì lối sống lành mạnh, rèn luyện sức khỏe, lập kế hoạch tài chính cũng như lựa chọn việc làm phù hợp với tuổi tác. Bà đánh giá thế nào về đề xuất này?
- Tôi cho rằng đây là một đề xuất đúng hướng, có cơ sở khoa học và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Điểm đáng ghi nhận là chính sách không chờ đến khi một người đã trở thành người cao tuổi, sức khỏe suy giảm, thu nhập hạn chế mới bắt đầu can thiệp, mà đặt vấn đề chuẩn bị cho tuổi già ngay từ tuổi trung niên.

Người cao tuổi khám sức khoẻ miễn phí tại xã Vĩnh Thanh, Hà Nội. Ảnh: G.K
Có thể nói, chuẩn bị cho tuổi già không thể bắt đầu khi một người đã già. Từ tuổi 40 trở đi, nhiều yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe bắt đầu tích lũy hoặc biểu hiện rõ hơn. Đây cũng là giai đoạn mỗi người phải đồng thời đảm đương nhiều trách nhiệm: chăm sóc con cái, phụng dưỡng cha mẹ cao tuổi, duy trì công việc và chuẩn bị nguồn lực cho những năm tháng sau khi nghỉ hưu. Vì vậy, việc kết hợp giữa chăm sóc sức khỏe, chuẩn bị tài chính, định hướng việc làm và trang bị kỹ năng chăm sóc người thân là cách tiếp cận khá toàn diện.
Đề xuất này phù hợp với quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời; lấy người dân làm trung tâm, đồng thời đề cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng trong xây dựng lối sống lành mạnh.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, Bộ Y tế đề xuất hướng dẫn người từ 40 tuổi chuẩn bị cho tuổi già là đúng hướng, có cơ sở khoa học và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Ảnh: NVCC
Ở góc độ nhân văn, chính sách này cũng góp phần thay đổi cách nhìn về tuổi già. Tuổi già không nên chỉ được hình dung là giai đoạn bệnh tật, phụ thuộc và cần trợ giúp. Nếu được chuẩn bị tốt về sức khỏe, tâm lý, tài chính và các điều kiện xã hội, người cao tuổi vẫn có thể sống tự chủ, tiếp tục lao động phù hợp, đóng góp kinh nghiệm, tri thức cho gia đình và cộng đồng. Như vậy, mục tiêu của chính sách không chỉ là kéo dài tuổi thọ sinh học, mà quan trọng hơn là kéo dài số năm sống khỏe mạnh, có ích, hạnh phúc và có phẩm giá.
Tuy nhiên, tuổi 40 nên được xem là một mốc định hướng để bắt đầu quá trình chuẩn bị chứ không phải một ranh giới y học cứng nhắc. Mỗi người có thể trạng, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình và nguy cơ bệnh tật khác nhau. Do đó, nội dung hướng dẫn cần được phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe và điều kiện sống, thay vì xây dựng một bộ tài liệu giống nhau cho tất cả mọi người.
Có nhiều ý kiến cho rằng, mặc dù tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng nhưng chất lượng sức khỏe vẫn còn hạn chế. Nhiều người phải sống những năm cuối đời trong bệnh tật, dẫn đến chi phí chăm sóc y tế ngày càng tăng, gây áp lực lên quỹ bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước. Bà thấy nhận định này có đúng với thực tế không, vì sao?
- Theo tôi, nhận định về khoảng cách giữa tuổi thọ trung bình và số năm sống khỏe mạnh là có cơ sở thực tiễn. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, kiểm soát dịch bệnh, giảm tử vong mẹ và trẻ em, mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế và nâng cao tuổi thọ. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đó, chúng ta đang phải đối diện với sự gia tăng nhanh của các bệnh không lây nhiễm, tình trạng một người mắc đồng thời nhiều bệnh mạn tính và nhu cầu chăm sóc dài hạn ngày càng lớn.

Bệnh viện Đa khoa y học cổ truyền Hà Nội tổ khám sức khoẻ cho người dân. Ảnh: G.K
Điều đáng quan tâm không chỉ là người dân sống được bao nhiêu năm, mà trong số những năm sống thêm đó, có bao nhiêu năm họ thực sự khỏe mạnh, tự chủ và có khả năng tham gia các hoạt động xã hội. Nếu tuổi thọ tăng nhưng nhiều năm cuối đời phải sống chung với bệnh tật, suy giảm chức năng hoặc phụ thuộc vào người chăm sóc thì chất lượng tuổi thọ vẫn còn hạn chế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này:
Trước hết, mô hình bệnh tật ở Việt Nam đã thay đổi rõ rệt. Các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, đái tháo đường, bệnh hô hấp mạn tính, xương khớp và rối loạn chuyển hóa ngày càng phổ biến. Đây là những bệnh thường kéo dài nhiều năm, đòi hỏi phải theo dõi thường xuyên, sử dụng thuốc lâu dài và có nguy cơ gây biến chứng, tàn tật hoặc suy giảm khả năng tự chăm sóc.
Thứ hai, nhận thức và thói quen phòng bệnh của một bộ phận người dân chưa được hình thành vững chắc. Không ít người chỉ đến cơ sở y tế khi đã có triệu chứng rõ ràng hoặc bệnh đã tiến triển. Trong khi đó, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu và một số bệnh ung thư có thể diễn biến âm thầm trong thời gian dài. Nếu được khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc và phát hiện sớm, nhiều bệnh có thể được kiểm soát hiệu quả hơn, giảm biến chứng và giảm đáng kể chi phí điều trị.
Thứ ba, năng lực y tế cơ sở, y tế dự phòng và quản lý bệnh mạn tính tại cộng đồng ở một số nơi còn hạn chế. Việc quản lý sức khỏe theo vòng đời, theo dõi liên tục các chỉ số sức khỏe và phối hợp giữa các tuyến chưa thực sự đồng bộ. Vì vậy, người dân vẫn có xu hướng vượt tuyến, tập trung lên các bệnh viện lớn, làm gia tăng chi phí xã hội và gây quá tải cho hệ thống y tế.
Gánh nặng của bệnh tật không chỉ thể hiện ở chi phí khám, chữa bệnh. Khi một người mắc bệnh kéo dài, họ có thể bị giảm khả năng lao động, giảm thu nhập, phải nghỉ việc sớm; người thân cũng phải dành thời gian, công sức và thậm chí từ bỏ một phần cơ hội nghề nghiệp để chăm sóc. Như vậy, gánh nặng được chuyển từ người bệnh sang gia đình, doanh nghiệp, quỹ bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước.
Đằng sau các con số về tài chính còn là chất lượng cuộc sống, sự tự chủ và phẩm giá của con người. Vì vậy, đầu tư cho phòng bệnh, phát hiện sớm và chuẩn bị cho tuổi già không phải là một khoản chi đơn thuần, mà là đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực, cho an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
Giúp mỗi người chuẩn bị để bước vào tuổi già một cách chủ động
Hiện nay, nhiều người vẫn có những thói quen không tốt như sử dụng nhiều rượu, bia, ăn uống thiếu khoa học, ít tập thể dục... Những thói quen này ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe, thưa bà?
- Những thói quen này có tác động rất lớn đến sức khỏe, nhưng nguy hiểm ở chỗ hậu quả thường không xuất hiện ngay lập tức mà tích lũy âm thầm trong nhiều năm. Khi bệnh biểu hiện rõ, nhiều tổn thương đã trở thành mạn tính hoặc khó có thể hồi phục hoàn toàn.

Người cao tuổi được khám sức khoẻ tại Hà Nội. Ảnh: G.K
Lạm dụng rượu, bia không chỉ gây tổn thương gan mà còn làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, đột quỵ, một số bệnh ung thư, rối loạn tâm lý, tai nạn giao thông và nhiều hệ lụy xã hội khác. Ăn quá mặn, nhiều đường, nhiều chất béo không có lợi, thiếu rau xanh và trái cây làm gia tăng nguy cơ thừa cân, béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa. Ít vận động làm suy giảm chức năng tim, phổi, cơ và xương; tăng nguy cơ loãng xương, mất khối cơ, béo phì, trầm cảm và suy giảm khả năng vận động khi về già.
Đáng lưu ý, những thói quen này thường có tính cộng hưởng. Một người vừa sử dụng nhiều rượu, bia, vừa ăn uống không hợp lý, ít vận động và thiếu ngủ sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nhiều so với người chỉ có một yếu tố nguy cơ đơn lẻ.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên chỉ quy toàn bộ trách nhiệm cho từng cá nhân. Một người khó duy trì lối sống lành mạnh nếu nơi họ sống thiếu không gian đi bộ và luyện tập; thời gian làm việc kéo dài; thực phẩm không có lợi cho sức khỏe lại dễ tiếp cận hơn thực phẩm lành mạnh; hoặc việc sử dụng rượu, bia vẫn được xem như một chuẩn mực trong giao tiếp và quan hệ xã hội.
Vì vậy, xây dựng văn hóa sức khỏe phải tác động đồng thời vào nhận thức cá nhân và môi trường sống. Không thể chỉ khuyên người dân sống lành mạnh trong khi môi trường xung quanh lại liên tục thúc đẩy những lựa chọn không lành mạnh.
Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách kiểm soát tác hại của thuốc lá, rượu, bia; kiểm soát quảng cáo và chất lượng thực phẩm; phát triển không gian công cộng, thiết chế văn hóa, thể thao; đồng thời xây dựng môi trường lao động khuyến khích vận động, nghỉ ngơi hợp lý và chăm sóc sức khỏe tinh thần.
Bà có kiến nghị hay giải pháp gì để đề xuất này được triển khai hiệu quả?
- Tôi cơ bản đồng tình với đề xuất, nhưng để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, cần quan tâm một số vấn đề.
Trước hết, chương trình phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn, có sự tham gia của các chuyên gia về y tế dự phòng, lão khoa, dinh dưỡng, tâm lý, phục hồi chức năng, lao động, bảo hiểm xã hội và tài chính cá nhân. Bộ Y tế có thể giữ vai trò đầu mối về chuyên môn sức khỏe, nhưng các nội dung về việc làm, bảo hiểm, tiết kiệm, an sinh xã hội và chăm sóc người cao tuổi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều bộ, ngành.

Theo bà Nga, nên tổ chức thí điểm tại một số địa phương đại diện cho đô thị, nông thôn, miền núi và khu công nghiệp trước khi nhân rộng. Ảnh: G.K
Thứ hai, không nên hiểu việc thực hiện chính sách chỉ là biên soạn tài liệu rồi phát cho người dân hoặc tổ chức một số lớp tập huấn. Tài liệu chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, chẳng hạn như đánh giá nguy cơ sức khỏe, tư vấn chế độ dinh dưỡng và vận động, khám sàng lọc, lập và quản lý hồ sơ sức khỏe, hướng dẫn tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chuẩn bị nguồn tài chính và lựa chọn công việc phù hợp với từng giai đoạn của cuộc đời.
Chương trình cần được kết nối chặt chẽ với chủ trương khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm bệnh tật, quản lý sức khỏe theo vòng đời và nâng cao năng lực y tế cơ sở. Trạm y tế cấp xã phải từng bước trở thành nơi người dân được tư vấn thường xuyên, theo dõi các chỉ số sức khỏe, quản lý bệnh mạn tính và hướng dẫn chăm sóc tại nhà, chứ không chỉ là nơi người dân tìm đến khi đã mắc bệnh.
Thứ ba, cần thiết kế các gói hướng dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Người lao động trực tiếp, công nhân khu công nghiệp, nông dân, cán bộ văn phòng, phụ nữ trung niên, người làm nghề tự do hay người đã có bệnh nền sẽ có nhu cầu rất khác nhau. Đặc biệt, phải có hình thức hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, người ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và những người ít có khả năng tiếp cận công nghệ, tránh để một chính sách tốt lại vô tình làm gia tăng khoảng cách giữa các nhóm dân cư.

Người dân đăng ký khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cơ sở 2 sáng 4/8. Ảnh: G.K
Bên cạnh trách nhiệm của Nhà nước và hệ thống y tế, nhận thức và ý thức chủ động của mỗi người dân cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi không nên chỉ bắt đầu khi cha mẹ, ông bà đã mắc bệnh hoặc suy giảm khả năng tự chăm sóc, mà cần được tìm hiểu và chuẩn bị từ sớm. Mỗi người cần chủ động trang bị kiến thức về dinh dưỡng, vận động, sức khỏe tinh thần, sử dụng thuốc an toàn, phòng ngừa té ngã, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường và cách chăm sóc người mắc bệnh mạn tính.
Các thành viên trong gia đình cũng cần biết lắng nghe, tôn trọng nhu cầu, tâm lý, đời sống riêng và quyền tự quyết của người cao tuổi. Chăm sóc không có nghĩa là quyết định thay mọi việc, càng không nên coi người cao tuổi chỉ là đối tượng thụ hưởng hoặc phụ thuộc. Người cao tuổi cần được tạo điều kiện tham gia quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tài chính và cuộc sống của mình.
Khi người dân có kiến thức và kỹ năng, việc chăm sóc sẽ khoa học hơn, hạn chế tình trạng xử lý hoàn toàn theo kinh nghiệm, tự ý dùng thuốc hoặc tin theo những thông tin thiếu kiểm chứng trên mạng xã hội. Chủ động tìm hiểu cách chăm sóc người cao tuổi từ sớm không chỉ là sự chuẩn bị cho tương lai của chính mỗi người, mà còn là biểu hiện của trách nhiệm, tình yêu thương và văn hóa gia đình trong một xã hội đang già hóa nhanh chóng.
Thứ tư, cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng thông tin và đội ngũ thực hiện. Chương trình không được biến thành cơ hội quảng cáo thực phẩm chức năng, dịch vụ xét nghiệm, chăm sóc sức khỏe hoặc các sản phẩm tài chính thiếu minh bạch. Những khuyến nghị về sức khỏe phải dựa trên bằng chứng khoa học, được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, cập nhật định kỳ và trình bày bằng ngôn ngữ dễ hiểu đối với người dân.
Thứ năm, nên tổ chức thí điểm tại một số địa phương đại diện cho đô thị, nông thôn, miền núi và khu công nghiệp trước khi nhân rộng. Hiệu quả của chương trình phải được đo bằng những thay đổi thực chất như tỷ lệ người được sàng lọc, mức độ vận động thể lực, tỷ lệ kiểm soát huyết áp và đường huyết, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc, mức độ tham gia bảo hiểm xã hội và khả năng tự chủ của người cao tuổi; không nên chỉ tính số tài liệu đã phát hoặc số lớp tập huấn đã tổ chức.
Về lâu dài, cần hình thành một hệ sinh thái hỗ trợ người dân sống khỏe và già hóa chủ động: có không gian công cộng để tập luyện; môi trường làm việc lành mạnh; hệ thống y tế cơ sở đủ năng lực; dịch vụ chăm sóc dài hạn và phục hồi chức năng phù hợp; chính sách việc làm linh hoạt cho người trung niên và người cao tuổi; đồng thời kiểm soát hiệu quả thuốc lá, rượu, bia và các sản phẩm có hại cho sức khỏe.
Tôi cho rằng mục tiêu cuối cùng của đề xuất không phải là làm cho người dân lo sợ tuổi già, mà là giúp mỗi người chuẩn bị để bước vào tuổi già một cách chủ động, bình an và có phẩm giá. Một xã hội tiến bộ không chỉ được đo bằng việc người dân sống bao lâu, mà còn phải được đo bằng việc họ sống khỏe mạnh, tự chủ, được tôn trọng và hạnh phúc như thế nào trong những năm tháng ấy.
Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của bà!
Theo danviet.vn