Đó là chia sẻ của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội trong cuộc trao đổi với PV Dân Việt. Bà Nga nhấn mạnh, việc sửa đổi luật là cần thiết, nhưng phải được thực hiện một cách tổng thể, không chỉ nhằm gia tăng số lượng tạng hiến mà còn phải củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ đầy đủ quyền con người.
Đề xuất sửa đổi Luật Hiến ghép mô tạng: "Không chỉ nhằm gia tăng số lượng"
Mới đây, Trung tâm Điều phối Ghép tạng Quốc gia cho biết, số ca hiến tạng từ người chết não đang tăng rõ rệt. Từ những con số trên, bà đánh giá thế nào về sự thay đổi tư duy, nhận thức của người dân hiện nay?
- Trước hết, tôi cho rằng đây là một tín hiệu rất đáng mừng, không chỉ đối với ngành y tế mà còn đối với đời sống xã hội. Từ 41 trường hợp người chết não hiến tạng năm 2024, tăng lên 66 trường hợp năm 2025 và đạt 46 trường hợp tính đến đầu tháng 8/2026; riêng tháng 7/2026 có 8 trường hợp, mức cao nhất từ trước đến nay. Đằng sau mỗi con số là nhiều người bệnh được cứu sống, nhiều gia đình được trao lại hy vọng.

Các y bác sĩ Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội) dành một phút mặc niệm tri ân, tiễn biệt bệnh nhân hiến tạng lần cuối và tiến hành lấy mô tạng cứu sống nhiều người. Ảnh: BVCC
Điều quan trọng hơn là những con số ấy phản ánh một bước chuyển tích cực trong nhận thức xã hội. Trước đây, câu chuyện hiến mô, tạng sau khi qua đời còn khá xa lạ; nhiều người e ngại vì quan niệm truyền thống, tâm lý muốn giữ cơ thể nguyên vẹn hoặc chưa hiểu đầy đủ về chết não và quy trình hiến tạng. Đến nay, ngày càng nhiều người nhận thức rằng hiến tạng không phải là sự mất đi, mà là một cách nối dài sự sống; một người ra đi có thể đem lại cơ hội sống cho nhiều người khác.
Sự thay đổi này là kết quả tổng hợp của công tác truyền thông, sự tận tụy của đội ngũ y tế, hoạt động ngày càng chuyên nghiệp của mạng lưới tư vấn và điều phối ghép tạng, cũng như sức lan tỏa từ những câu chuyện nhân văn trong thực tế. Hình ảnh các y, bác sĩ cúi đầu tri ân người hiến, những gia đình vượt qua nỗi đau để đồng ý hiến tạng cho thấy giá trị của lòng nhân ái đang được xã hội đón nhận ngày càng sâu sắc hơn.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: NVCC
Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng để bằng lòng. Nguồn mô, tạng hiến từ người chết não vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, còn rất nhiều người bệnh đang mòn mỏi chờ ghép. Vì vậy, kết quả vừa qua cần được coi là nền tảng để tiếp tục xây dựng một văn hóa hiến tạng tự nguyện, nhân văn và bền vững.
Theo tôi, điều cốt lõi là phải củng cố niềm tin của người dân. Người dân chỉ sẵn sàng hiến tạng khi tin rằng việc xác định chết não được thực hiện nghiêm ngặt; tạng hiến được điều phối công bằng, minh bạch; không có sự mua bán, vụ lợi và nghĩa cử của người hiến cùng gia đình họ được xã hội trân trọng.
Có thể nói, một nền y học hiện đại không chỉ được đo bằng khả năng thực hiện những ca ghép tạng phức tạp, mà còn được đo bằng mức độ tin cậy, sẻ chia và sẵn sàng trao cho nhau cơ hội sống trong cộng đồng.
Một trong các chính sách được đề xuất là quy định thứ tự ưu tiên ghép mô, bộ phận cơ thể người gồm: trường hợp cấp cứu; trẻ em; người đã hiến mô, tạng khi có chỉ định ghép; người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người đã hiến tạng và người có thời gian chờ ghép lâu nhất. Bà đánh giá thế nào về chủ trương này?
- Về cơ bản, tôi đồng tình với việc luật hóa rõ ràng thứ tự ưu tiên ghép mô, tạng. Khi nguồn tạng hiến rất khan hiếm, việc lựa chọn người được ghép không thể chỉ dựa trên quyết định mang tính cá biệt, mà phải dựa trên những tiêu chí khoa học, công bằng và có thể kiểm chứng.

Sau gần 40 năm phát triển lĩnh vực ghép tạng, Việt Nam mới ghi nhận khoảng 308 trường hợp hiến tạng từ người chết não, trong khi cả nước có khoảng 40.000-50.000 bệnh nhân đang chờ ghép tạng. Ảnh: BVCC
Luật hiện hành đã đặt ra nguyên tắc bảo đảm sự hòa hợp giữa người hiến và người được ghép, đồng thời bảo đảm công bằng giữa những người chờ ghép. Thông tư số 48/2024/TT-BYT cũng đã cụ thể hóa một số nguyên tắc đăng ký và điều phối tạng hiến sau khi chết. Việc sửa luật lần này cần tiếp tục hoàn thiện các nguyên tắc đó ở mức chặt chẽ và minh bạch hơn.
Ưu tiên trường hợp cấp cứu là hợp lý, bởi đối với một số người bệnh, nếu không được ghép ngay thì cơ hội sống có thể không còn. Ưu tiên trẻ em cũng thể hiện tính nhân văn và chính sách bảo vệ nhóm yếu thế, bởi trẻ em còn cả tương lai phía trước, đồng thời khả năng tiếp cận nguồn tạng phù hợp thường hạn chế hơn người trưởng thành.
Đối với người đã từng hiến mô, tạng, việc dành một mức độ ưu tiên khi họ có chỉ định ghép là sự ghi nhận chính đáng đối với nghĩa cử đã thực hiện. Việc xem xét ưu tiên cho người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người hiến tạng cũng mang ý nghĩa tri ân, chia sẻ với gia đình người hiến và có thể khuyến khích sự lan tỏa của phong trào hiến tạng.
Tuy nhiên, tôi cho rằng quy định này cần được thiết kế hết sức thận trọng. Việc ưu tiên cho người thân của người hiến không nên bị hiểu thành một sự “đổi lại quyền lợi” hoặc biến nghĩa cử hiến tạng thành quan hệ có tính trao đổi. Đây chỉ nên là một tiêu chí nhân văn được xem xét sau các điều kiện bắt buộc về chuyên môn, cấp cứu và mức độ phù hợp giữa người hiến với người nhận.
Tương tự, thời gian chờ ghép lâu nhất là tiêu chí bảo đảm công bằng, nhưng không thể là tiêu chí duy nhất. Một người chờ lâu nhưng không còn đáp ứng điều kiện chuyên môn hoặc không tương thích với tạng hiến thì không thể được lựa chọn chỉ vì thời gian chờ. Vì vậy, luật cần khẳng định rõ: mọi thứ tự ưu tiên chỉ được áp dụng sau khi đã đáp ứng các tiêu chí y khoa về tương thích, khả năng thành công của ca ghép và mức độ an toàn đối với người nhận.
Khái niệm “trường hợp cấp cứu” cũng phải được định lượng bằng tiêu chí chuyên môn cụ thể, tránh tình trạng mỗi cơ sở y tế hiểu và áp dụng khác nhau. Việc xác lập thứ tự người nhận phải được thực hiện trên hệ thống dữ liệu quốc gia, hạn chế tối đa sự can thiệp chủ quan của cá nhân hoặc cơ sở ghép.
Tôi cho rằng nguyên tắc xuyên suốt phải là: tạng hiến được trao cho người phù hợp nhất về chuyên môn, cần thiết nhất về cấp cứu và công bằng nhất về cơ hội tiếp cận. Danh sách chờ ghép và quá trình điều phối cần được số hóa, lưu vết, kiểm tra và giám sát độc lập. Chỉ khi bảo đảm được điều đó, chính sách ưu tiên mới thực sự tạo thêm niềm tin cho người hiến, gia đình người hiến và toàn xã hội.
Mở rộng cơ hội, sự sống cho nhiều cuộc đời
Dự thảo đề xuất tiếp nhận mô, tạng từ người hiến là trẻ em dưới 18 tuổi nếu trước khi qua đời người đó có ý nguyện và được gia đình đồng thuận. Bà thấy đề xuất này có hợp lý không, vì sao?
- Tôi cho rằng có thể xem xét cho phép tiếp nhận mô, tạng của trẻ em dưới 18 tuổi sau khi các em qua đời, nhưng phải đi kèm những điều kiện pháp lý, y khoa và đạo đức đặc biệt chặt chẽ.
Trước hết, cần phân biệt rõ đây là việc hiến mô, tạng sau khi trẻ đã được xác định qua đời, không phải việc lấy bộ phận cơ thể không tái sinh từ một trẻ em đang sống. Luật hiện hành quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, mới có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình; vì vậy, việc mở rộng đối tượng hiến sau khi chết đối với người dưới 18 tuổi là vấn đề mới, cần được quy định rõ trong luật.

Bà Nga cho rằng, có thể xem xét cho phép tiếp nhận mô, tạng của trẻ em dưới 18 tuổi sau khi các em qua đời, nhưng phải đi kèm những điều kiện pháp lý, y khoa và đạo đức đặc biệt chặt chẽ. Ảnh: BVCC
Về mặt nhân văn, đề xuất này có cơ sở. Trong thực tế, nhiều trẻ em mắc bệnh suy tạng đang cần được ghép nhưng khó tìm được nguồn tạng phù hợp về kích thước, chỉ số sinh học và các điều kiện chuyên môn khác. Mô, tạng hiến từ trẻ em có thể tạo thêm cơ hội sống cho những bệnh nhi đang chờ ghép. Bộ Y tế cũng xác định việc mở rộng độ tuổi người hiến là một trong những chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn về nguồn tạng, nhất là đối với trẻ em.
Tuy nhiên, trẻ em là nhóm cần được bảo vệ đặc biệt. Ý nguyện của trẻ phải được xem xét phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của từng em; không thể chỉ dựa trên một lời kể chung chung hoặc suy đoán của người khác. Luật cần quy định cách thức ghi nhận và xác thực ý nguyện đó, chẳng hạn bằng văn bản, dữ liệu đăng ký hợp pháp hoặc hình thức thể hiện đáng tin cậy khác.
Bên cạnh ý nguyện của trẻ, phải có sự đồng thuận bằng văn bản của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp. Gia đình phải được tư vấn đầy đủ, khách quan và có thời gian cần thiết để suy nghĩ; tuyệt đối không được gây áp lực trong thời điểm họ đang chịu mất mát lớn.
Việc xác định chết não hoặc chết tuần hoàn phải được tiến hành độc lập, theo quy trình nghiêm ngặt và hoàn toàn tách biệt với quyết định lấy, ghép tạng. Nhóm bác sĩ điều trị, hội đồng xác định tình trạng tử vong và ê-kíp ghép tạng phải có sự độc lập cần thiết nhằm loại trừ mọi xung đột lợi ích. Chỉ sau khi các biện pháp cứu chữa đã được thực hiện đầy đủ và việc tử vong đã được xác định theo đúng pháp luật thì vấn đề hiến tạng mới được đặt ra.
Đồng thời, mọi thông tin liên quan đến người hiến là trẻ em phải được bảo mật; việc điều phối phải thực hiện qua hệ thống quốc gia; nghiêm cấm tuyệt đối việc môi giới, thương mại hóa hoặc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của gia đình.
Như vậy, tôi đồng tình về chủ trương nhưng cho rằng không nên chỉ quy định ngắn gọn rằng “có ý nguyện và được gia đình đồng thuận”. Luật cần thiết lập một hàng rào bảo vệ đủ mạnh để vừa tôn trọng ý nguyện nhân văn của trẻ, vừa bảo đảm lợi ích tốt nhất, nhân phẩm và quyền của trẻ em.
Qua dự thảo trên, bà có chia sẻ, kiến nghị gì thêm?
- Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được ban hành từ năm 2006. Sau gần 20 năm thực hiện, nhiều điều kiện về khoa học, kỹ thuật, tổ chức hệ thống y tế và nhận thức xã hội đã thay đổi. Vì vậy, việc sửa đổi luật là cần thiết, nhưng phải được thực hiện một cách tổng thể, không chỉ nhằm gia tăng số lượng tạng hiến mà còn phải củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ đầy đủ quyền con người.
Trước hết, luật cần tiếp tục khẳng định ba nguyên tắc nền tảng: tự nguyện, phi thương mại và công khai, minh bạch. Tạng hiến là vô giá; mọi hành vi mua bán, môi giới hoặc lợi dụng việc hiến tạng để trục lợi phải bị phát hiện và xử lý nghiêm. Việc hoàn thiện pháp luật phải luôn đi cùng với các biện pháp phòng ngừa nguy cơ thương mại hóa.

Bác sĩ tiến hành lấy giác mạc của người hiến trao cơ hội nhìn thấy ánh sáng cho nhiều người khác. Ảnh: BVCC
Thứ hai, cần hoàn thiện quy định về xác định chết não, bổ sung cơ sở pháp lý đối với hiến tạng sau chết tuần hoàn và quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở y tế khi phát hiện trường hợp có tiềm năng hiến tạng. Đây là những vấn đề có thể mở rộng nguồn hiến nhưng đồng thời rất nhạy cảm, vì vậy quy trình chuyên môn, thẩm quyền quyết định và cơ chế giám sát phải được quy định cụ thể.
Thứ ba, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về người đăng ký hiến, người chờ ghép, tình trạng cấp cứu, mức độ tương thích và toàn bộ quá trình điều phối. Hệ thống phải bảo đảm khả năng kết nối giữa các bệnh viện, cập nhật theo thời gian thực, lưu vết mọi quyết định và cho phép kiểm tra, giám sát. Công nghệ không chỉ giúp điều phối nhanh hơn mà còn giúp giảm thiểu sự can thiệp chủ quan và tăng tính minh bạch.
Thứ tư, Nhà nước cần có cơ chế tài chính bền vững cho toàn bộ hoạt động phát hiện, tư vấn, hồi sức người hiến, xác định chết não, lấy, bảo quản và vận chuyển tạng. Không nên để các bệnh viện hoặc gia đình người hiến phải lúng túng về chi phí trong quá trình thực hiện một nghĩa cử có ý nghĩa xã hội đặc biệt. Bộ Y tế hiện cũng xác định cơ chế tài chính và tổ chức là một trong những nội dung quan trọng cần được tháo gỡ khi sửa luật.
Đối với người hiến khi còn sống, cần bảo đảm việc theo dõi sức khỏe lâu dài, khám định kỳ, bảo hiểm y tế và hỗ trợ cần thiết. Đối với gia đình người hiến sau khi chết, có thể có các hình thức tri ân, hỗ trợ về tinh thần và an sinh phù hợp, nhưng phải phân biệt rõ sự hỗ trợ nhân văn với việc trả tiền để đổi lấy mô, tạng.
Cuối cùng, công tác truyền thông cần được tiến hành thường xuyên, khoa học và phù hợp với văn hóa Việt Nam. Người dân cần được cung cấp kiến thức chính xác về chết não, quyền đăng ký và rút lại đăng ký hiến tạng, quy trình điều phối cũng như cơ chế bảo vệ người hiến. Truyền thông không chỉ nhằm vận động người dân đăng ký hiến, mà trước hết phải giúp họ hiểu đúng và có thể đưa ra quyết định hoàn toàn tự nguyện.
Tôi cho rằng, sửa luật lần này không chỉ là mở rộng nguồn tạng để có thêm những ca ghép thành công. Quan trọng hơn, luật phải xây dựng được một hệ thống mà trong đó mỗi quyết định hiến tạng đều được tôn trọng, mỗi tạng hiến đều được điều phối công bằng và mỗi cơ hội sống đều được trao đúng người, đúng lúc.
Nguồn tạng chỉ có thể tăng một cách bền vững khi niềm tin của xã hội cũng tăng lên tương ứng.
Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của bà!
Theo danviet.vn