Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược mở ra cách tiếp cận mới: Nhà nước đặt bài toán, viện trường phát triển công nghệ lõi, doanh nghiệp làm chủ sản phẩm và thị trường kiểm chứng, hướng tới nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Năm 2030, Việt Nam làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược
Ngày 06/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.
Chương trình đặt mục tiêu làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi.
Thông qua Chương trình, hệ sinh thái công nghệ chiến lược được định hướng hình thành với sự liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ ít nhất 4 công nghệ chiến lược.
Giai đoạn 2026-2030, Chương trình đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành; phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược. Trong đó, ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Các sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa hướng tới tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%.
Chương trình cũng đặt mục tiêu phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược thông qua việc chủ trì hoặc tham gia các nhiệm vụ thuộc Chương trình. Trong số này, tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Giai đoạn 2031-2035, mục tiêu được nâng lên với 6 công nghệ chiến lược được làm chủ và tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển, thương mại hóa. Ít nhất 15 sản phẩm sẽ được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế, với tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 40%. Tối thiểu 30 doanh nghiệp được phát triển để làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 10 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Để thực hiện các mục tiêu, Chương trình xác định 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm hoàn thiện cơ chế, chính sách; nghiên cứu, phát triển sản phẩm; hỗ trợ thương mại hóa và phát triển thị trường; phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế; theo dõi, đánh giá và điều phối thực hiện.
Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định cho biết, Bộ cũng ban hành các Thông tư hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý để tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Theo Thứ trưởng Định, việc triển khai công nghệ chiến lược phải đáp ứng 3 yêu cầu cốt lõi: Chuyển từ quản lý nặng về thủ tục sang quản lý theo kết quả đầu ra; Bắt đầu từ bài toán thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ; Lấy năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng thực tế làm thước đo kết quả.
Đầu tư đồng bộ hạ tầng nghiên cứu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập giai đoạn 2025-2030. Chương trình hướng tới xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đồng bộ để thúc đẩy làm chủ công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo cách tiếp cận mới, mỗi nhiệm vụ được chia thành các gói công việc, gắn với từng mốc đánh giá cụ thể. Nếu không đạt chỉ tiêu hoặc tiến độ tại các mốc này, nhiệm vụ có thể được kết thúc. Cơ chế này giúp nguồn lực được phân bổ cho những nhóm nghiên cứu và hướng phát triển có triển vọng hơn.
Cùng với quản lý theo đầu ra, Thứ trưởng Lê Xuân Định đề nghị tăng quyền tự chủ chuyên môn, giảm thủ tục hành chính và bảo đảm mức thù lao tương xứng với công sức của nhà khoa học, nhất là ở những hướng nghiên cứu chuyên sâu hoặc lĩnh vực đang khan hiếm nhân lực.
Kết nối doanh nghiệp công nghệ chiến lược với đại học, viện nghiên cứu
Theo Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo, Quyết định 1091/QĐ-TTg ngày 17/6/2026 về Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước xác định doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trong từng bước làm chủ công nghệ cốt lõi, công nghệ nền tảng và công nghệ chiến lược.
Để triển khai Đề án, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp các bộ, ngành, địa phương xác định các nhiệm vụ trọng điểm, bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, gắn với nhu cầu thực tiễn và khả năng tạo ra các sản phẩm, nền tảng, dịch vụ công nghệ chiến lược của Việt Nam.
Bộ thúc đẩy mô hình liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học. Trong đó, Nhà nước định hướng, đặt hàng, hỗ trợ thử nghiệm và tạo thị trường đầu ra; doanh nghiệp chủ trì phát triển sản phẩm, triển khai ứng dụng và thương mại hóa; viện nghiên cứu, trường đại học tập trung nghiên cứu công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển giao kết quả nghiên cứu, sáng chế.
Các bên sẽ tăng cường đồng nghiên cứu, đồng phát triển, thử nghiệm sản phẩm; kết nối với Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, các quỹ đầu tư và đối tác trong nước, quốc tế nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Kết nối doanh nghiệp công nghệ chiến lược với viện, trường để làm chủ công nghệ lõi và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Định hướng này phù hợp tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở giáo dục, nghiên cứu với doanh nghiệp và nhu cầu phát triển của nền kinh tế; đồng thời phát huy vai trò của trường đại học trong đào tạo nhân lực, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.
Bên cạnh doanh thu và nhân lực, Bộ dự kiến đánh giá năng lực "làm chủ công nghệ" dựa trên các tiêu chí thực chất như năng lực R&D; khả năng làm chủ công nghệ cốt lõi, công nghệ nền tảng; sở hữu sáng chế, bản quyền phần mềm, dữ liệu, mô hình và các tài sản công nghệ; năng lực triển khai sản phẩm ở quy mô lớn và dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Với AI, doanh nghiệp sẽ được đánh giá về năng lực làm chủ mô hình, dữ liệu huấn luyện, năng lực tính toán, độ chính xác, an toàn, khả năng giải thích và ứng dụng trên dữ liệu Việt Nam. Với blockchain, tiêu chí tập trung vào năng lực làm chủ nền tảng, giao thức, cơ chế đồng thuận, bảo mật, định danh, khả năng mở rộng và liên thông.
Thông qua liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học, Đề án hướng tới rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, tạo động lực phát triển doanh nghiệp công nghệ lớn, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực chiến lược.
Theo danviet.vn
https://danviet.vn/do-cong-nghe-chien-luoc-bang-san-pham-va-kha-nang-lam-chu-d1450546.html