Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn FDI của Bộ Chính trị buộc các địa phương phải thay đổi tư duy quản trị, cạnh tranh bằng hệ sinh thái và khả năng đồng hành cùng nhà đầu tư trong thu hút FDI thế hệ mới.
Thu hút dòng vốn FDI từ lợi thế chi phí sang lợi thế thể chế
Nghị quyết số 10-NQ/TW (Nghị quyết 10) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là bước tiến quan trọng trong định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI của Việt Nam.
Trong đó, mục tiêu thu hút khoảng 200 - 300 tỷ USD vốn FDI đăng ký trong giai đoạn 2026 - 2030.
Nghị quyết 10 xác định đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và phát triển bền vững làm tiêu chí chủ yếu trong thu hút đầu tư.
Với trọng tâm chuyển sang lựa chọn dòng vốn chất lượng cao, tạo giá trị gia tăng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chiến lược này cũng đặt các địa phương vào một cuộc cạnh tranh mới đòi hỏi năng lực quản trị, chất lượng môi trường đầu tư và khả năng kiến tạo hệ sinh thái phát triển sẽ trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của mỗi địa phương trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong nửa đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm 2025.
Đặc biệt, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm qua.

Nguồn: Cục Thống kê
Trong hơn 3 thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực nhờ vị trí địa lý thuận lợi, môi trường chính trị ổn định, lực lượng lao động cạnh tranh và mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng khắp.
Tuy nhiên, trong bối cảnh các quốc gia đều có khả năng đưa ra các chính sách ưu đãi tương đồng, dư địa cạnh tranh bằng chi phí đang ngày càng thu hẹp.
Đặc biệt, sự xuất hiện của thuế tối thiểu toàn cầu cùng quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng quốc tế đang khiến các tập đoàn đa quốc gia thay đổi cách tiếp cận trong lựa chọn địa điểm đầu tư.
Theo phân tích của các chuyên gia, các nhà đầu tư hiện nay không chỉ đánh giá một quốc gia dựa trên mức ưu đãi thuế hay chi phí sản xuất. Những yếu tố như tính minh bạch của môi trường đầu tư, khả năng dự báo chính sách, hiệu quả thực thi pháp luật, mức độ bảo vệ quyền tài sản và chất lượng quản trị quốc gia đang ngày càng đóng vai trò quyết định trong các quyết định đầu tư dài hạn.
Ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Bộ phận Tư vấn Đầu tư Savills Việt Nam cho rằng, trong giai đoạn mới, lợi thế cạnh tranh bền vững của một nền kinh tế không còn nằm ở mức ưu đãi cao hơn đối thủ, mà nằm ở khả năng tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư.

Ông Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Bộ phận Tư vấn Đầu tư Savills Việt Nam.
"Niềm tin đó được hình thành từ sự ổn định chính sách, tính nhất quán trong thực thi và khả năng bảo vệ hiệu quả các quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp. Đây cũng là lý do những cam kết về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu tài sản, bảo vệ vốn đầu tư và nguyên tắc không áp dụng hồi tố theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp trong Nghị quyết 10 nhận được sự quan tâm đặc biệt từ cộng đồng đầu tư quốc tế", ông Khương nhận định.
Trong nền kinh tế tri thức, tài sản có giá trị lớn nhất của doanh nghiệp không chỉ là nhà máy hay máy móc, mà còn là công nghệ, dữ liệu, thương hiệu, thuật toán và bí quyết sản xuất. Khi những tài sản vô hình này được bảo vệ tốt hơn, các tập đoàn quốc tế sẽ có thêm cơ sở để chuyển giao công nghệ, mở rộng hoạt động nghiên cứu và triển khai các dự án có hàm lượng đổi mới sáng tạo cao tại Việt Nam.
Từ thu hút dòng vốn sang thu hút công nghệ, tri thức và hệ sinh thái đầu tư
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhận định, trước làn sóng dịch chuyển của dòng vốn FDI toàn cầu hướng tới chất lượng và hàm lượng công nghệ, việc thay đổi tư duy quản lý và kiến tạo không gian phát triển mới tại Việt Nam đã trở thành yêu cầu cấp bách.
Theo PSG.TS Nguyễn Thường Lạng, để làm được điều này, Trung ương cần mạnh dạn phân cấp, phân quyền, trao quyền tự chủ toàn diện để các địa phương chủ động xúc tiến đầu tư như mô hình Hà Nội từng vận dụng thành công.
Mỗi vùng đất phải có quyền tự thiết kế các cơ chế ưu đãi đặc thù, theo đúng lợi thế cạnh tranh của từng ngành kinh tế mũi nhọn tại địa phương mình.
"Chỉ khi mở rộng không gian phát triển ra quy mô liên vùng, Việt Nam mới tạo ra đủ dư địa, hệ sinh thái phụ trợ và quy mô thị trường để hấp dẫn các tập đoàn đa quốc gia, các thể chế tài chính toàn cầu rót vốn vào các siêu dự án tổ hợp trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ USD", ông Lạng nhấn mạnh.
Theo Savills Việt Nam, một trong những điểm nổi bật nhất của Nghị quyết 10 là định hướng chuyển trọng tâm từ thu hút dòng vốn sang thu hút các nguồn lực tạo ra năng suất dài hạn cho nền kinh tế.

Dự án trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo đầu tiên tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư khoảng 2,1 tỷ USD đang xây dựng tại khu công nghiệp Tân Phú Trung (xã Củ Chi, TP.HCM). Ảnh: Hạnh Phúc
Danh mục các lĩnh vực ưu tiên bao gồm bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng, logistics hiện đại và nhiều ngành công nghệ cao khác.
Đồng thời, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút các trung tâm R&D, trung tâm dữ liệu, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm điều hành khu vực và các dịch vụ dùng chung của các tập đoàn đa quốc gia.
Ông Sử Ngọc Khương cho rằng, định hướng này phản ánh tham vọng nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
"Nếu trước đây lợi thế chủ yếu đến từ năng lực sản xuất và lắp ráp, thì trong giai đoạn tới, giá trị gia tăng sẽ ngày càng tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, quản trị dữ liệu, phát triển sản phẩm và đổi mới sáng tạo. Đây là những mắt xích tạo ra giá trị cao nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu", ông Khương cho biết.
Bên cạnh đó, mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng của khu vực FDI cho thấy trọng tâm chính sách không còn nằm ở việc thu hút vốn đơn thuần, mà hướng đến việc nâng cao hiệu ứng lan tỏa đối với khu vực doanh nghiệp trong nước. Đây là điều kiện quan trọng để nền kinh tế Việt Nam từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại và giảm sự phụ thuộc vào các lợi thế chi phí truyền thống.
Ngoài ra, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và bảo đảm tính nhất quán trong thực thi chính sách giữa các cấp quản lý sẽ là những điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu thu hút các trung tâm R&D, các dự án công nghệ chiến lược và những tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới.
"Giai đoạn 2026-2030 sẽ không còn là cuộc cạnh tranh thu hút FDI về quy mô vốn, mà là cuộc cạnh tranh về chất lượng môi trường đầu tư. Nghị quyết 10 đã đặt ra một tầm nhìn rõ ràng cho giai đoạn phát triển tiếp theo, nhưng thách thức lớn nhất là biến các cam kết chính sách thành trải nghiệm thực tế của nhà đầu tư. Nếu các cải cách về thể chế, nhân lực và môi trường kinh doanh được triển khai đồng bộ, Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển từ vị thế tham gia chuỗi giá trị sang vị thế đồng kiến tạo chuỗi giá trị toàn cầu trong thập kỷ tới", ông Khương nhấn mạnh.
Theo danviet.vn