Theo kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm, giai đoạn 2026 – 2030 của tỉnh Hưng Yên, tỉnh này đặt mục tiêu đến năm 2030 có tỉ lệ đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế khai thác thương mại đạt từ 8-10%. Mỗi năm có từ 60 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa.
Các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cấp xã còn hạn chế
Theo kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm, giai đoạn 2026 – 2030 của tỉnh Hưng Yên, UBND tỉnh Hưng Yên đánh giá, giai đoạn này, khoa học và công nghệ đã được khẳng định vai trò đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, phát triển đồng thời 3 trụ cột: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trình độ nhân lực trong các ngành khoa học dần được nâng cao, số lượng đội ngũ có chuyên môn ở cấp chuyên gia ngày càng tăng; Đầu tư tài chính từ nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội cho khoa học, công nghệ gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt là trong năm 2025, 2026.
Hạ tầng nghiên cứu trong một số lĩnh vực trọng điểm như nông nghiệp, công nghệ sinh học, vật liệu, tự động hoá, y học…được tăng cường. Tiềm lực khoa học được nâng lên, quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới.
Hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo tại Hưng Yên được tăng cường với việc thành tập Trung tâm Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xây dựng Đề án thành lập Khu Công nghệ cao của tỉnh, đề án cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII)…
Bên cạnh những ưu điểm, theo UBND tỉnh Hưng Yên, hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tỉnh Hưng Yên vẫn còn có tồn tại, hạn chế.

Giữa tháng 5/2026, chủ trì cuộc họp nghe báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, ông Nguyễn Mạnh Quyền - Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên nhấn mạnh, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới, tuy nhiên, việc triển khai trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời gian qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Ảnh: T.Đạt
Cụ thể, một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quan tâm đúng mức tới phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tuy đã ban hành chương trình, kế hoạch xong việc tổ chức thực hiện còn hình thức, đặc biệt là các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cấp xã còn hạn chế.
Cùng với đó, nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo còn thiếu; cơ chế thu hút, đào tạo và bố trí nhân lực chuyên trách chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Một số cơ chế, chính sách phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa được ban hành đầy đủ, kịp thời. Ngân sách chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh đã tiệm cận mức 3% tổng chi ngân sách tỉnh, tuy nhiên việc thẩm thấu vào nền kinh tế còn khó khăn và cần nhiều thời gian,...
Hưng Yên đặt mục tiêu tổng quát, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế “2 con số”, là nền tảng bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đến năm 2030 đưa tỉnh Hưng Yên phát triển nhanh, bền vững, theo hướng công nghiệp, đô thị hiện đại, văn minh; đến năm 2035, Hưng Yên là tỉnh công nghiệp hiện đại, đáp ứng tiêu chí đô thị loại I và đến năm 2045, Hưng Yên là thành phố thông minh, sinh thái trực thuộc Trung ương.
Hệ thống đổi mới sáng tạo được phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập; hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được thúc đẩy; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực; tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực công nghiệp bán dẫn; công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp xanh, hữu cơ; logistic; năng lượng tái tạo; kinh tế biển.
Phấn đấu mỗi năm có từ 60 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, đóng góp bình quân của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030 đạt trên 50%. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) trong top 10 cả nước. Có ≥ 30% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới quy trình, mô hình kinh doanh. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo trong tổng số doanh nghiệp đạt trên 30% vào năm 2030.

Ngày 10/6/2026, UBND tỉnh Hưng Yên và Tập đoàn Viettel ký kết thỏa thuận hợp tác phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh: T.Đạt
Hưng Yên cũng đặt mục tiêu có từ 3% tổng chi ngân sách địa phương chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ưu tiên tăng dần theo yêu cầu phát triển; tỷ lệ chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 3% GRDP.
“Tỉ lệ đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế khai thác thương mại đạt từ 8-10%. Mỗi năm có từ 60 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa. Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 12 người trên một vạn dân” – kế hoạch của UBND tỉnh Hưng Yên nêu rõ.
Mặt khác, tỉnh này cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 2 vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo. Mỗi năm có từ 3 sáng chế, giải pháp hữu ích có địa chỉ tại tỉnh. Ngoài ra, mỗi năm có từ 50 bài báo khoa học ứng dụng liên quan đổi mới sáng tạo. Có từ 50% kết quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước được ứng dụng thực tiễn sau 12 tháng nghiệm thu.
Đến năm 2030, tỉnh này có trên 17 doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh, mỗi năm có thêm tối thiếu có thêm 02 doanh nghiệp khoa học và công nghệ được thành lập mới.
Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu nêu trên, UBND tỉnh Hưng Yên đã đưa ra 8 nhiệm vụ, giải pháp, gồm:
Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Huy động nguồn lực và cơ cấu chi ngân sách nhà nước; Phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nâng cao năng lực làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược, ưu tiên của tỉnh; Tăng cường liên kết giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; Định hướng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển các ngành, lĩnh vực và cuối cùng là hợp tác về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo danviet.vn