Trả lời bạn xem truyền hình ngày 10/01/2023

Thứ 3, 10.01.2023 | 09:45:25
1,170 lượt xem

LSTV - Tuần 2 Thứ ba, ngày 10 tháng 01 năm 2023

Câu 1. Ông Nông Văn Tuân, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự và trở về địa phương, vậy tôi có được Nhà nước hỗ trợ đào tạo nghề không và nếu có thì được hỗ trợ như thế nào?

Trả lời

Điều 14 Nghị định 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm quy định về đối tượng hỗ trợ đào tạo nghề như sau:

Thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội được hỗ trợ đào tạo nghề khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định 61/2015/NĐ-CP quy định về điều kiện hỗ trợ đào tạo nghề như sau:

1. Có nhu cầu đào tạo nghề trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội;

2. Chưa được hỗ trợ đào tạo nghề từ chính sách hỗ trợ đào tạo nghề khác có sử dụng nguồn kinh phí của ngân sách nhà nước kể từ ngày hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng thời theo khoản 2 Điều 2 và Điều 3 Thông tư 43/2016/TT-BLĐTBXH có quy định về nội dung và mức hỗ trợ đào tạo nghề đối với thanh niên hoàn thành nghĩa vụ công an như sau:

"Điều 2. Đối tượng áp dụng

2. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp quy định tại Điều 5 Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014; doanh nghiệp và cơ sở giáo dục đại học được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên.

Điều 3. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp cho thanh niên

1. Nội dung và mức hỗ trợ đào tạo nghề

a) Thanh niên có nhu cầu đào tạo nghề trình độ sơ cấp đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định số 61/2015/NĐ-CP mà được cơ quan có thẩm quyền cấp thẻ đào tạo nghề thì được các cơ sở giáo dục nghề nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư này tiếp nhận, tổ chức đào tạo nghề trình độ sơ cấp và chi hỗ trợ các nội dung sau:

- Chi hỗ trợ đào tạo quy định tại Điều 10 Thông tư số 152/2016/TT-BTC ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng;

- Chi hỗ trợ tiền ăn, đi lại quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 7 Thông tư số 152/2016/TT-BTC ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng.

Ưu tiên các nội dung chi hỗ trợ đào tạo trong giá trị tối đa của Thẻ, giá trị còn lại của Thẻ (nếu có) chi hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại.

b) Trường hợp tổng chi hỗ trợ đào tạo và chi hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại vượt quá giá trị tối đa của Thẻ thì người học tự chi trả phần kinh phí chênh lệch cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trường hợp tổng chi hỗ trợ đào tạo và chi hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại thấp hơn giá trị tối đa của Thẻ thì ngân sách nhà nước quyết toán số chi thực tế.

c) Trong thời gian đào tạo nghề, nếu thanh niên thôi học (không tiếp tục học cho đến khi tốt nghiệp) thì cơ sở giáo dục nghề nghiệp lập biên bản hoặc ban hành quyết định và được quyết toán chi phí hỗ trợ đào tạo và hỗ trợ tiền ăn kể từ ngày khai giảng đến ngày thanh niên đó thôi học."

Câu 2: Ông Ngô Đức Minh, trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Hành vi đánh bạc bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?

Trả lời

Đánh bạc là hành vi tham gia vào trò chơi được tổ chức bất hợp pháp mà sự thắng (hoặc thua) kèm theo việc được (hoặc mất) lợi ích vật chất đáng kể (tiền, hiện vật).

Tiền có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ; hiện vật có thể là tài sản, như: ô tô, xe máy,…Tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc là những thứ có thể thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc, trong người đánh bạc hoặc nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.

Hành vi đánh bạc được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, các hình thức đánh bạc thường thấy là chơi bài, chơi lô đề, bài tây, cá độ bóng đá, chọi gà, cá độ đua ngựa, đua xe,…

Theo đó, có thể thấy hình thức đánh bạc đa dạng, phong phú và được thực hiện với thủ đoạn tinh vi, ngụy trang trá hình dưới nhiều dạng khác nhau. Ngoài những hình thức đánh bạc truyền thống như: chơi bài, chơi lô đề,…thì tội phạm đánh bạc còn lợi dụng những tiện ích của mạng internet để tổ chức đánh bạc dưới nhiều hình thức khác nhau, nổi lên là tình trạng cá độ bóng đá qua mạng internet. Ngoài ra, tình trạng đánh bạc trực tuyến dưới vỏ bọc là các ứng dụng trò chơi game online có đổi thưởng từ tiền ảo sang tiền thật và ngược lại cũng là một trong những hình thức đánh bạc xuất hiện nhiều trong thời gian qua.

Mức xử phạt đối với tội đánh bạc

Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội đánh bạc thì khung hình phạt của tội đánh bạc được chia làm hai trường hợp sau:

– Khung hình phạt cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với những trường hợp:

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

+ Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Tái phạm nguy hiểm.

Ngoài ra, người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Có thể thấy, nếu một người đánh bạc trái phép với giá trị tài sản đánh bạc là từ 5.000.000 đồng trở lên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu đánh bạc với giá trị tài sản là dưới 5.000.000 đồng thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ dừng lại ở mức độ xử phạt hành chính, với mức phạt được quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình:

Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế, binh ấn độ 6 lá, binh xập xám 13 lá, tiến lên 13 lá, đá gà, tài xỉu hoặc các hình thức khác với mục đích được, thua bằng tiền, tài sản, hiện vật; Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép; Cá cược trái phép trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động khác”.

Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự cũng đưa ra một ngoại lệ: không phải tất cả mọi trường hợp đánh bạc lần đầu dưới 5.000.000 đồng đều không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; mà với những đối tượng mặc dù đánh bạc lần đầu nhưng trước đó đã bị xử lý bằng một trong hai hình thức: xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; đã bị kết án về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc chưa được xóa án tích, nay vẫn vi phạm thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

Tội đánh bạc sử dụng công nghệ cao

Theo quy định tại Công văn 196/TANDTC-PC ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321 (Tội Đánh bạc) và điểm c khoản 2 Điều 322 (Tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) của Bộ luật Hình sự thì:

– Tình tiết “sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” trong tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc được hiểu là sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành các chiếu bạc online…);

– Việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (nhắn tin qua điện thoại, email, zalo… để ghi số đề, lô tô) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp nêu trên.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì phạm tội thuộc trường hợp sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 còn quy định về hình thức phạt bổ sung đối với tội đánh bạc như sau: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo đó, tội đánh bạc sử dụng công nghệ cao sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Ngoài ra còn sẽ bị phạt tiền với hình thức phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng./.


  • Từ khóa