boat racing jet boat racing boat racing games offshore boat racing rc racing boat super boat racing speed boat racing speed boat racing games racing speed boats speed boat races key west boat races sprint boat racing

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án: Những khó khăn ở Đình Lập

Thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu mới của Chính phủ (Nghị định 88/NĐ-CP ngày 19/10/2009), tháng 10/2009, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành quyết định phê duyệt Dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính 46 xã thuộc huyện Hữu Lũng, Lộc Bình và Đình Lập (dự án 46 xã). Đối với huyện Đình Lập, đến nay cơ bản đã hoàn thành công tác đo đạc và lập hồ sơ địa chính thiết kế kỹ thuật - dự toán xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai. Tuy nhiên, bước tiếp đó là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) cho các cá nhân, hộ gia đình thì gặp nhiều khó khăn, tiến độ chậm so với kế hoạch đề ra.

              
                 
Hoạt động nghiệp vụ tại Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện Đình Lập
 

Là một trong 3 huyện triển khai thực hiện dự án 46 xã của tỉnh, từ đầu năm 2010, huyện Đình Lập đã triển khai công tác đo đạc ở 10 xã trên địa bàn, với bản đồ tỷ lệ 1/500 và 1/1000. Sau 3 năm thực hiện, toàn huyện đã đo đạc được 7.400 ha đất nông nghiệp và đất ở. Hiện nay, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất của huyện đã tiếp nhận các hồ sơ và đang tiến hành thẩm tra để cấp giấy CNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân. Theo báo cáo của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đình Lập, trong số 4.744 hồ sơ tiếp nhận từ các xã Bắc Xa, Châu Sơn, Cường Lợi, Kiên Mộc, huyện đã thẩm tra và cấp được 671 giấy CNQSDĐ cho các hộ; số còn lại Văn phòng đang tiến hành kiểm tra để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Như vậy, các hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy CNQSDĐ đạt thấp, do gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong khâu thẩm tra hồ sơ cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận. Nói về vấn đề này, bà Bế Thị Thúy, Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đình Lập cho biết: Trong quá trình thẩm tra hồ sơ để cấp giấy CNQSDĐ, chúng tôi thấy phần đa là chưa đủ điều kiện cấp, phải thẩm tra lại nên đã ảnh hưởng đến việc cấp giấy CNQSDĐ của bà con, chính vì vậy đã chậm tiến độ theo kế hoạch của chủ đầu tư. Những khó khăn, vướng mắc đó là, đối với đất nông nghiệp: Bản đồ giải thửa không đầy đủ, do bảo quản không cẩn thận dẫn đến làm mất, rách, nát; mặt khác do họa đồ thửa đất, hình thửa đất không định được hoặc do khai phá thêm, sạt lở đất... Vì vậy không xác định được hiện trạng các thửa đất đề nghị cấp đổi, các thửa đất cấp đổi không đúng chủ quản lý, đơn vị thi công chưa bám sát thực tế để kê khai dẫn đến kê khai đăng ký bị chồng chéo giữa cấp mới và cấp đổi; các trường hợp tặng cho, chuyển nhượng, thừa kế... không làm thủ tục theo quy định của pháp luật đất đai, mà người sử dụng đất tự kê khai cấp mới hoặc cấp đổi dẫn đến hồ sơ không đạt yêu cầu. Đối với đất ở: Các thửa đất, giữa phần diện tích đất ở và đất nông nghiệp liền kề, đơn vị thi công không đo tách riêng phần đất ở mà đo bao cả đất nông nghiệp liền kề đất ở nên diện tích thửa đất lớn, không đúng hiện trạng sử dụng. Vì vậy, khi xét cấp giấy CNQSDĐ, không biết ranh giới đất ở sử dụng đến đâu, không xác định được vị trí đất ở trên bản đồ địa chính. Nguyên nhân của những vướng mắc trên là do cán bộ địa chính ở cơ sở còn yếu nên không thẩm tra được cho đơn vị thi công; mặt khác một số đơn vị thi công năng lực chuyên môn cũng yếu nên việc đo đạc chưa sát với thực địa. Theo kế hoạch của tỉnh, đến năm 2013 sẽ tổng kết dự án 46 xã, tuy nhiên với việc cấp giấy CNQSDĐ ở Đình Lập như hiện nay thì năm 2013 sẽ chưa đảm bảo hoàn thành được 100% số hộ được nhận giấy CNQSDĐ. Để khắc phục những khó khăn trên, cùng với những nỗ lực trong việc thẩm định lại hồ sơ cấp giấy chứng nhận của phòng chuyên môn; huyện Đình Lập cũng đề nghị chủ đầu tư (Sở Tài nguyên và Môi trường) tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thi công phối hợp với huyện, thực hiện đầy đủ các thủ tục trong quá trình kê khai cấp mới, cấp đổi giấy CNQSDĐ; đề nghị đo tách đất ở đối với các thửa đất đo gộp cả đất ở và đất nông nghiệp liền kề.

   

Có thể nói, việc đưa phần mềm chuyên ngành vào sử dụng để xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tại địa phương là rất cần thiết và khoa học. Những nhóm thông tin về người sử dụng, quản lý, thửa đất; quyền sử dụng đất... sẽ được cập nhật đầy đủ, chính xác. Qua đó, đã góp phần để người sử dụng thực hiện đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ đối với đất đai, đồng thời, hạn chế được tranh chấp đất đai, tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trên bàn.

Theo baolangson.com.vn
Xem tin theo ngày

Thông tin thời tiết

Lạng Sơn22
Hà nội 24
Đà Nẵng25
Hồ Chí Minh36

CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 26/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/KINH TOI 26-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 26/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/CT TAY 26-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 26/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/CT DAO 26-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 25/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/KINH TOI 25-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 25/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/TAY 25-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 25/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/DAO 25-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 24/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/CT KIINH TOI 24-3.MP3
Chương trình Phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 24/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/CT TAY 24-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Dao ngày 24/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/CT DAO 24-3.mp3
Chương trình Phát thanh tiếng Kinh tối ngày 23/03/2015
sites/default/files/audio/2015/03/KINH TOI 23-3.mp3
Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 27/3/2015

 

6h00' : Chương trình Truyền hình Lạng Sơn

 

 

6h02' : Bản tin sáng ngày 27/3/2015

 

 

6h08' : Bản tin Quốc tế ngày 27/3/2015

 

 

6h14’: Văn bản mới, chính sách mới   Số 74

 

  

 

6h20’: Mỗi ngày một cuốn sách   Số 86

 

 

6h25’: Sức khỏe 365 ngày   Tập 113

 

 

6h35’: Chuyên mục  Đại đoàn kết toàn dân

 

 

6h45’: Chuyên mục  Khoa học công nghệ và Đời sống

 

 

6h56’: Ký sự   Hành trình theo chân Bác – P5/45

 

 

7h14’: Chuyên mục Thi đua yêu nước

 

 

7h25’: Chuyên mục Vì chủ quyền an ninh biên giới

 

 

7h37’: Khám phá thế giới  Những điều kỳ diệu của sự sống – Tập 8

 

 

8h00’: Chuyến xe nhân ái  Kỳ 146 – Thanh Bình

 

 

8h30’: Ca nhạc Việt  Quê mình quê thơ

 

9h00’: Bản tin sáng ngày 27/3/2015

 

 

9h04’: Bản tin Quốc tế ngày 27/3/2015

 

9h10’: Bản tin tiếng Trung ngày 26/3/2015

 

 

9h25’: Chuyên mục  Quốc phòng toàn dân

 

9h39’: Hành tinh thể thao ngày 27/3/2015

 

10h00’: Chương trình thời sự tổng hợp ngày 26/3/2015

 

 

10h30’: Trang THCS  Số 85

 

 

10h48’: Chuyên mục  Đảng trong cuộc sống hôm nay

 

 

10h59’: Phim truyện  Hái sao cho em - Tập 5/27 Phim HQ

 

11h45’: Bản tin trưa ngày 27/3/2015

 

 

12h00’: Phim truyện  Kế hoạch B – Tập 20/30 Phim HQ

 

12h40’: Chương trình truyền hình tương tác Play Music

 

15h00’: Bản tin chiều ngày 27/3/2015

 

 

15h15’: Phim truyện  Chuyện tình đảo Tamra – Tập 24/28 Phim HQ

 

 

15h58’: Văn bản mới, chính sách mới  Số 74

 

 

16h03’: Sức khỏe 365 ngày   Tập 80

 

 

16h14’: Chuyên mục   Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

 

 

16h24’: Chuyên mục  Chuyện thời sự

 

 

16h33’: Chương trình truyền hình tiếng Dao ngày 27/3/2015 

 

 

17h03’: Chuyên mục  An toàn giao thông

 

 

17h13’: Văn hóa vùng miền  MSĐB “Mũi Cà Mau khu sinh quyển thế giới”

 

 

17h31’: Trang THCS  Số 86

 

 

17h47’: Phim hoạt hình  Dive Olly Dive P2 – T23/52

 

 

18h00’: Mỗi ngày một cuốn sách  Số 86

 

 

18h05’: Phim truyện  Đồng tiền vô cảm – Tập 16/31 Phim HQ

 

19h49': Chương trình thời sự tổng hợp ngày 27/3/2015

 

20h14’: Bản tin trong nước ngày 27/3/2014

 

20h20’: Bản tin Quốc tế ngày 27/3/2014

 

20h25’: Bản tin thể thao ngày 27/3/2014

 

 

20h35’: Chuyên mục  Lao động và Công đoàn

 

 

20h46’: Chuyên mục  Sức khỏe và Đời sống

 

 

20h56’: Phim truyện  Chiếc giầy lọ lem - Tập 26/30 Phim VN

 

 

21h42’: Phim truyện  Kế hoạch B – Tập 21/30 Phim HQ

 

 

22h27’: Chuyên mục  Giáo dục và Đào tạo

 

22h37’: Bản tin tiếng Trung ngày 27/3/2015

 

 

22h52’: Chuyên mục  Trang truyền hình TP Lạng Sơn

 

 

23h04’: Sức khỏe 365 ngày  Tập 114

 

 

23h14’: Thăm nhà người nổi tiếng  Cẩm Vân

 

23h32’: Ca nhạc  Thơ nguyên tiêu Ất Mùi

 

 

 

 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 24  tháng 3 năm 2015

 
 

1. Bà Trần Thị Lằm, trú tại xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng hỏi: Người hành nghề mê tín dị đoan có thể bị khởi tố hình sự hay không? Pháp luật hình sự xử lý với tội này như thế nào?

 

Trả lời:

 Mê tín, dị đoan là tàn dư lạc hậu của chế độ cũ. Người mê tín, dị đoan thường có niềm tin mù quáng vào những điều duy tâm không có căn cứ khoa học, tin vào ma quỷ, thần thánh, định mệnh...

Việc hành nghề mê tín dị đoan không chỉ trực tiếp xâm hại đến trật tự xã hội, nếp sống văn minh, mà trong nhiều trường hợp còn đe dọa tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân.

Nhằm giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhân dân, Đảng, Nhà nước đã mở cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư", trong đó có nội dung đấu tranh phòng, chống và từng bước loại trừ mê tín, dị đoan ra khỏi đời sống xã hội. Đồng thời, xác định việc hành nghề mê tín, dị đoan là một tội phạm (hành vi nguy hiểm cho xã hội), quy định tại Điều 247 Bộ Luật Hình sự năm 1999, nội dung cụ thể như sau:

1. Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội làm chết người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

 

Như vậy, người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định nêu trên.

 

2. Ông Đinh Xuân Thảo, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người đi làm nghề khai thác giếng khoan có cần phải có giấy phép hay không, nếu không có giấy phép thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

Căn cứ Điều 6 Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản thì hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đăng ký, không có giấy phép theo quy định thì bị Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi khai thác nước dưới đất thuộc các trường hợp phải đăng ký mà không đăng ký theo quy định.

Tại Điều 8 quy định hành vi phạm quy định về hành nghề khoan nước dưới đất như sau:

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện báo cáo định kỳ hàng năm về khoan nước dưới đất theo quy định của Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Thi công giếng khoan không theo đúng quy trình, thiết kế kỹ thuật đã được phê duyệt gây ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng nước dưới đất;

b) Thực hiện hành nghề không đúng quy mô đã quy định trong Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất;

c) Thi công khoan thăm dò, khoan khai thác nước dưới đất cho tổ chức, cá nhân không có Giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng nước dưới đất theo quy định.

3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

a) Cho mượn, cho thuê giấy phép để hành nghề khoan nước dưới đất;

b) Hành nghề khoan nước dưới đất mà không có Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất theo quy định của pháp luật;

c) Hành nghề khoan nước dưới đất khi giấy phép đã hết hạn, trừ trường hợp đã nộp hồ sơ xin gia hạn theo quy định.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tước quyền sử dụng Giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất trong thời hạn từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng đối với hành vi vi phạm tại Điểm a Khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đối với các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2, Điểm b và Điểm c Khoản 3 Điều này mà gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng và số lượng nguồn nước.

 


Trả lời bạn nghe đ
ài Thứ ba, ngày 17  tháng 3 năm 2015

 

 

1. Bà Hà Thị Nhung, trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Lãng hỏi: Hiện nay các cơ quan nhà nước đã và đang thực hiện tốt quy chế dân chủ trong cơ quan. Vậy cụ thể về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm thì Dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị bao gồm: trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơ quan, đơn vị; những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết; những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan quyết định; những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra.

 

Mục đích thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị là Phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước; Phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

 

Yêu cầu đặt ra của việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị là: thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị phải gắn liền với việc bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ quan, đơn vị; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và của các tổ chức đoàn thể quần chúng của cơ quan, đơn vị; Dân chủ trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; kiên quyết xử lý hành vi lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức và quyền làm chủ của nhân dân, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

 

Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị bao gồm: Thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; Tổ chức các cuộc họp giao ban định kỳ, hành tháng, hành quý và 06 tháng để đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao và đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phải thực hiện trong thời gian tới của cơ quan, đơn vị. Cuối năm, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải đánh giá tổ chức tổng kết hoạt động của cơ quan, đơn vị tại hội nghị cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Nghị định này; tổ chức đánh giá định kỳ hàng năm với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý theo trình tự, thủ tục quy định... Lắng nghe ý kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức, viên chức. Khi cán bộ, công chức, viên chức đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời gian thích hợp để gặp và trao đổi; Thông báo công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết được những việc được quy định tại Nghị định này; ban hành quy chế quản lý trang thiết bị làm việc trong cơ quan, đơn vị bảo đảm thực hiện hiệu quả, tiết kiệm;...

 

Bên cạnh đó, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức cũng được quy định như sau: nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời; thực hiện các quy định về nghĩa vụ, đạo đức văn hóa giao tiếp, quy tắc ứng xử, nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp và những việc không được làm theo quy định của pháp luật; Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người phụ trách trực tiếp và trước người đứng đầu trong cơ quan, đơn vị về việc thi hành nhiệm vụ của mình. Trong khi thi công công vụ, cán bộ, công chức được trình bày ý kiến, đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình khác với ý kiến của người phục trách trực tiếp, nhưng vẫn phải chấp hành sự chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền ...Thực hiện phê bình và tự phê bình nghiêm túc, phát huy ưu điểm, có giải pháp sửa chữa khuyết điểm; thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các văn bản, đề án của cơ quan, đơn vị khi được yêu cầu; Báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động của cơ quan, đơn vị.

 

2. Ông Hoàng Xuân Cần, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 191/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 12 tháng 12 năm 2014 giữa Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Tại Điều 2 Thông tư quy định, ngoài khoản thù lao và các khoản chi phí được nêu dưới đây do cơ quan tiến hành tố tụng thanh toán, luật sư không được đòi hỏi thêm bất cứ khoản tiền, lợi ích nào khác từ người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thân nhân của họ.

 

Theo đó, mức thù lao và các khoản chi phí cho luật sư được quy định như sau:

 

Mức thù lao

 

Mức thù lao chi trả cho 01 ngày làm việc của luật sư tham gia tố tụng trong vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu là 0,4 lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định. Ngày làm việc của luật sư được tính trên cơ sở 08 giờ làm việc.

 

Trong trường hợp, luật sư làm việc trong nhiều ngày, nhưng mỗi ngày  thực hiện không đủ 08 giờ, thì số ngày làm việc của luật sư được tính trên tổng số giờ làm việc thực tế của luật sư. Số giờ làm việc lẻ còn lại (nếu có) được tính như sau:Nếu số giờ làm việc lẻ không đủ 06 giờ thì tính thành ½ ngày làm việc. Nếu số giờ làm việc lẻ từ 06 giờ trở lên thì tính thành 01 ngày làm việc.

 

Thời gian làm việc của luật sư

 

Thời gian làm việc của luật sư được tính bao gồm:

 

Thời gian gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử: Được xác định bằng thời gian thực tế luật sư gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam của cơ quan tiến hành tố tụng theo lịch cho phép;

 

Thời gian thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa: Được xác định căn cứ theo văn bản thoả thuận về số ngày thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa giữa cơ quan tiến hành tố tụng với luật sư tuỳ theo tính chất phức tạp của từng vụ án;

 

Thời gian nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị tài liệu tại cơ quan tiến hành tố tụng: Được xác định theo bảng chấm công có xác nhận của nơi luật sư đến nghiên cứu hồ sơ;

 

Thời gian tham gia phiên tòa: Được xác định theo thời gian diễn ra phiên toà xét xử; trong trường hợp phiên toà hoãn xử không phải do yêu cầu của luật sư và luật sư không được báo trước, thì cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm thanh toán tiền thù lao cho luật sư bằng ½ ngày làm việc của luật sư;

 

Thời gian hợp lý khác theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện việc tham gia tố tụng.

 

Trường hợp luật sư gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo lịch cho phép gặp người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam hoặc thời gian tham gia phiên tòa vào ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ, ngày lễ thì thời gian làm việc được tính mức theo nguyên tắc chi trả tiền lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức, cụ thể như sau:

 

Mức 150% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường.

 

Mức 200% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần.

 

Mức 300% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ bù nếu ngày nghỉ lễ trùng vào ngày nghỉ hàng tuần.

 

Chi phí khác

 

Ngoài khoản tiền thù lao, trong quá trình chuẩn bị và tham gia bào chữa tại phiên toà, nếu luật sư phải đi công tác thì được thanh toán công tác phí  theo quy định hiện hành về chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác trong nước theo mức chi áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo.

 

Thời gian và địa điểm đi công tác của luật sư phải được cơ quan tiến hành tố tụng xác nhận.

 

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2015, thay thế Thông tư liên tịch số 66/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 19/6/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về thù lao và thanh toán chi phí cho luật sư trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Chế độ thù lao cho luật sư quy định tại Thông tư này được áp dụng từ ngày 28 tháng 11 năm 2013./.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 10  tháng 3 năm 2015

 

1. Bà Hoàng Thị Bảy, trú tại xã Đại Đồng huyện Tràng Định hỏi:  Tôi có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài, công ty tuyển dụng yêu cầu phải nộp lý lịch tư pháp nhưng do điều kiện cá nhân, tôi không thể đến Sở Tư pháp làm thủ tục đề nghị cấp lý lịch tư pháp được. Vậy tôi có thể gửi yêu cầu cấp phiếu LLTP qua đường bưu điện không và thủ tục gồm những gì?

 

Trả lời:

 

Ngày 8/1/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 19/QĐ-TTg về phề duyệt  Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Đề án được thực hiện trong 3 năm (2015 - 2017), cụ thể, việc thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính được thực hiện từ năm 2015, ngay sau khi Đề án được phê duyệt. Năm 2015, sau khi Đề án được phê duyệt, chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, kỹ thuật. Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên sẽ triển khai thực hiện thí điểm phương thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. 

 

Đối với cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, ngoài phương thức nộp hồ sơ và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia như hiện nay, theo Đề án này, cá nhân có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau: Cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính hoặc đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. 

 

Về phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính

 

Cá nhân gửi hồ sơ yêu cầu và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Cụ thể, cá nhân gửi 1 bộ hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu. Cá nhân đăng ký nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Phiếu này được cung cấp miễn phí tại các điểm phục vụ bưu chính và được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Bên cạnh việc gửi và nhận hồ sơ yêu cấp phiếu qua dịch vụ bưu chính, cá nhân cũng có quyền gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu qua dịch vụ bưu chính và nhận kết quả trực tiếp tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp. 

 

Cá nhân có thể nộp lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp bằng hình thức chuyển tiền qua dịch vụ bưu chính khi gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu tại các điểm phục vụ bưu chính hoặc tại địa chỉ báo phát và gửi biên lai chuyển tiền lệ phí kèm theo hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu. Cá nhân cũng có thể nộp lệ phí trực tiếp hoặc nộp vào tài khoản của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp. 

 

Kết quả Phiếu lý lịch tư pháp được chuyển qua dịch vụ bưu chính tới người có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Khi nhận Phiếu lý lịch tư pháp, người nhận Phiếu phải xuất trình giấy tờ tùy thân như Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu.

 

Cá nhân có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu cho thay đổi phương thức nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp từ việc nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính sang nhận trực tiếp, nhưng không được hoàn lại phí dịch vụ bưu chính đã nộp. 

 

Kết quả giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp được đăng tải công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu để người dân theo dõi và chủ động đến nhận kết quả cấp Phiếu. 

 

Cũng về phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, cá nhân có thể nộp hồ sơ trực tiếp và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính.

 

Về đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến

 

Đối với đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, cá nhân có thể đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính hoặc đăng ký nhận kết quả trực tiếp tại trụ sở cơ quan Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

 

Về gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến: cơ quan, tổ chức truy cập vào Trang thông tin của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp và điền vào Văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo mẫu quy định. Văn bản yêu cầu của cơ quan, tổ chức phải sử dụng chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

 

2. Ông Hoàng Công Dương, trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Cán bộ y tế xã có chức năng, nhiệm vụ gì? Việc tuyển dụng cán bộ y tế xã được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 117/2014/NĐ-CP ngày 08/12/2014 Chính phủ quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, các điều kiện bảo đảm hoạt động và nhân lực của Y tế xã, phường, thị trấn.

 

Theo đó, tổ chức Y tế xã, phường, thị trấn (Trạm Y tế xã) là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Trung tâm Y tế huyện), được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã).

 

Trạm Y tế xã có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã.

 

Trạm Y tế xã có các nhiệm vụ: thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, kết hợp, ứng dụng y học cổ truyền trong chữa bệnh và phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe sinh sản, cung ứng thuốc thiết yếu; quản lý sức khỏe cộng đồng; truyền thông giáo dục sức khỏe theo hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản; phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn; tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân trên địa bàn;...

 

Điều kiện đảm bảo hoạt động của Y tế xã là Trạm Y tế xã có trụ sở riêng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc, kinh phí và các điều kiện bảo đảm, đáp ứng đủ cho việc thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Nghị định này,

 

Theo Nghị định, người làm việc tại Trạm Y tế xã là viên chức. Số người làm việc tại Trạm Y tế xã nằm trong tổng số người làm việc của Trung tâm Y tế huyện được xác định theo vị trí việc làm trên cơ sở khối lượng công việc phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế ở địa phương theo vùng miền.

 

Về ký hợp đồng của người làm việc tại Trạm Y tế xã thực hiện theo quy định của Luật Viên chức như sau:

 

Đối với số cán bộ y tế đang làm việc tại Trạm Y tế theo Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 58/TTg ngày 3/2/1994 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở; Điều 2 Quyết định số 131/TTg ngày 4/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số điểm tại Quyết định số 58/TTg ngày 3/2/1994: Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp có trách nhiệm tiến hành các thủ tục để ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật nếu đáp ứng đủ các điều kiện, yêu cầu và tiêu chuẩn của vị trí công việc đảm nhiệm.

 

Đối với số cán bộ y tế đang làm việc tại Trạm Y tế theo Điều 1 Quyết định số 131/TTg ngày 4/3/1995 của Thủ tướng Chính (thuộc diện hợp đồng theo Quyết định số 58/TTg): Những trường hợp đã có đủ thời gian 36 tháng làm việc tại trạm y tế xã (tính đến ngày 31/1/2015), đáp ứng đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực theo yêu cầu của vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp được xét tuyển đặc cách theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 14 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp có trách nhiệm tiến hành ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật; Những trường hợp chưa đủ thời gian 36 tháng làm việc tại Trạm Y tế (tính đến ngày 31/1/2015) thực hiện tuyển dụng theo quy định của Luật Viên chức./.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 3 năm 2015
Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 24  tháng 2 năm 2015

 
 

 

1. Bà Ngô Hồng Oanh, trú tại tổ 9, khối 6, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Gia đình bà sử dụng hợp pháp 200m2 đất  tại phường Vĩnh Trại từ năm 1993 có nộp thuế đầy đủ, bà đề nghị được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất từ chối, lý do là đất đã chuyển sang dự án Phú Lộc 4. Đến nay đã được 12 năm bà vẫn chưa được xem xét cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, bà hỏi trường hợp của bà có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 quy định về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Nếu đúng như bà trình bày là quyền sử dụng đất mà gia đình bạn đang sử dụng ổn định từ trước năm 1993 có giấy tờ chuyển nhượng trước tháng 10/1993 phù hợp với điểm d khoản 1 Điều này, không có tranh chấp và phù hợp với các quy định nêu trên thì gia đình bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Nếu cơ quan có thẩm quyền từ chối việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho gia đình bà thì phải có văn bản trả lời và bà có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.

 

2. Ông Trần Anh Kiệt, trú tại khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi những hành vi nào bị coi là hành vi phạm hành chính về trật tự công cộng và bị xử phạt như thế nào?

 

 

 

Trả lời:

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2013 thì hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng bị xử phạt như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi: Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác; Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau; Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng; Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác; Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng; Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác; Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”; Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng; Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau; Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án; Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế; Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác; Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức; Tập trung đông người trái pháp luật tại nơi công cộng hoặc các địa điểm, khu vực cấm; Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Viết, phát tán, lưu hành tài liệu có nội dung xuyên tạc bịa đặt, vu cáo làm ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân; Tàng trữ, vận chuyển “đèn trời”.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ; Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán "đèn trời".

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

Ngoài bị phạt tiền thì người vi phạm còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính./.


 

 
 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 24  tháng 2 năm 2015


1. Ông Trần Thắng Lợi, trú tại cửa khẩu Tân Thanh, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những đối tượng nào được ra vào cửa khẩu biến giới, những hành vi nào bị cấm khi đia qua cửa khẩu biến giới?

 

 

Trả lời:

Căn cứ Nghị định số 112/2014/NĐ-CP Ngày 21/11/2014 của Chính phủ quy định về quản lý cửa khẩu biên giới đất liền thì:

 

Những đối tượng sau được ra, vào khu vực của khẩu: Hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, công chức của các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành và cơ quan Nhà nước liên quan có trụ sở hoặc văn phòng làm việc trong khu vực cửa khẩu; nhân viên các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ, thương mại trong khu vực cửa khẩu; người điều khiển, người làm việc trên phương tiện chuyên chở hàng hóa, hành khách xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh; chủ hàng, người kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ra vào khu vực cửa khẩu thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; người đến khám, chữa bệnh (trường hợp trong khu vực cửa khẩu có khu vực y tế dành cho khám, chữa bệnh). Những người ra, vào khu vực cửa khẩu với mục đích thăm quan, đón tiễn hoặc mục đích khác phải được sự cho phép và chịu sự kiểm tra, giám sát, hướng dẫn của Đồn Biên phòng cửa khẩu.

 

Đối với các phương tiện Việt Nam và nước ngoài khi xuất cảnh, nhập cảnh qua cửa khẩu biên giới phải có các loại giấy tờ sau:  Giấy đăng ký phương tiện; Giấy phép liên vận, Giấy phép vận tải; Giấy phép vận chuyển hành khách (đối với phương tiện vận chuyển hành khách); Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường như quy định trước đây; mà còn phải có Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với chủ phương tiện và giấy tờ về thủ tục hàng hóa (đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa) cùng các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó Nghị định còn nghiêm cấm 05 hành vi sau: Sử dụng hộ chiếu, giấy tờ giả, hộ chiếu, giấy tờ trái với quy định pháp luật Việt Nam; tổ chức, đưa, đón dẫn đường, chuyên chở người xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tuyên truyền, kích động hoặc có hành vi phá hoại an ninh, gây rối, gây mất trật tự công cộng, gây ùn tắc cản trở các hoạt động lưu thông hợp pháp tại cửa khẩu; sử dụng, mua bán, vận chuyển trái phép tài liệu, vật mang tin có chứa thông tin bí mật quân sự, bí mật nhà nước, sách báo, văn hóa phẩm độc hại; đưa, đón người, chuyên chở, xếp, dỡ hàng hóa không đúng nơi quy định, đi vào khu vực cấm; làm mất vệ sinh công cộng, gây ô nhiễm môi trường và các hành vi làm ảnh hưởng xấu đến cảnh quan khu vực cửa khẩu...

2. Bà Trần Thị Hoa, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Đối với hành vi vi phạm pháp luật hành chính về đất đai thì có những hình thức xử phạt nào, hành vi chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền sử dụng đất sẽ bị phạt bao nhiêu và thẩm quyền xử phạt được quy định như thế nào?

 


Trả lời:

Căn cứ Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì hình thức xử phạt được quy định như sau:

 

Nghị định quy định hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền; hai hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép từ 06 tháng đến 09 tháng hoặc đình chỉ hoạt động từ 09 tháng đến 12 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực và tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

 

Cũng theo Nghị định, tùy mức độ vi phạm, đối tượng có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai sẽ bị phạt từ 500.000 đồng đến 01 tỷ đồng. Cụ thể: Áp dụng mức phạt thấp nhất 500 nghìn đồng đến 01 triệu đồng cho hành vi: Đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác (tại khu vực nông thôn); hộ gia đình, cá nhân tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, phường, thị trấn khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất, đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn; hành vi không đăng kí đất đai lần đầu…

 

Hành vi chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền sử dụng đất ở sẽ bị phạt đến 01 tỉ đồng. Cụ thể, đối với trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất xây dựng nhà ở để bán nhận trách nhiệm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà ở, người nhận quyền sử dụng đất ở mà chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày bàn giao nhà ở, đất ở, tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt từ 10 triệu đến 01 tỉ đồng. Trong đó, mức phạt cao nhất từ 500 triệu đến 01 tỉ đồng được áp dụng đối với trường hợp chậm làm thủ tục từ trên 12 tháng trở lên cho từ 100 hộ gia đình, cá nhân trở lên. Cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Về thẩm quyền xử phạt: Chủ tịch UBND cấp xã có thể xử phạt tối đa 05 triệu đồng đối với cá nhân và 10 triệu đồng đối với tổ chức; Chủ tịch UBND cấp huyện xử phạt tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức; Chủ tịch UBND cấp tỉnh và thanh tra chuyên ngành đất đai có thể xử phạt tối đa 500 triệu đồng đối với cá nhân và 01 tỷ đồng đối với tổ chức. Đặc biệt, những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan khác  trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao mà phát hiện các hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định này thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình thì cũng có quyền xử phạt./.

 

 

 


Trả lời bạn nghe đ
ài Thứ ba, ngày 17  tháng 2 năm 2015

 

1. Ông Nguyễn Hùng Đăng, trú tại xã Chi Lăng, huyện Tràng Định hỏi: Trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã đạt chuẩn nông thôn mới được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 40/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 của Bộ NNPTNT hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới thì:

 

Trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới được quy định như sau: UBND xã đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới trước ngày 10/2 của năm liền kề trước năm đánh giá. UBND xã nộp trực tiếp hoặc gửi theo đường bưu điện văn bản đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới (02 bản theo mẫu) đến UBND cấp huyện để xác nhận. Trong thời hạn 05 ngày (kể từ ngày nhận được đăng ký của UBND xã), UBND cấp huyện trả lời bằng văn bản cho UBND xã về kết quả xác nhận đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới; nêu rõ lý do đối với xã chưa được xác nhận đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới.

 

Trước ngày 01/9 hàng năm, UBND xã tổ chức tự đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới như sau: UBND xã thành lập Đoàn đánh giá (thành phần gồm đại diện Ban Chỉ đạo xã, Ban Quản lý xã, các Ban Phát triển thôn) để đánh giá cụ thể thực tế mức độ đạt từng tiêu chí; Ban Quản lý xã xây dựng báo cáo đánh giá mức độ đạt từng tiêu chí, báo cáo UBND xã. UBND xã gửi báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí của xã để lấy ý kiến tham gia của Mặt trận Tổ quốc xã, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc xã và thông báo, công bố công khai tại trụ sở UBND xã, nhà văn hóa các thôn, bản, ấp, trên hệ thống truyền thanh của xã trong thời gian 20 ngày. Trong thời gian này, UBND xã giao Ban Quản lý xã phối hợp với các Ban Phát triển thôn tổ chức họp các thôn để lấy ý kiến, yêu cầu cuộc họp thôn phải có từ 70% trở lên đại diện số hộ dân trong thôn tham dự và lập biên bản cuộc họp ghi rõ kết quả đại diện số hộ dân đồng ý hoặc không đồng ý với kết quả thực hiện các tiêu chí của xã, gửi UBND xã.

 

UBND xã lập 02 bộ hồ sơ đề nghị xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới, nộp trực tiếp hoặc theo đường bưu điện để thẩm tra gồm các giấy tờ sau: Tờ trình của UBND xã đề nghị thẩm tra, xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới; Báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn xã; Báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia của các tổ chức, đoàn thể xã và nhân dân trong xã về kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới của xã; Biên bản cuộc họp (gồm các thành viên Ban Chỉ đạo xã, Ban Quản lý xã, các Ban Phát triển thôn) đề nghị xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.

 

UBND cấp huyện thành lập Đoàn thẩm tra để thẩm tra, đánh giá cụ thể thực tế mức độ đạt từng tiêu chí của từng xã và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn huyện về danh sách các xã đủ điều kiện đề nghị xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (công bố ít nhất 03 lần trên các phương tiện phát thanh, truyền hình (nếu có) của huyện và ý kiến của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, UBND các xã trên địa bàn huyện.

 

UBND cấp huyện hoàn thiện hồ sơ gửi cơ quan thường trực Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới thuộc UBND cấp tỉnh. UBND cấp tỉnh tổ chức thẩm định mức độ đạt từng tiêu chí của từng xã thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh và xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh trước ngày 10/11 hàng năm.

 

2. Bà Hoàng Hồng Hiệp, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Hiện nay nữ có thể tình nguyện tham gia nghĩa vụ quân sự không? Nếu được thì thủ tục như thế nào? Trong bao lâu thì sẽ được gọi nhập ngũ?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định: “Công dân nữ có chuyên môn cần cho quân đội, trong thời bình, phải đăng ký nghĩa vụ quân sự và được gọi huấn luyện, nếu tự nguyện thì có thể được phục vụ tại ngũ. Trong thời chiến theo quyết định của Chính Phủ, phụ nữ được gọi nhập ngũ và đảm nhiệm công tác thích hợp”.

 

Theo Điều 58 Luật Nghĩa vụ quân sự:

 

“Việc đăng ký quân nhân dự bị và người sẵn sàng nhập ngũ được tiến hành tại nơi họ cư trú theo hai cấp:

 

1- Đăng ký ở xã, phường, thị trấn do Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn phụ trách;

 

2- Đăng ký ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phụ trách”


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 10  tháng 2 năm 2015

1. Bà Hoàng Thị Viện, trú tại thôn Điểm Trên, xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi và phản ánh thôn của bà thuộc thôn vùng 3 đặc biệt khó khăn, năm 2012 chỉ nhận được hỗ trợ tiền điện cho 3 quý là 270.000đ/hộ, đồng thời gia đình bà có con nhỏ học mẫu giáo 3 tuổi có ăn trưa tại trường nhưng đến nay vẫn chưa nhận được bất kỳ khoản hỗ trợ nào đối với học sinh vùng đặc biệt khó khăn. Bà hỏi cụ thể quy định này như thế nào và gia đình bà phải làm gì để nhận được hỗ trợ theo quy định?

 

Trả lời:

 

Vấn đề thứ nhất bà hỏi về việc hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo:

 

Căn cứ Thông tư số 190/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 của Bộ Tài chính quy định thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội thì mỗi hộ nghèo và hộ chính sách xã hội chỉ được hưởng một mức hỗ trợ tiền điện.

 

Mức hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành là 46.000 đồng/hộ/tháng (tương đương 138.000đ/1quý)

 

Phương thức hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội theo hướng chi trả trực tiếp theo hình thức hỗ trợ bằng tiền từng quý đến hộ nghèo và hộ chính sách xã hội.

 

Thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội được thực hiện từ ngày 1/6/2014 theo quy định tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Vấn đề thứ 2 bà hỏi liên quan đến chế độ hỗ trợ tiền ăn cho trẻ mẫu giáo dưới 5 tuổi:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 29/2011/TTLT-BGDĐT-BTC ngày 15/7/2011 Liên Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tài chính hướng dẫn thực hiện chi hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em 5 tuổi ở các cơ sở giáo dục mầm non theo quy định tại Quyết định số 239/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015 (Thông tư có hiệu lực từ ngày 30/8/2011). Theo đó, đối tượng này sẽ được hỗ trợ 120.000 đồng/cháu/tháng.

 

Theo quy định, có ba nhóm đối tượng được chi hỗ trợ ăn trưa. Thứ nhất là là trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi (trong năm học trẻ đạt 5 tuổi theo năm khai sinh) đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo văn bản quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

 

Nhóm đối tượng thứ hai là trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế.

 

Thứ ba là trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi đang học tại các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định hiện hành của Nhà nư¬ớc (không thuộc các xã quy định tại nhóm đối tượng thứ nhất).

 

Mức hỗ trợ là 120.000 đồng/tháng/cháu, được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

 

Thông tư quy định đầu năm học, cơ sở giáo dục mầm non (bao gồm công lập và ngoài công lập) phải tổ chức phổ biến, thông báo rộng rãi và hướng dẫn cho cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ em 5 tuổi thuộc đối tượng được hưởng chính sách viết và gửi đơn đề nghị hỗ trợ tiền ăn trưa. 

 

Cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) trẻ em 5 tuổi khi đến nộp đơn tại cơ sở giáo dục mầm non phải xuất trình bản gốc kèm theo bản sao các loại giấy tờ quy định về hồ sơ xét cấp. Trong vòng 45 ngày, kể từ ngày 01 tháng 9 hàng năm, cơ sở giáo dục mầm non lập danh sách trẻ được đề nghị cấp tiền hỗ trợ ăn trưa theo từng đối tượng gửi UBND cấp xã nơi cơ sở giáo dục mầm non đóng, kèm theo hồ sơ xét cấp hỗ trợ ăn trưa.

 

Trong vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, UBND cấp xã có trách nhiệm thẩm tra, ký tên đóng dấu xác nhận danh sách trẻ theo từng đối tượng hưởng chính sách và gửi lại cho cơ sở giáo dục mầm non. Trường hợp nếu có trẻ được bổ sung thêm hoặc bị loại khỏi danh sách, phải ghi rõ họ tên và lý do được bổ sung hoặc bị loại khỏi danh sách.

 

Việc chi trả kinh phí hỗ trợ ăn trưa cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi được cấp tối đa 9 tháng/năm học và thực hiện 2 lần trong năm: lần 1 chi trả đủ 4 tháng vào tháng 10 hoặc tháng 11 hàng năm; lần 2 chi trả đủ 5 tháng vào tháng 3 hoặc tháng 4 hàng năm.

 

Phương thức chi hỗ trợ đối với các loại hình trường được quy định cụ thể như sau: Đối với cơ sở mầm non công lập thì cơ sở giáo dục mầm non là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc chi trả. Đối với cơ sở mầm non ngoài công lập, Phòng giáo dục và đào tạo là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc chi trả.

 

Tuỳ vào thực tế quản lý và cách tổ chức ăn trưa, lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban đại diện cha mẹ trẻ (hoặc Phòng giáo dục và đào tạo thống nhất với cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập) để quyết định 1 trong 2 phương thức: chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ (hoặc người giám hộ, người nhận nuôi) hoặc giữ lại để lo bữa ăn trưa cho trẻ (khuyến khích cơ sở giáo dục mầm non tổ chức nấu ăn tập trung cho trẻ).

 

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, nếu việc chi trả các chế độ đối với hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn chưa đúng thì bà có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

2. Ông Lăng Văn Lan, trú tại thôn Yên Thủy I, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Ông  là con trai của Liệt sĩ Lăng Văn Bế hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tháng 10/2013 gia đình ông đã xin đầy đủ giấy tờ đi tìm mộ liệt sĩ tại huyện Cơ Rút tỉnh Đắc Nông và được Phòng LĐTBXH huyện Cơ Rút xác nhận nhưng đến nay đã hơn 1 năm vẫn chưa được thanh toán tiền chi phí đi lại, ông hỏi quy định giải quyết cụ thể như thế nào?       

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư liên tịch số 66/2014/TTLT-BQP-BTC ngày 13 tháng 6 năm 2014 của Bộ Quốc phòng, Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 75/2013/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tại khoản 3 Điều 5 của thông tư trên quy định chế độ hỗ trợ đối với thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ như sau:

 

Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ theo hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 2 Thông tư này được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn khi đến các đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Quyết định số 75/2013/QĐ-TTg; với số lượng không quá ba (03) người, mỗi năm một (01) lần.

 

Thủ tục, hồ sơ:

 

- Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ trước khi đi tìm mộ liệt sĩ, đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cấp Giấy giới thiệu (Mẫu 03) và có trách nhiệm khai báo chính xác những thông tin để ghi trong Giấy giới thiệu; Ủy ban nhân dân cấp xã, trong thời hạn 01 ngày làm việc có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin và cấp giấy Giới thiệu cho đối tượng;

 

- Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ khi đến đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu nộp 01 bộ hồ sơ, gồm: Giấy giới thiệu (bản chính, 01 bản); Giấy báo tử liệt sĩ hoặc Bằng Tổ quốc ghi công (bản sao có chứng thực, 01 bản);

 

- Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh (thành phố) hoặc đơn vị cấp sư đoàn hoặc tương đương trở lên, căn cứ vào các giấy tờ của thân nhân; trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, xem xét, quyết định hỗ trợ; lập Phiếu chi trả (Mẫu 02); sao, lưu các giấy tờ trên làm chứng từ thanh quyết toán. 

 

Như vậy ông có thể đến Ban chỉ huy QS huyện Cao Lộc để được hướng dẫn làm thủ tục, khi ông làm đúng thủ tục quy định nêu trên thì sẽ được thanh toán đúng quy định hiện hành.

 

3. Nhắn tin:

 

- Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của ông Nguyễn Văn Thành 85 tuổi, trú tại số nhà 47 Ngạn Sơn, tổ 4, khối 5, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn kiến nghị giải quyết vụ việc Công ty Bất động sản Hà Nội bán đất đã quy hoạch làm đường giao thông nút 7ª tại khu đô thị Phú Lộc IV dẫn đến gia đình ông bị bịt kín lối đi. Đơn ông gửi nhiều nơi trong đó đã gửi đến Chủ tịch UBND thành phố Lạng Sơn thuộc quyền giải quyết. Đề nghị ông liên hệ đến UBND thành phố Lạng Sơn để biết và theo dõi kết quả giải quyết vụ việc.

 

 

- Đơn của bà Hoàng Thị Hiện, trú tại thôn Trong Lá, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc kiến nghị gia đình bà có 1 chiếc xe ô tô tải ben chỉ để phục vụ sinh hoạt gia đình hằng năm đã nộp thuế môn bài, phí bảo trì đường bộ nhưng cán bộ Thuế vẫn yêu cầu gia đình bà nộp thuế kinh doanh 280.000đ/tháng, bà đề nghị giải quyết đúng quy định. Đơn của bà chúng tôi chuyển đến Chi cục trưởng chi cục thuế Cao Lộc xem xét, giải quyết./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 2 năm 2015


1. Ông Hoàng Văn Nghiệp, trú tại thôn Bắc Nam, xã Đồng Giáp, huyện Văn Quan hỏi: Bố tôi năm nay 72 tuổi bị mắc bệnh hiểm nghèo nay đã liệt toàn thân không đi lại sinh hoạt được trở thành người tàn tật. Vậy trường hợp của bố tôi có được hưởng trợ cấp đối với người tàn tật không?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 và Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010 thì người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật, trong đó có dạng tật nghe, nói (câm, điếc), khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.

Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau:

- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định nêu trên.

Người tàn tật nặng được hưởng trợ cấp hàng tháng

Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/04/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, đã được sửa đổi theo Khoản 1, Điều 1, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ, quy định 1 trong 9 đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý là “người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ”.

Theo hướng dẫn tại Điểm b, Điểm c, Điều 1 Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 18/8/2010 của Liên Bộ Lao động - Thương binh Xã hội, Bộ Tài chính thì:

- “Người tàn tật nặng không có khả năng lao động” quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 13/2010/NĐ-CP là người từ đủ 15 tuổi trở lên bị tàn tật, giảm thiểu chức năng không thể lao động, được Hội đồng xét duyệt cấp xã công nhận hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác nhận.

- “Người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ” quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 13/2010/NĐ-CP là người tàn tật không có khả năng tự phục vụ sinh hoạt cá nhân, được Hội đồng xét duyệt cấp xã công nhận hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác nhận.

Vấn đề ông hỏi, theo quy định nêu trên thì bố ông bị liệt toàn thân thuộc trường hợp người tàn tật nặng theo quy định tại điểm b, c điều 1 Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC, việc có được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hay không, phụ thuộc vào mức độ khuyết tật của người đó.

Nếu người bị liệt toàn thân là “người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ” theo quy định tại Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 13/2010/NĐ-CP và hướng dẫn tại Điểm b, Điểm c, Điều 1 Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLĐTBXH-BTC thì người đó thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý.

2. Bà Hà Thị Ngọc Tú, trú tại khối Cửa Nam, phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn hỏi: Từ ngày 01/01/2015 người đang hưởng lương hưu sẽ được điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, vậy cụ thể mức điều chỉnh tăng là bao nhiêu?

         

 

Trả lời:

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 09/2015/NĐ-CP ngày 22/1/2015 về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc.

Theo đó, từ ngày 01/01/2015 sẽ tăng thêm 8% mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với các đối tượng sau:

1 - Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng.

2 - Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 và Nghị định số 9/1998/NĐ-CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng.

3 - Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, Quyết định số 613/QĐ-TTgngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

4 - Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 130/CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111 - HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng.

5 - Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008, Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

6 - Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

7 - Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 9/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Kinh phí thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng áp dụng đối với các đối tượng trên do ngân sách Nhà nước và Quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/3/2015.

Trước đó, ngày 10/11/2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 78/2014/QH13 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, trong đó đã quyết định thực hiện điều chỉnh tăng 8% đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công và tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thu nhập thấp (hệ số lương từ 2,34 trở xuống). Thời điểm thực hiện quy định này là từ ngày 01/01/2015./.

 

 

 

 

 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 27  tháng 1 năm 2015
Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 2 năm 2015
Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 3  tháng 2 năm 2015

1. Bà Lý Thị Ương, trú tại thôn Tồng Méo, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Vừa qua, tôi đi dọn thực bì để trồng cây thông đầu xuân năm 2015 thì do gió to không kiểm soát được ngọn lửa cháy sang đồi thông của rừng bên cạnh, tôi lập tức báo với chính quyền để can thiệp nhưng kết quả vẫn gây thiệt hại 220 cây thông đang tuổi lấy nhựa. Do các hộ bị thiệt hại yêu cầu đòi bồi thường quá cao nên tôi không có khả năng đền bù với số tiền lớn. Vậy tôi phải nhờ đến cơ quan nào để định giá đúng cây thông để bồi thường cho những hộ bị thiệt hại?

 

Trả lời:

Theo quy định của Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 605 quy định về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp hòa giải ở cơ sở, nếu vụ việc không hòa giải được thì đương sự làm đơn khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại lên TAND cấp huyện để thụ lý giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án sẽ thành lập Hội đồng định giá tài sản thiệt hại làm căn cứ quyết định bồi thường.

 

 

2. Bà Hoàng Thị Bình, trú tại xã Chi Lăng, huyện Tràng Định hỏi: Luật Hôn nhân và gia đình quy định như thế nào về kết hôn đồng giới và việc chia tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn?

 

 

Trả lời

- Về hôn nhân đồng giới:

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn đồng giới, và vì cấm nên sẽ đi kèm chế tài, xử phạt. Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 đã bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây là sự nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay.

- Tài sản của vợ chồng

Được thỏa thuận về tài sản khi ly hôn: Cụ thể, về tài sản chung của vợ chồng, theo luật thì đó là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng, cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Luật cũng quy định rõ, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tại Điều 62 Luật HNGĐ năm 2014 quy định về Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này.

 

 


Trả lời bạn nghe đ
ài Thứ ba, ngày 20  tháng 1 năm 2015

 

1. Bà Hoàng Thúy Chi, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Quy định về chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi nhà nước thu hồi đất được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất (có hiệu lực 01/7/2014), theo đó việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo quy định sau đây:

 

Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm các trường hợp sau: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó. Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được UBND cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó.

 

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.

 

Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây: Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.

 

Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng được thực hiện theo quy định sau: Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng.

 

Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng. Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của UBND cấp có thẩm quyền. Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 1 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

 

Việc hỗ trợ ổn định sản xuất thực hiện theo quy định sau: Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp. Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 3 năm liền kề trước đó. Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế.

 

Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm trường quốc doanh thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng tiền. Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ cấp không quá 6 tháng.

 

Nghị định giao UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ trợ cho phù hợp với thực tế tại địa phương.

 

 

2. Ông Hoàng Tuấn Khải, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Năm nay mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn được quy định như thế nào, đơn vị thu được trích lại bao nhiêu%?

 

Trả lời

 

          Ngày 14/01/2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đối với xe mô tô trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

 

          Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký lưu hành (có Giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe) bao gồm xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự.

 

          Mức thu phí đối với xe có dung tích xy lanh đến 100 cm­3 là 50.000 đồng/năm; loại có dung tích xy lanh trên 100 cm­3 là 100.000 đồng/năm.

 

          Các đối tượng được miễn phí đường bộ bao gồm: Xe mô tô của lực lượng Công an, Quốc phòng và xe mô tô của chủ phương tiện thuộc các hộ nghèo theo quy định.

 

          UBND xã, phường, thị trấn là cơ quan thu phí đối với xe mô tô của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân (chủ phương tiện) trên địa bàn.

 

           Trường hợp xe phát sinh từ ngày 01/01 đến ngày 30/6 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 7 hàng năm (từ ngày 01/7 đến ngày 31/7). Đối với xe phát sinh từ ngày 01/7 đến ngày 31/12 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 01 năm sau.

 

          Về chế độ quản lý sử dụng tiền phí thu được, các phường, thị trấn được trích để lại 10%, các xã được trích để lại 20% trên tổng số phí thu được; phần còn lại nộp vào ngân sách nhà nước.

 

          Sở Giao thông vận tải chủ trì theo dõi, kiểm tra, đôn đốc báo cáo UBND tỉnh việc quản lý, sử dụng Quỹ bảo trì đường bộ tỉnh Lạng Sơn. UBND các huyện, thành phố chỉ đạo các đơn vị, bộ phận chức năng liên quan và UBND cấp xã tổ chức triển khai thực hiện, đảm bảo đúng theo quy định.

 

          Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24/1/2015 và thay thế Quyết định số 15/2013/QĐ-UBND ngày 21/8/2013 của UBND tỉnh.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 13  tháng 1 năm 2015

 

1. Bà Trần Thị Hồng, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi được biết nhà nước mới ban hành quy định về cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, vậy điều kiện để mang thai hộ người khác như thế nào?

 

Trả lời:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo (cụ thể từ Điều 93 đến Điều 98), song phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản. Theo đó, các cặp vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con, có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện, gồm: Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có con chung; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Nguyên tắc để “người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng để ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa việc mang thai hộ”.

Theo đó, người được nhờ mang thai hộ phải có đủ 5 điều kiện: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình  cũng có các điều khoản để giải quyết những rắc rối phát sinh. Đó là việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con (của người mang thai hộ) theo chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con, thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con, thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết, thì con được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ…

Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải bảo đảm các điều kiện:  Lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Việc ủy quyền cho người thứ ba không được công nhận. Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này;  Có thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên;  Quyền, nghĩa vụ về hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ;  Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

 

 

 

2. Ông Đinh Xuân Hòa, trú tại khối Hoàng Hoa Thám, phường Chi lăng hỏi: Điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư được pháp luật quy định như thế nào?

 

 

Trả lời

Căn cứ Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.

Theo đó, điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư như sau: Có quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy, về sử dụng điện, sử dụng lửa và các chất dễ cháy, nổ; có biển cấm, biển báo, sơ đồ hoặc biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy, thoát nạn phù hợp với đặc điểm của khu dân cư; Có thiết kế và phải được thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư xây dựng mới; Hệ thống điện bảo đảm tiêu chuẩn an toàn về phòng cháy và chữa cháy; Có hệ thống giao thông, nguồn nước phục vụ chữa cháy, giải pháp chống cháy lan, phương tiện phòng cháy và chữa cháy bảo đảm số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy hoặc theo quy định của Bộ Công an; Có phương án chữa cháy và thoát nạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; Có lực lượng dân phòng được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy và tổ chức thường trực sẵn sàng chữa cháy đáp ứng yêu cầu chữa cháy tại chỗ; Có hồ sơ quản lý, theo dõi hoạt động phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Bộ Công an./.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 6  tháng 1 năm 2015

 


1. Ông Nguyễn Sỹ Lợi, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người lái xe ô tô bất cẩn khi mở cửa xuống xe đã không quan sát kỹ khiến người đi xe máy quệt vào cánh cửa ô tô gây tai nạn giao thông sau đó không cứu giúp người bị nạn mà điều khiển xe bỏ đi thì bị xử lý như thế nào?

 

 

Trả lời:

Theo như bạn hỏi thì đây không chỉ là vấn đề vi phạm pháp luật giao thông bị xử phạt hay phải bồi thường thiệt hại cho người bị nạn mà còn là vấn đề còn ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn sức khỏe, tính mạng của người đi đường, của người tham gia giao thông, vấn đề trật tự an toàn giao thông.

Theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 8 Nghị định 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì hành vi dừng xe, đỗ xe, mở cửa xe không bảo đảm an toàn gây tai nạn thì bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng.

Ngoài ra còn bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng trong trường hợp gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường; bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

Bên cạnh đó còn phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người bị hại theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại.

 

 

2. Bà Trần Thị Hồng, trú tại đường Văn Miếu, phường Chi Lăng hỏi: Được biết theo quy định của pháp luật thì khi chế biến thức phẩm không an toàn cũng bị xử phạt. Vậy đối với hành vi vi phạm về sử dụng hóa chất trong sản xuất, chế biến thực phẩm thì bị xử lý như thế nào?

 

 

Trả lời

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm thì hành vi vi phạm quy định về sử dụng hóa chất trong sản xuất, chế biến thực phẩm thì bị xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với hành vi sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng trong hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm.

2. Phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi sử dụng hóa chất bị cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm.

3. Phạt tiền bằng 7 lần giá trị thực phẩm vi phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này nếu mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt quy định tại Khoản 2 Điều này thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm tại thời Đim vi phạm nhưng s tin phạt không quá 100 triệu đng.

4. Ngoài ra còn có thể bị xử phạt bổ sung như: Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm từ 06 tháng đến 09 tháng trong trường hợp tái phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này; Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm từ 09 tháng đến 12 tháng trong trường hợp tái phạm đi với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy tang vật vi phạm là hóa chất không rõ nguồn gốc, bị cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm; thực phẩm có chứa hóa cht theo quy định.

 

3. Ông Hà Đức Hợp, trú tại xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng hỏi: Được biết Nhà nước có quy định về chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn nhưng tôi chưa biết cụ thể quy định này thế nào. Xin hỏi Đài theo quy định này thì đối tượng được vay và mức lãi suất được quy định như thế nào?

 

 

Trả lời:

Ngày 04/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015.

Theo quy định của Quyết định này thì đối tượng được vay vốn là hộ đồng bào dân tộc thiểu số (kể các các hộ có vợ hoặc chồng là người dân tộc thiểu số) sống tại các xã thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, có đủ hai tiêu chí là: (1) Có mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng từ 50% trở xuống so với chuẩn hộ nghèo theo quy định hiện hành; (2) Có phương án sản xuất nhưng thiếu hoặc không có vốn sản xuất.

Các hộ được vay vốn phải là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn có nơi cư trú hợp pháp, có trong danh sách do Ủy ban nhân dân cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt; đồng thời phải có phương án hoặc nhu cầu sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh được chính quyền cùng các tổ chức chính trị - xã hội của thôn, bản hỗ trợ gia đình lập hoặc xác nhận; phải sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, không được sử dụng khoản vốn vay để gửi lại vào các Ngân hàng khác.

Các đối tượng được vay vốn có thể vay một hoặc nhiều lần nhưng tổng mức vay không quá 8 triệu đồng/hộ. Các hộ không phải dùng tài sản để bảo đảm tiền vay và được miễn lệ phí làm thủ tục hành chính trong việc vay vốn.

Thời hạn cho vay được quyết định trên cơ sở căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của hộ vay vốn nhưng tối đa không quá 5 năm.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng quy định rõ, trường hợp đến hạn trả nợ nhưng hộ vay vốn vẫn thuộc diện hộ đặc biệt khó khăn và có nhu cầu tiếp tục sử dụng vốn vay thì căn cứ thực tế để xử lý cho phù hợp như có thể xem xét kéo dài thời gian trả nợ nhưng tối đa không quá 5 năm hoặc 2,5 năm hoặc buộc phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu đã thoát nghèo…. Lãi suất cho vay bằng 0,1%/tháng, tương ứng với 1,2% năm.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2013 và thay thế Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007, Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 30  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Nguyễn Thị Hồng trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Trường hợp nào bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật đât đai, trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại  Điều 64 Luật đất đai sửa đổi bổ sung năm 2013, các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

 

1. Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao,cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính vềhành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

 

2. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

 

3. Đất được giao, cho thuê khôngđúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

 

4. Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy địnhcủa Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

 

5. Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

 

6. Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy địnhcủa Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

7. Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhànước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

 

8. Đất trồng cây hàng năm không đượcsử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sửdụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trongthời hạn 24 tháng liên tục;

 

9. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liêntục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự ántrong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thuhồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợpdo bất khả kháng.

 

 Việc thu hồi đất do vi phạm phápluật đất đai phải căn cứ vào các văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

 

Về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật được quy định tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 như sau:

 

1. Trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.

 

Trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai không thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì biên bản xác định hành vi vi phạm phải có đại diện của Ủy ban nhân dân cấp xã làm chứng để làm căn cứ quyết định thu hồi đất và được lập theo quy định sau đây:

 

a) Cơ quan tài nguyên và môi trường tổ chức kiểm tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại các Điểm c, d và g Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai; tổ chức thanh tra để xác định hành vi vi phạm quy định tại Điểm h và Điểm i Khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai;

 

b) Trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản, người được giao nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm gửi biên bản cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất để chỉ đạo thu hồi đất.

 

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực địa khi cần thiết, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất.

 

3. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm sau:

 

a) Thông báo việc thu hồi đất cho người sử dụng đất và đăng trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

 

b) Chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật;

 

c) Tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Khoản 3 Điều 65 của Nghị định này;

 

d) Bố trí kinh phí thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.

 

4. Cơ quan tài nguyên và môi trường chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính; thu hồi Giấy chứng nhận hoặc thông báo Giấy chứng nhận không còn giá trị pháp lý đối với trường hợp người sử dụng đất không chấp hành việc nộp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

2. Ông Nguyễn Hữu Hoàng, hiện đang công tác tại một cơ quan đóng trên địa bàn tỉnh hỏi: Được biết Luật Bảo hiểm y tế mới ban hành có nhiều điểm mới, trong đó có điểm mới về mức đống BHYT, điều này chúng rôi rất quan tâm, vậy cụ thể với từng đối tượng thì đóng bao nhiêu % tiền lương?

 

Trả lời:

 

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.

 

Theo quy định tại Điều 13 của Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015 thì mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế được quy định như sau:

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức tối đa bằng 6% tiền lương tháng, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3. Trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì mức đóng hằng tháng tối đa bằng 6% tiền lương tháng của người lao động trước khi nghỉ thai sản và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật tối đa bằng 6% mức lương cơ sở, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng tối đa bằng 6% tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa bằng 6% tiền trợ cấp thất nghiệp và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an tối đa bằng 6% tiền lương tháng đối với người hưởng lương, tối đa bằng 6% mức lương cơ sở đối với người hưởng sinh hoạt phí và do ngân sách nhà nước đóng.

 

Mức đóng hằng tháng của đối tượng là Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước; Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước; Người có công với cách mạng, cựu chiến binh; Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm; Trẻ em dưới 6 tuổi; Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này; Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do ngân sách nhà nước đóng./.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 23  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Nguyễn Thị Hợi, trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: Người là Hòa giải viên ở cơ sở, khi thực hiện hòa giải vụ việc tranh chấp trong nhân dân sẽ nhà nước thanh toán thù lao như thế nào, khi đi hòa giải mà bị tai nạn rủi ro thì được thanh toán, hỗ trợ những gì?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 15/2014/TT-BTP ngày 27 tháng 2 năm 2014 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, theo đó thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên và các khoản được hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hòa giải được quy định như sau:

 

Về Thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên

 

1. Tổ trưởng tổ hòa giải lập hồ sơ đề nghị thanh toán thù lao cho hòa giải viên, bao gồm: Giấy đề nghị thanh toán thù lao của hòa giải viên có ghi rõ họ, tên, địa chỉ của hòa giải viên; tên, địa chỉ tổ hòa giải; số tiền đề nghị thanh toán; nội dung thanh toán (có danh sách các vụ, việc trong trường hợp đề nghị thanh toán thù lao cho nhiều vụ, việc); chữ ký của hòa giải viên; chữ ký xác nhận của tổ trưởng tổ hòa giải và xuất trình Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở để đối chiếu khi cần thiết.

 

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định và trả thù lao cho hòa giải viên thông qua tổ hòa giải; trường hợp quyết định không thanh toán cho hòa giải viên thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 

 

3. Tổ hòa giải thực hiện trả thù lao cho hòa giải viên theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được thù lao.

 

Những Trường hợp hòa giải viên được hỗ trợ khi gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hòa giải.

 

1. Bị tai nạn hoặc rủi ro trong khi đang thực hiện hòa giải.

 

2. Bị tai nạn hoặc rủi ro trên đường đi và về từ nơi ở đến địa điểm thực hiện hòa giải trên tuyến đường và trong khoảng thời gian hợp lý.

 

Về các khoản được hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hòa giải

 

1. Hòa giải viên khi gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở được hỗ trợ như sau:

 

a) Chi phí cần thiết, hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút;

 

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; nếu thu nhập thực tế của hòa giải viên không ổn định hoặc không thể xác định được thì áp dụng cách tính theo thu nhập bình quân hàng ngày của người làm công ăn lương chia theo khu vực thành thị, nông thôn, loại hình kinh tế ngoài nhà nước trong thời gian cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút.

 

2. Gia đình của hòa giải viên bị thiệt hại về tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở được hỗ trợ một lần bằng tiền để chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc hòa giải viên trước khi chết; người tổ chức mai táng được hỗ trợ chi phí cho việc mai táng.

 

2. Ông Nguyễn Hải Nam, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bố mẹ tôi sinh được 4 người con, bố mẹ và anh cả đã mất, không để lại di chúc. Nay còn 3 anh em họp để chia di sản thừa kế, anh tôi đã mất nên chỉ còn các cháu. Vậy các cháu là con của anh tôi có được chia tài sản không?

 

Trả lời:

 

Thừa kế theo Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Thừa kế thế vị chỉ được tính đến trong trường hợp thừa kế theo pháp luật: Tại Điều 677 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thừa kế thế vị như sau:

“Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.

 

Tại Điều 681 BLDS 2005 quy định sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận về cách thức phân chia di sản. Việc phân chia di sản phải có đầy đủ những người thừa kế theo hàng và thừa kế thế vị (trường hợp thừa kế theo pháp luật). Đây là quyền của những người thừa kế. Thủ tục phân chia di sản thừa kế được pháp luật quy định khác nhau đối với từng loại di sản.

 

Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố, mẹ mình (hoặc ông bà) được hưởng nếu còn sống, được chia đều di sản với những người thừa kế khác. Điều kiện để hưởng thừa kế thế vị là cháu, chắt của người để lại di sản phải còn sống hoặc chưa ra đời nhưng đã thành thai vào thời điểm ông, bà, cụ chết mới được áp dụng chế định thừa kế thế vị.

 

Như vậy trường hợp của ông thuộc trường hợp thừa kế thế vị và các cháu con anh trai ông được hưởng phần tài sản mà bố mẹ cháu được hưởng.

 

3. Bà Hà Thị Lan, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Để được sét, công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, cán bộ, công chức công chức phải đảm bảo các tiêu chuẩn gì?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định 65/2014/NĐ-CP ngày 01/07/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013, theo đó tại Điều 4 Nghị định quy định Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” như sau:

 

1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được xét tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau:

 

a) Là “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”;

 

b) Có sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công tác được cơ sở công nhận hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm thu được áp dụng hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức, đơn vị công nhận.

 

2. Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học do Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận. Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu do Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp cơ sở giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị xem xét, công nhận.

 

 

3. Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học cấp cơ sở do Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” quyết định thành lập. Thành phần Hội đồng gồm những thành viên có trình độ chuyên môn về lĩnh vực có liên quan đến nội dung sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học và các thành viên khác (nếu cần thiết)./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 16  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Trịnh Thanh Hương, trú tại phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn hỏi: Tôi đang làm việc trong một công ty, vừa qua tôi bị sẩy thai khi đang làm việc. Bệnh viện cấp giấy nghỉ ốm và giấy ra viện, trong đó ghi là tôi bị sốt siêu vi và sẩy thai, được nghỉ 20 ngày. Bà Hương hỏi, trường hợp này bà nên hưởng theo chế độ nghỉ ốm hay nghỉ thai sản, hồ sơ giải quyết chế độ ốm đau như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành, người lao động tham gia BHXH bắt buộc bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế được hưởng chế độ ốm đau; thời gian hưởng tối đa trong một năm (tính theo ngày làm việc) đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường là 30 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm, 40 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm, 60 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 30 năm trở lên; làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại được nghỉ 40 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng BHXH từ đủ 30 năm trở lên; mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

Luật BHXH quy định thời gian hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ khi sẩy thai là 20 ngày nếu thai từ 1 tháng đến dưới 3 tháng (tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, nghỉ hàng tuần). Mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

Ngoài ra, người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau, thai sản mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 ngày đến 10 ngày trong một năm.

 

Luật BHXH quy định hồ sơ giải quyết hưởng chế độ đối với bản thân ốm đau, gồm:

 

- Sổ BHXH

- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) trong trường hợp người lao động điều trị nội trú hoặc Giấy chứng nhận nghỉ việc BHXH trong trường hợp người lao động điều trị ngoại trú (Mẫu số C65-HD).

 

Hồ sơ giải quyết hưởng chế độ thai sản, gồm:

 

- Sổ BHXH

 

- Giấy ra viện (bản chính hoặc bản sao) hoặc giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH (Mẫu số C65-HD) hoặc giấy khám thai (bản chính hoặc bản sao), sổ khám thai (bản chính hoặc bản sao).

 

Ngoài ra có thêm danh sách thanh toán chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do người sử dụng lao động lập (Mẫu số C70a-HD).

 

Trường hợp cụ thể của bà, đề nghị bà đối chiếu với quy định nêu trên, lập hồ sơ nộp cho người sử dụng lao động để được xem xét, giải quyết chế độ BHXH.

 

2. Ông Vũ Đức Hà, trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Theo tôi được biết thời gian vừa qua, cơ quan Công an ở nhiều nơi đã bất ngờ kiểm tra hành chính nhiều khách sạn và phát hiện nhiều đôi nam nữ đang có hành vi mua bán dâm. Xin hỏi, hành vi mua bán dâm được hiểu như thế nào? Có khi nào tôi và người yêu của mình cũng bị quy vào trường hợp đó hay không?

 

Trả lời:

 

Theo Pháp lệnh Phòng chống mại dâm 2003 thì:

 

1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

 

2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.

 

Bên cạnh đó, Điều 256 Bộ luật Hình sự 1999 quy định: Tội mua dâm người chưa thành niên như sau: “Người nào mua dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

 

Như vậy, hành vi mua bán dâm đối với người đã thành niên sẽ không bị xử lý hình sự mà chị bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể: Đối với người mua dâm, Điều 22 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 quy định:

 

"1. Người mua dâm tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền.

 

2. Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV/AIDS mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự".

 

Đối với người bán dâm, Điều 23 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 quy định:

 

"1. Người bán dâm: tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh. Người bán dâm là người nước ngoài thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.

 

2. Người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự".

 

Tuy nhiên từ khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực (1/7/2013) thì Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm. Người có hành vi bán dâm bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

 

Đối với đối tượng người mua dâm là cán bộ, công chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thì ngoài bị xử lý theo quy định  trên, còn bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục và xử lý kỷ luật. Trong thời gian bị xử lý kỷ luật không được đề cử, ứng cử vào các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; không được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương hoặc cao hơn trong các cơ quan nhà nước hoặc trong lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Như vậy, đối với trường hợp của hai bạn xuất phát từ tình yêu trong sáng thì rất khó có thể bị quy chụp với trường hợp này.

 

3. Bà Trần Thị Mười, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chồng tôi đang thi hành án phạt tù, tôi được biết hằng năm nhà nước vẫn có chế độ đặc xá cho phạm nhân, vậy điều kiện để được hưởng chế độ này là gì?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 10 Luật Đặc xá năm 2007, người bị kết án phạt tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau:

 

- Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

 

- Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác

 

- Đã chấp hành hình phạt tù được ít nhất là một phần ba thời gian phạt tù có thời hạn (nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù), hoặc đã chấp hành ít hơn một phần ba thời gian phạt tù có thời hạn nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:

 

+ Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;

 

+ Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;

 

+ Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

+ Khi phạm tội là người chưa thành niên;

 

+ Là người từ 70 tuổi trở lên;

 

+ Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;

 

+ Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định./.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 9  tháng 12 năm 2014

 

1. Bà Hà Thị Thủy, trú tại khu ga Bắc, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Tại sao pháp luật quy định khi mới vào làm việc tại công ty lại phải thử việc, thời gian thử việc và tiền lương trong thời gian này được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ vào các Điều 26, 27, 28, 29 của Bộ Luật lao động năm 2012 thì:

 

Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật lao động.

 

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

 

Vê Thời gian thử việc: Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

 

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

 

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

 

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

 

Vấn đề Tiền lương trong thời gian thử việc: Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

 

Kết thúc thời gian thử việc:

 

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

 

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

 

2. Ông Nguyễn Quốc Bằng, trú tại thôn Cầu Lường, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng hỏi: Một người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, được gọi nhập ngũ nhưng không đến địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ thì bị xử lý như thế nào, nếu bị xử phạt thì ai có thẩm quyền xử phạt?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự. Tại Điều 22 Luật này quy định: công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

 

Theo quy định tại Điều 9 và Điều 37 Nghị định số 151/2003/NĐ-CP ngày 09/12/2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng thì đối với trường hợp người đã có lệnh gọi nhập ngũ mà trốn tránh, không có mặt đúng thời gian, địa điểm quy định đã ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng, người có thẩm quyền xử phạt là Chủ tịch UBND xã. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn buộc phải chấp hành lệnh gọi nhập ngũ theo quy định của pháp luật vào đợt nhập ngũ tiếp theo nếu không thuộc diện đối tượng được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự.

 

 

3. Bà Ma Thị Cầu, trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: Tôi nghe nói Nhà nước mới có quy định về hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, hộ thuộc diện chính sách xã hội. Vậy cụ thể quy định này như thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 30 tháng 10 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 60/2014/QĐ-TTg quy định tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện.

 

Theo đó, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện quy định tại Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ cấu biểu giá bán lẻ tiền điện, là hộ có một trong những tiêu chí sau:

 

- Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng không thuộc diện hộ nghèo theo quy định của pháp luật và có lượng điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong tháng không quá 50 KWh ở vùng có điện lưới;

 

- Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật sống ở vùng chưa có điện lưới;

 

- Hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng chưa có điện lưới.

 

Trường hợp hộ có nhiều thành viên hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc thuộc diện được hỗ trợ tiền điện theo chính sách khác nhau thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ tiền điện cao nhất.

 

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2014. Hộ chính sách xã hội đã nêu trên được hưởng chính sách hỗ trợ tiền điện từ thời điểm Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg có hiệu lực./.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 2 tháng 12 năm 2014

     

1. Bà Phạm Thị Lợi, trú tại khu Ga thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi thấy trên các phương tiện truyền thông tuyên truyền các quy định về xử phạt hành chính, trong đó có biện pháp tịch thu số lợi bất hợp pháp do vi phạm hành chính để xung công quỹ nhà nước nhưng tôi chưa hiểu cụ thể căn cứ để xác định số lợi bất hợp pháp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 149/2014/TT-BTC           Ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính để sung vào ngân sách nhà nước, xin được trả lời bà như sau:

 

- Việc xác định số lợi bất hợp pháp do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện và ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Số lợi bất hợp pháp được xác định từ khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính đến thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

 

- Số lợi bất hợp pháp do vi phạm hành chính gồm tiền, giấy tờ có giá, tài sản và vật có giá. Đối với số lợi bất hợp pháp bằng tiền, căn cứ để xác định là số lượng hàng hóa, dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định nhân với đơn giá. Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, đơn giá, số lợi bất hợp pháp thu được là số tiền tổ chức, cá nhân thu được. Giấy tờ có giá thu được từ hành vi vi phạm hành chính bao gồm: trái phiếu, hối phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, séc, công trái, chứng khoán theo quy định và các giấy tờ có giá khác theo quy định của Luật chuyên ngành.

 

- Trường hợp tài sản hoặc vật có giá không phải hàng cấm, hàng lậu, hàng giả đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy trước thời điểm ra quyết định xử lý, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng tiền tương đương giá trị thị trường của tài sản, vật có giá cùng loại hoặc xác định theo giá trị sổ sách của tài sản, vật có giá (nếu không có giá trị thị trường) hoặc xác định bằng giá trị tiền của tài sản, vật có giá ghi trên tờ khai xuất khẩu, tờ khai nhập khẩu (nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) sau khi trừ chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa.

 

- Trường hợp tài sản hoặc vật có giá là hàng cấm, hàng lậu, hàng giả đã được chuyển nhượng hoặc tiêu thụ trước thời điểm người có thẩm quyền ra quyết định xử lý, số lợi bất hợp pháp được xác định là tổng số tiền mà tổ chức, cá nhân nhận được khi thực hiện chuyển nhượng.

 

Cũng theo Thông tư trên, việc xử lý số lợi bất hợp pháp từ hành vi vi phạm hành chính là tiền, giấy tờ có giá, tài sản và vật có giá để sung vào NSNN được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 và Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định này.

 

2. Ông Nguyễn Văn Thành, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi nào của công chứng viên bị xử phạt?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 14 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Bộ tư pháp quy định xử phạt vi phạm ahnhf chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình,t hi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì đối với Hành vi vi phạm quy định về công chứng viên được quy định tại Điều 14 như sau:

 

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Điều 39 của Luật công chứng;

 

b) Công chứng không đúng thời hạn quy định;

 

c) Sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định;

 

d) Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;

 

đ) Từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch mà không có căn cứ.

 

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Tiết lộ nội dung công chứng mà không được sự đồng ý bằng văn bản của người yêu cầu công chứng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

 

b) Công chứng hợp đồng, giao dịch mà thiếu chữ ký của người yêu cầu công chứng, công chứng viên vào từng trang của hợp đồng, giao dịch;

 

c) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng theo quy định của pháp luật, thù lao công chứng đã xác định và chi phí khác đã thỏa thuận;

 

d) Không chứng kiến việc người yêu cầu công chứng ký vào văn bản công chứng trừ trường hợp do pháp luật quy định;

 

đ) Lời chứng của công chứng viên trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 5 của Luật công chứng.

 

3. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Công chứng không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 của Luật công chứng;

 

b) Công chứng liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của con trai, con gái, con nuôi;

 

c) Cho người khác sử dụng thẻ công chứng viên của mình để hành nghề công chứng;

 

d) Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch không đúng quy định tại Điều 44 của Luật công chứng;

 

đ) Công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp không có căn cứ xác định quyền sử dụng, sở hữu riêng đối với tài sản khi tham gia giao dịch;

 

e) Công chứng hợp đồng, giao dịch có nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội;

 

g) Sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung thẻ công chứng viên.

 

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Sử dụng thẻ công chứng viên giả;

 

b) Sử dụng thẻ công chứng viên của người khác để hành nghề công chứng.

 

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

 

a) Làm giả thẻ công chứng viên;

 

b) Cá nhân không có thẩm quyền công chứng mà hoạt động với danh nghĩa người có thẩm quyền công chứng.

 

6. Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên 12 tháng đối với hành vi công chứng trước vào hợp đồng, giao dịch khi chưa xác định đầy đủ các bên chủ thể của hợp đồng, giao dịch đó.

 

7. Hình thức xử phạt bổ sung:

 

Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 3 Điều này.

 

8. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm a Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

 

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Điểm c Khoản 2, Khoản 4, Khoản 5 Điều này.

 

3. Nhắn tin:

 

Trong tuần qua, chúng tôi nhận được đơn của bà Hoàng Viết Giàu, trú tại thôn kéo, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Trong quá trình giải quyết chế độ đất đai, gia đình bà đã được UBND huyện phân cho 2 lô đất tái định cư nhưng đến nay đã lâu mà chưa được nhận, đề nghị bà liên hệ đến Phòng Tiếp công dân của UBND huyện để được hướng dẫn, giải quyết.

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 25 tháng 11 năm 2014

1.      Ông Vi Văn Liêm, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc cấp Sổ hộ khẩu cho cá nhân và cấp đổi sổ hộ khẩu khi bị mất, hư hỏng được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

            Căn cứ Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 9/9/2014 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú thì:

 

         Sổ hộ khẩu được cấp cho cá nhân thuộc một trong những trường hợp sau đây:

 

          + Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có chỗ ở độc lập với gia đình của người đó, người sống độc thân, người được tách sổ hộ khẩu theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật cư trú;

 

         + Người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành nghề lưu động khác, nếu họ không sống theo hộ gia đình;

 

         + Thương binh, bệnh binh, người thuộc diện chính sách ưu đãi của Nhà nước, người già yếu, cô đơn, người tàn tật và các trường hợp khác được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung;

 

          + Chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà sống tại cơ sở tôn giáo.

 

-        

Sổ hộ khẩu có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.

          - Công dân thay đổi nơi thường trú ngoài phạm vi xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh, ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, ngoài phạm vi thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì được cấp sổ hộ khẩu mới.

 

           Về việc Đổi, cấp lại sổ hộ khẩu:

 

          Trường hợp sổ hộ khẩu bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại. Sổ hộ khẩu được đổi, cấp lại có số, nội dung như sổ hộ khẩu đã cấp trước đây. Hồ sơ đổi, cấp lại sổ hộ khẩu bao gồm:

 

          - Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu. Trường hợp cấp lại sổ hộ khẩu tại thành phố, thị xã thuộc tỉnh và quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

 

-        

Sổ hộ khẩu (đối với trường hợp đổi sổ hộ khẩu do bị hư hỏng) hoặc sổ hộ khẩu gia

đình, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể (đối với trường hợp đổi từ mẫu sổ cũ đổi sang mẫu số mới).

           Cơ quan đăng ký cư trú thu lại sổ hộ khẩu bị hư hỏng hoặc sổ hộ khẩu gia đình, giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể và đóng dấu hủy để lưu hồ sơ hộ khẩu.

 

          - Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền đăng ký thường trú phải đổi, cấp lại sổ hộ khẩu./.

 

2. Bà Trần Hoài Lan, trú tại xã Gia cát, huyện cao Lộc hỏi: Hiện nay có nhiều người đi mua thuốc sâu về phun lúa, ngô phum xong vất vỏ bao bì gây ô nhiễm môi trường, vậy vấn đề này sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 26 Nghị định số 114/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì Vi phạm quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bị xử phạt như sau:

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng với nội dung hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn, bao gói.

 

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không có tên trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và hạn chế sử dụng ở Việt Nam;

 

b) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dưới dạng ống tiêm thủy tinh.

 

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng ở Việt Nam;

 

b) Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng nội dung hướng dẫn ghi trên bao gói gây nguy hiểm cho người, gia súc và làm ô nhiễm môi trường.

 

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

 

a) Buộc tiêu hủy thuốc đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 và Điểm a, Khoản 3 Điều này;

 

b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Khoản 3 Điều này.

 

3.   

Ông Nguyễn Văn Nam, trú tại phường Chi lăng, thành phố Láng Sơn hỏi: Tôi được biết Hiến pháp năm 2013 có nhiều quy định mới về quyền con người, đề nghị Đài cho biết rõ hơn về vấn đề này?

 

Trả lời:

 

Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II Hiến pháp năm 2013) Hiến pháp khẳng định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hoá, xã hội được thể hiện trong quyền công dân (Điều 50). Hiến pháp đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 14). Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải “theo quy định của luật”.

 

- Khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15).

 

- Tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người

 


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 18 tháng 11 năm 2014

 

1.Bà Trương Thị Thanh, sinh năm 1963, trú tại thôn Nà Nùng, xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị một người cùng thôn vu khống cho tôi 2 lần là ăn trộm và ném đá vào mái nhà người khác làm ảnh hưởng đến danh dự của tôi, vậy tôi phải làm gì để khởi kiện người đó ra Tòa án đòi bồi thường danh dự, nhân phẩm cho tôi?

 

Trả lời:

 

            Vấn đề bà hỏi, chúng tôi xin trả lời như sau:

 

            Về dân sự: Theo quy định điều Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

 

  Về Hình sự: Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về Tội vu khống như sau:

 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 7 năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

c) Đối với nhiều người;

 

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

 

đ) Đối với người thi hành công vụ;

 

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm.

 

            Căn cứ quy định trên, nếu có căn cứ, bà có thể làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc khởi kiện vụ án dân sự hoặc làm đơn tố cáo đến Công an  huyện Cao Lộc để giải quyết theo quy định của pháp luật.

 

2. Bà Hoàng Thị Phay, trú tại thôn Hoàng Sơn, xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi là bị hại trong vụ án hình sự số 33/2014/HSST ngày 26/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, người gây thiệt hại cho tôi phải chấp hành 6 tháng tù giam và bồi thường 20 triệu đồng cho tôi, nhưng đến nay đã qua 8 tháng tôi vẫn chưa nhận được tiền bồi thường. Vậy tôi phải làm gì để người bị hại bồi thường cho tôi theo phán quyết của Tòa án?

 

Trả lời:

 

Theo quy định Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về Đơn yêu cầu thi hành án thì người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án.

 

1. Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

 

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

 

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

 

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

 

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

 

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

 

2. Người làm đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân.

 

Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án.

 

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có.

 

3. Người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật này.

 

Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

 

Để được giải quyết đòi tiền bồi thường thiệt hại theo bản án đề nghị bà liên hệ đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn để gửi đơn yêu cầu thi hành án và làm các thủ tục theo quy định.

 

3. Nhắn tin:

 

Trong tuần qua, chúng tôi nhận được đơn của ông La Thái Bảo, trú tại thôn Nà Hai, xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình hiện đang công tác tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình. Ông Bảo hỏi và thắc mắc về chế độ xếp lương đối với ông, đơn của ông chúng tôi chuyển đến Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn xem xét, trả lời./.

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 11 tháng 11 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Trần Hồng và các hộ dân trú tại thôn Nà Soong, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Chúng tôi thuộc những hộ dân bị thu hồi đất để xây dựng Bến xe phía Nam thành phố Lạng Sơn, xin hỏi quy trình thu hồi đất được pháp luật quy định như thế nào, khi cơ quan nhà nước thu hồi không đúng quy trình chúng tôi phải khiếu nại đến đâu để được giải quyết?

Trả lời:

 

Theo đơn ông và các hộ dân trình bày thì việc thu hồi đất để xây dựng Bến xe phía Nam được thực hiện trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành, về trình tự thu hồi đất ở thời điểm này áp dụng theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

 

Theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giao đất, cho thuê đất được thực hiện như sau:

 

1. Về thẩm quyền quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất thực hiện theo quy định tại Điều 37 và Điều 44 của Luật Đất đai.

 

Trường hợp thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất thuộc thẩm quyền của một cấp thì việc thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất được thực hiện trong cùng một quyết định.

 

Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài và giao đất, cho thuê đất theo dự án cho chủ đầu tư trong cùng một quyết định.

 

2. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất, cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt và công bố công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định sau:

 

a) Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất liên quan từ hai quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên;

 

b) Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này;

 

c) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

 

3. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư.

 

4. Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

 

Trường hợp việc bồi thường được thực hiện theo tiến độ thì chủ đầu tư được nhận bàn giao phần diện tích mặt bằng đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ để triển khai dự án.

 

5. Trường hợp chủ đầu tư và những người bị thu hồi đất đã thỏa thuận bằng văn bản thống nhất về phương án bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất hoặc khu đất thu hồi không phải giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.

 

Theo quy định nêu trên, nếu cơ quan có thẩm quyền thực hiện không đúng quy trình về thu hồi đất và chi trả các chế độ theo quy định thì cá nhân, công dân bị thiệt hại có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật

 

 

 

2. Tôi được biết Nhà nước mới có quy định về nộp phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện, vậy quy định mới này có điểm gì mới và những đối tượng nào được miễn phí sử dụng đường bộ, việc kê khai được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

 

 

 Ngày 11/9/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 133/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện thay thế cho Thông tư số 197/2012/TT-BTC, Thông tư 133 có hiệu lực từ ngày 012/11/2014, theo đó:

 

Miễn phí sử dụng đường bộ đối với: Xe cứu thương, xe cứu hoả, xe chuyên dùng phục vụ tang lễ, xe chuyên dùng phục vụ quốc phòng (xe mang biển số: nền màu đỏ, chữ và số màu trắng dập chìm có gắn các thiết bị chuyên dụng cho quốc phòng), xe ô tô chuyên dùng phục vụ an ninh của các lực lượng công an (Bộ Công an; Công an tỉnh, thành phố; Công an quận, huyện,...), xe mô tô của lực lượng công an, quốc phòng, xe mô tô của chủ phương tiện thuộc các hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về hộ nghèo.

 

Mức phí đối với xe mô tô (không bao gồm xe máy điện): Loại có dung tích xy lanh đến 100 cm3 tối đa 100.000 đồng/năm (quy định cũ là từ 50.000 – 100.000 đồng); loại có dung tích xy lanh trên 100 cm3 tối đa 150.000 đồng/ năm (quy định cũ là từ 100.000 – 150.000 đồng).

 

Mức thu phí đối với xe ô tô của lực lượng quốc phòng: Xe ô tô con quân sự là 01 triệu đồng/vé/năm; xe ô tô vận tải quân sự là 1,5 triệu đồng/vé/năm.

 

Mức thu phí đối với xe ô tô của lực lượng công an: Xe dưới 7 chỗ ngồi 01 triệu đồng/vé/năm; Xe ô tô từ 7 chỗ ngồi trở lên, xe ô tô chuyên dùng (xe khám nghiệm hiện trường, xe thông tin, xe liên lạc di động chuyên dùng), xe vận tải đều có mức phí là 1,5 triệu đồng/vé/năm.

 

Chủ sở hữu xe ô tô đăng ký tại Việt Nam có quyền lựa chọn cách khai và nộp phí theo chu kỳ đăng kiểm, theo năm dương lịch (trước ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo, chủ phương tiện phải đến cơ quan đăng kiểm khai, nộp phí cho năm tiếp theo) hoặc theo tháng (áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải có số phí phải nộp từ 30 triệu đồng/tháng trở lên, hàng tháng, trước ngày 01 của tháng tiếp theo, doanh nghiệp, hợp tác xã phải đến cơ quan đăng kiểm khai, nộp phí cho tháng tiếp theo).

 

Chủ sở hữu xe mô tô tiện thực hiện khai, nộp phí như sau:

 

- Đối với xe phát sinh từ ngày 01/01 đến ngày 30/6 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 7 hàng năm (từ ngày 01/7 đến ngày 31/7).

 

- Đối với xe phát sinh từ ngày 01/7 đến ngày 31/12 hàng năm, chủ phương tiện khai nộp phí vào tháng 01 năm sau (chậm nhất ngày 31/01):

 

- Các năm tiếp theo không có biến động tăng, giảm xe, chủ phương tiện thực hiện nộp phí vào tháng 01 hàng năm (chậm nhất 31/01) mức thu phí 12 tháng cho cơ quan thu phí./.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 4 tháng 11 năm 2014

 

1. Bà Nguyễn Thị Môm, sinh năm 1932 trú tại thôn Còn Làng, xã Hồng Phong, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là mẹ liệt sĩ, được Nhà nước cấp thẻ Bảo hiểm y tế, vậy nếu tôi đi khám, cha bệnh thì có được miễn tiền viện phí hay không?

Trả lời:

 

Theo quy định tại khoản 15 Điều 12, điểm d khoản 1 Điều 13  Luật Bảo hiểm y tế quy định: “Thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng” thì sẽ do ngân sách Nhà nước đóng bảo hiểm y tế.

 

Về mức hưởng Bảo hiểm y tế hiện tại theo điểm d khoản 1 Điều 22 đối với thân nhân người có công là 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2015 thì  tại Điều 22 quy định Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau: “100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật này. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chi trả từ nguồn kinh phí bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh của nhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân sách nhà nước bảo đảm”.

 

Như vậy bà là mẹ liệt sĩ thuộc điểm i khoản 3 Điều 12 của Luật bảo hiểm y tế sửa đổi thì được Nhà nước thanh toán 100% tiền viện phí từ thời điểm 01/01/2015 trở đi nếu đáp ứng đủ các điều kiện khám chữa bệnh tại điều 26, 27, 28 của Luật này nhưng khám chữa bệnh phải đúng tuyến hoặc chuyển tuyến đúng quy định, có đầy đủ hồ sơ giấy tờ chứng minh nhân thân trong trường hợp cấp cứu thì được miễn 100% tiền viện phí.

 

 

 

 

 

 

2. Ông Vi Văn Cẳm, trú tại thôn Bản Lăm, xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng hỏi: Gia đình tôi cũng như nhiều hộ dân trong xã bị thiệt hại rất nhiều hoa màu, tài sản do cơn bão số 2 gây ra. Vậy đề nghị Đài cho biết, trung ương hỗ trợ tỉnh Lạng Sơn bao nhiêu tấn gạo, cấp phát cho huyện Chi Lăng bao nhiêu tấn, cấp phát cho người dân theo căn cứ thiệt hại nào?

 

Trả lời:

Ngày 4/9/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1570/QĐ-TTg về việc hỗ trợ gạo cứu đói cho tỉnh Lạng Sơn, theo đó Thủ tưởng Chỉnh phủ quyết định xuất cấp không thu tiền 1.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ Quốc gia cho tỉnh Lạng Sơn để cứu đói cho nhân dân bị thiệt hại do cơn bão số 2 gây ra. Bên cạnh đó Thủ tướng đã Quyết định số 1712/QĐ-TTg, ngày 24/9/2014 về việc hỗ trợ kinh phí khắc phục hậu quả cơn bão số 2 và mưa lũ, đã trích 195 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2014 để hỗ trợ 12 địa phương khắc phục hậu quả cơn bão số 2 và mưa lũ, theo đó tỉnh Lạng Sơn được hỗ trợ 50 tỷ đồng.

Ngày 16/9/2014 Cục Dự trữ Nhà nước Khu vực Hà Bắc đã có Công văn số 372/CDTHB-KH&QLHDT về việc xuất gạo DTQG hỗ trợ cho tỉnh Lạng Sơn để cứu trợ cho nhân dân bị thiệt hại do cơn bão số 2 gây ra năm 2014

Trên cơ sở đó thì UBND tỉnh Lạng Sơn đã có văn bản Giao Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND các huyện, thành phố chủ động liên hệ với Cục Dự trữ Nhà nước Khu vực Hà Bắc xây dựng kế hoạch tiếp nhận gạo và phân bổ cho các đơn vị theo Quyết định số 1439/QĐ-UBND ngày 12/9/2014 của UBND tỉnh về phân bổ gạo của Thủ tướng Chính phủ cứu trợ các hộ gia đình bị thiệt hại do cơn bão số 2.

Theo Quyết định 1439/QĐ-UBND ngày 12/9/2014 của UBND tỉnh Lạng Sơn thì các huyện được phân bổ gạo cụ thể như sau: Huyện Hữu Lũng: 40.000 kg gạo; huyện Chi Lăng: 73.600 kg gạo; huyện Cao Lộc: 170.000 kg gạo; huyện Văn Quan: 80.000 kg gạo; huyện Bình Gia: 80.000 kg gạo; huyện Bắc Sơn: 40.000 kg gạo; huyện Văn Lãng: 106.400 kg gạo; huyện Tràng Định: 170.000 kg gạo; huyện Lộc Bình: 170.000 kg gạo; huyện Đình Lập: 40.000 kg gạo; Thành phố: 30.000 kg gạo.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức tiếp nhận, thực hiện cấp gạo cứu đói cho nhân dân kịp thời, đúng đối tượng.

 

 

3. Bà Lê Thị Vui, trú tại thôn Bó Đy, xã Đồng Ý, huyện Bắc Sơn hỏi: Gia đình tôi có diện tích ruộng do bố mẹ để lại nhưng đến nay bị người khác lấn chiếm và kê khai làm sổ đỏ, chúng tôi đã làm đơn đến UBND xã để tiến hành hòa giải nhưng không thành, vậy tôi phải làm gì để đòi lại diện tích đất này?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013 thì: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các quy định trên, với vụ việc của ông tranh chấp đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi đã được hòa giải tại UBND xã thì ông có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn giải quyết theo thẩm quyền.

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014


1.Bà Mai Thị Lý, trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi muốn kinh doanh xăng dầu, vậy điều kiện để làm nhà phân phối xăng dầu hoặc điều kiện làm đại lý kinh doanh bán lẻ xăng dầu được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 09 năm 2014 của CHính phủ về Kinh doanh xăng dầu, tại Điều 13 quy định về Điều kiện đối với thương nhân phân phối xăng dầu như sau:

 

Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu:

 

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

 

2. Có kho, bể dung tích tối thiểu hai nghìn mét khối (2.000 m3), thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.

 

3. Có phương tiện vận tải xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng của thương nhân kinh doanh dịch vụ xăng dầu từ năm (05) năm trở lên.

 

4. Có phòng thử nghiệm thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc có hợp đồng dịch vụ thuê cơ quan nhà nước có phòng thử nghiệm đủ năng lực kiểm tra, thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng xăng dầu phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn công bố áp dụng.

 

5. Có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn từ hai (02) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, bao gồm tối thiểu năm (05) cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu, tối thiểu mười (10) cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

 

6. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

Điều 19. Điều kiện đối với đại lý bán lẻ xăng dầu

 

Thương nhân có đủ các điều kiện dưới đây được Sở Công Thương cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu (sau đây gọi tắt là đại lý):

 

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu.

 

2. Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc sở hữu và đồng sở hữu được cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu theo quy định tại Điều 25 Nghị định này.

 

3. Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

 

2. Ông Nguyễn Duy Hùng, trú tại khu dây thép, thị trấn Đồng Đăng hỏi: Hiện nay tôi thấy rất nhiều người tham gia bán hàng đa cấp từ mỹ phẩm đến thực phẩm chức năng, thậm chí điều trị chăm sóc sức khỏe mà ít thấy bị kiểm soát, khi chào hàng đa số người mới phải tham gia và mua một sản phẩm thì mới được làm đại lý tiếp theo và hưởng phần trăm, như vậy có đúng quy định không và những hành vi nào bị cấm trọng loại hình bán hàng này?

 

Trả lời:

 

Theo Điều 5 của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp​ thì Những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp bao gồm:

 

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

 

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

 

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

 

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

 

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

 

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo; i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

 

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

 

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

 

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

 

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

 

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

 

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

 

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

 

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

 

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

 

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

 

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

 

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.


Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014


1.Ông Đặng Hữu Dương, trú tại tổ 1 khối 8, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Năm 2005 tôi đã gửi đơn đến Phòng Lao động thương binh xã hội huyện xin cấp lại bằng tổ quốc ghi công của Liệt sĩ Đặng văn Trục, số bằng BZ 842B để hương khói cho liệt sĩ nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Vậy tôi phải làm gì, gửi đơn đến đâu để được giải quyết?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 05 năm 2013 của Bộ Lao động Thương binh và xã hội  Hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân

 

Tại Điều 51 quy định về Thủ tục đổi hoặc cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công” như sau:

 

1. Thân nhân liệt sĩ hoặc người thờ cúng liệt sĩ có đơn đề nghị (Mẫu TQ1) gửi Ủy ban nhân dân cấp xã.

 

2. Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 05 ngày có trách nhiệm xác nhận vào đơn đề nghị, tổng hợp và lập danh sách gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận các giấy tờ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này có trách nhiệm lập và gửi danh sách đổi hoặc cấp lại Bằng đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

 

4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận danh sách, có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ liệt sĩ, lập danh sách liệt sĩ có đầy đủ thông tin (Mẫu TQ2) gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Người có công) kèm công văn đề nghị.

5. Trong thời hạn 30 ngày từ ngày nhận công văn và danh sách, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm in Bằng, gửi Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ.

 

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tiếp nhận Bằng “Tổ quốc ghi công” từ Cục Người có công để chuyển đến gia đình liệt sĩ.

 

Như vậy, theo nội dung đơn của ông, gia đình ông có liệt sĩ đã được cấp bằng Tổ quốc ghi công số hiệu BZ 842B nhưng do làm mất, bị hư hỏng, rách nát thì gia đình làm thủ tục yêu cầu cấp lại, trình tự và thời hạn được quy định như trên. Đề nghị ông liên hệ đến UBND thị trấn Cao Lộc để giải quyết theo quy định.

 

 

2. Ông Lành Văn Giang, trú tại thôn Phai Rọ, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan hỏi: Năm 2013 gia đình tôi đã hiến 2.070m2 đất cho nhà nước làm đường  từ ngã 3 đầu chợ qua thôn Phai Rọ thẳng vào hàng Lùng Yên, nhưng trong quá trình thi công  đơn vị thi công không lắp cống thoát nước, do mặt đường cao hơn nền nhà của gia đình nên đợt mưa lũ vừa qua gây thiệt hại rất nặng nề cho gia đình. Vậy gia đình tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được bồi thường thiệt hại?

 

Trả lời:

 

Theo nội dung đơn ông trình bày, chúng tôi rất hoan nghênh gia đình đã có tấm lòng vì cộng đồng hiến hơn 2000m2 đất để nhà nước làm đường giao thông. Tuy nhiên theo gia đình phản ánh do đơn vị thi công không không lắp hệ thống cống thoát nước nên gây ảnh hưởng thiệt hại đến hoa màu, tài sản của gia đình.

 

Vấn đề này tại Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra như sau: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”.

 

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại: Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

Điều 607 quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

 

Như vậy, trong trường hợp của gia đình ông, nếu xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại tài sản của gia đình là do công trình làm đường gây ra thì gia đình có thể gửi đơn đến là chủ sở hữu công trình xây dựng hoặc phía đơn vị chịu trách nhiệm thi công, xây dựng công trình để cùng nhau xem xét, thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc có thể khởi kiện ra Tòa án theo quy định.

 

3. Ông Lê Xuân Thành 83 tuổi, trú tại thôn Cóoc Rặc, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Tôi sinh được 7 người con, 5 trai 2 gái, các con đều trưởng thành và có gia đình riêng, đối với 5 con trai tôi đều cho đất đai, tiền của và xây dựng nhà cửa đàng hoàng, duy chỉ có 2 người con gái tôi chưa cho được gì, nay tôi có căn nhà và giấy chứng nhận QSDĐ muôn để lại cho 2 người con gái trước khi qua đời. Vậy tôi phải làm như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật?

 

Trả lời:

 

Theo quy định của pháp luật dân sự thì khi ông là người đứng tên riêng trên Giấy chứng nhận QSDĐ thì ông có quyền làm thủ tục tặng cho con gái hoặc bất kỳ ai và giấy tặng cho phải được công chứng hoặc chứng thực theo pháp luật. hoặc ông có thể lập di chúc để lại di sản thừa kế cho con gái  của ông theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự (BLDS) “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

 

Quyền của người lập Di chúc (Điều 648 BLDS): Khi lập di chúc, người lập di chúc có quyền:

 

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

 

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

 

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

 

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

 

- Chỉ định người giữ Di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

 

Về hình thức Di chúc ( Điều 649 BLDS): Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập Di chúc bằng văn bản thì có thể Di chúc miệng.

 

* Nếu Di chúc được lập thành văn bản thì gồm có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm lập Di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập Di chúc; Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu Di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập Di chúc.

 

Nếu Di chúc bằng miệng, người viết Di chúc không thể tự mình viết bản Di chúc thì phải có 02 người làm chứng, trừ những đối tượng sau không được làm chứng (Người thừa kế theo Di chúc hoặc theo pháp luật của người lập Di chúc; Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung Di chúc; Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự).

 

Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.

 

Như vậy với quy định của pháp luật hiện hành thì ông có thể làm hợp đồng tặng cho choặc để lại tài sản của mình thông qua di chúc hợp pháp cho 2 con gái của ông.

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 14 tháng 10 năm 2014

 

1. Ông Nông Văn Hiểu, trú tại Bản Coong, xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Năm 1996 Gia đình tôi và một số hộ dân cùng thôn được UBND huyện Tràng Định giao đất lâm nghiệp, có sổ lâm bạ. Đến năm 2009, được UBND huyện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng diện tích đất ít hơn so với sổ lâm bạ trước đây, Vây chúng tôi phải khiếu nại đến cơ quan nào để được giải quyết?

 

Trả lời:

            Theo quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 về Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai thì:

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

          Theo quy định tại Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính”.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Trong trường hợp này Giấy chứng nhận QSDĐ do Chủ tịch UBND huyện cấp thì ông và các hộ gia đình liên quan có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Tràng Định để xem xét, giải quyết.

 

 

 

2. Bà Hoàng Thúy Hạnh, trú tại thôn Yên Thành, xã Yên Trạch hỏi: Vợ chồng tôi đang chung sống hợp pháp, nay chồng tôi đòi chia tài sản chung để kinh doanh riêng có được không? nếu vợ chồng tôi ly hôn nhau thì vấn đề nuôi con và chăm sóc con sau ly hôn được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Trong đời sống vợ chồng, có nhiều giao dịch cần đến sự đồng thuận của cả hai vợ chồng như chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, tặng cho…tài sản chung và sự thỏa thuận phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để đáp ứng nhu cầu kinh doanh riêng của mỗi bên. Tuy nhiên để đảm bảo sự thỏa thuận một cách hợp pháp thì phải đảm bảo tuân thủ những quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 bao gồm: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Trong trường hợp tình trạng hôn nhân trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thì một trong các bên được quyền gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án và đây cũng là căn cứ cho ly hôn. Hai bên có thể thỏa thuận về việc nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản và giải quyết các khoản nợ. Nếu không thỏa thuận được thì có thể đề xuất nguyện vọng của mỗi bên tại Tòa án. Tòa án sẽ xem xét tới nguyện vọng của hai bên, sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng để quyết định vấn đề này. Tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau:

Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vợ, chồng thỏa  thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa  thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa  thuận khác”.

 

3. Nhắn tin

Trong tuần qua chúng tôi nhận được đơn của bà Nông Thị Dung, trú tại thôn Lậu Cáy, xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng. Nội dung đơn bà Dung tố cáo chồng bà vi phạm Luật Hôn nhân gia đình. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Công an tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

 

 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 7 tháng 10 năm 2014

 

 

1. Ông Lâm Văn Ba, thôn Quảng Trung I, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có một mảnh đất tại thôn Pò Hé, xã Quảng Lạc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2000, nhưng hiện nay bị 3 gia đình ở cùng thôn lấn chiếm, tranh chấp. Vậy tôi phải gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyết?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013 thì: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các quy định trên, với vụ việc của ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi  hòa giải tại UBND xã không thành,  ông có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn giải quyết theo thẩm quyền.

 

 

2. Bà Nông Thị Lai, trú tại thôn Ngọc trí, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Gia đình tôi có thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, nay UBND huyện thu hồi để xây dựng nhà văn hóa thôn nhưng không được đền bù. Như vậy có đúng quy định không và gia đình tôi phải làm gì?

 

Trả lời:

Từ Điều 61 đến Điều 65 Luật Đất đai quy định các căn cứ thu hồi đất bao gồm: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Tại Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định: Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Nếu cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất của gia đình bà không tuân theo trình tự, thủ tục quy định thì bà có quyền làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Bình Gia hoặc làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Bình Gia theo quy định của Luật đất đai và Luật Tố tụng hành chính.

 

3. Nhắn tin

- Trong tuần qua chúng tôi đã nhận được đơn của bà Hoàng Thị Vinh, trú tại thôn Sông Sài, xã Đông Quan, huyện Lộc Bình, nội dung bà Vinh hỏi về việc con trai bà bị cô hiệu trưởng trường đánh phải đi viện điều trị, bà đã gửi đơn đến công an huyện và Phòng giáo dục huyện Lộc Bình nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh xem xét, giải quyết.

- Đơn của ông Hoàng Văn Luật, trú tại thôn Làng Bên, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng đề nghị tra cứu hồ sơ căn cước công dân của bà Hoàng Thị Chuyền sinh năm 1940, mất năm 1984 ở Bằng Mạc, Chi Lăng. Đơn chúng tôi chuyển đến Phòng Hồ sơ- Công an tỉnh Lạng Sơn xem xét, giải quyết.

- Đơn của ông Lâm Văn Luận, trú tại thôn Điểm Trên, xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng thắc mắc về việc thu tiền quỹ hội cha mẹ học sinh và việc sử dụng nguồn quỹ này. Đơn chúng tôi chuyển đến Thanh tra Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh xem xét, trả lời./.


 

 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 30 tháng 9 năm 2014

 

 1. Ông Nguyễn Mạnh Hà trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

"Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam.

 

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hành vi sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Về xử phạt vi phạm hành chính:

 

Điều 10 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo về quyền lợi người tiêu dùng quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với việc sản xuất, buôn bán hàng cấm, cụ thể như sau:

 

1. Đối với hành vi buôn bán hàng cấm quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định này, căn cứ vào giá trị của hàng cấm, người thực hiện hành vi vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 100 triệu đồng.

 

2. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định tại khoản 1 Điều này đối với hành vi sản xuất hàng cấm.

 

3. Các mức phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng xử phạt hành chính đối với:

 

a) Chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải có hành vi vận chuyển hàng cấm;

 

b) Chủ kho tàng, bến bãi, nhà ở có hành vi tàng trữ hàng cấm;

 

c) Người có hành vi giao nhận hàng cấm.

 

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

 

a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc và vật khác được sử dụng để sản xuất hàng cấm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này;

 

c) Tịch thu phương tiện vận tải được sử dụng để vận chuyển hàng cấm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp hàng cấm có giá trị từ 70.000.000 đồng trở lên hoặc vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

d) Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

đ) Đình chỉ hoạt động một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất vi phạm từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm;

 

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc tiêu hủy tang vật là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường, đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách và sức khỏe trẻ em và văn hóa phẩm độc hại đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

 

c) Buộc thu hồi tiêu hủy hàng cấm đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

 

Về xử lý hình sự:

 

Tại Điều 155 Bộ Luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, cụ thể như sau:

 

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

 

a) Có tổ chức;

 

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

 

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

 

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

 

đ) Hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn;

 

e) Tái phạm nguy hiểm.

 

3. Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn  hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

 

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

 2: Chị Hoàng Thanh Hương trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Mức lương tối thiểu vùng được áp dụng với những đối tượng nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định số 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động thì mức lương tối thiểu vùng được áp dụng đối với những đối tượng sau:

 

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động trả lương, bao gồm:

 

- Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).

 

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

 

Kể từ ngày 01/01/2014, mức lương tối thiểu vùng được áp dụng như sau:

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng I áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.700.000 đồng/tháng

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng II áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.400.000 đồng/tháng

 

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng III áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2.100.000 đồng/tháng


TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI Thứ ba, ngày 23 tháng 9 năm 2014

 

 

 1. Ông Phan Tuấn Anh trú thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi bị mất hết giấy khai sinh cả bản sao và bản chính, tôi có thể xin đăng ký lại được không ?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, thì việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi đã được đăng ký, nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì được đăng ký lại. Thẩm quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi trước đây thực hiện việc đăng ký lại.

 

Theo quy định tại Điều 48 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Khoản 13 Nghị định 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực, Thủ lục đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi cụ thể như sau:

 

1. Người có yêu cầu đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có); trong trường hợp không có bản sao giấy tờ hộ tịch, thì đương sự phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng sổ hộ tịch không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan.

 

2. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng loại việc và bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện hộ tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ.

 

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 03 ngày.

 

3. Khi đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi, nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi được ghi theo nội dung của bản sao giấy tờ hộ tịch đó.

 

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện tại.

 

Phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời điểm đăng ký lại việc sinh. Riêng phần ghi về quốc tịch của cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ đã được thôi quốc tịch Việt Nam, đã nhập quốc tịch nước ngoài, thì quốc tịch của cha, mẹ vẫn phải ghi quốc tịch Việt Nam; Quốc tịch hiện tại của cha, mẹ được ghi chú vào sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.

 

Trường hợp của ông không còn cả bản chính, bản sao hợp lệ giấy khai sinh trước đây, cần đối chiếu các quy định nêu trên để đăng ký lại việc sinh của mình. Ông có thể đăng ký lại việc sinh tại UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh lần đầu hoặc đăng ký lại việc sinh tại UBND cấp xã nơi cư trú hiện nay.

 

 

 

 

 2. Ông Lê Hữu Khôi trú phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất hộ chiếu của mình nhưng tôi chưa khai báo với cơ quan có thẩm quyền. Vậy nếu tôi không khai báo thì tôi có bị xử phạt gì không?

 

 

 

 

 Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có nêu rõ:

 

"2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

 

a) Không thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền về việc mất, hư hỏng hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú;

 

b) Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch hình thức, nội dung ghi trong hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực, thẻ tạm trú và thẻ thường trú;

 

c) Khai không đúng sự thật để được cấp hộ chiếu, giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú hoặc giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam;

 

d) Người nước ngoài đi vào khu vực cấm, khu vực nhà nước quy định cần có giấy phép mà không có giấy phép hoặc đi lại quá phạm vi, thời hạn được phép;

 

đ) Không xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu hoặc giấy tờ có liên quan đến xuất nhập cảnh khi nhà chức trách Việt Nam yêu cầu; không chấp hành các yêu cầu khác của nhà chức trách Việt Nam về kiểm tra người, hành lý;

 

e) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 15 ngày trở xuống mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

 

g) Cho người nước ngoài nghỉ qua đêm nhưng không khai báo tạm trú, không hướng dẫn người nước ngoài khai báo tạm trú theo quy định hoặc không thực hiện đúng các quy định khác của cơ quan có thẩm quyền."

 

Như vậy, nếu ông không khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc mất hộ chiếu thì sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

 

 

 

 

 

3. Chị Nguyễn Thị Quyên trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: Tiền lương đối với viên chức đang thực hiện chế độ tập sự được quy định như thế nào?

 

 

 

 

 

Trả lời :

 

Điều 22 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức quy định như sau :

 

1. Trong thời gian tập sự, người tập sự được hưởng 85% mức lương của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng. Trường hợp người tập sự có trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ và chuyên ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm tuyển dụng thì người tập sự có trình độ thạc sĩ được hưởng 85% mức lương bậc 2, người tập sự có trình độ tiến sĩ được hưởng 85% mức lương bậc 3 của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng. Các khoản phụ cấp được hưởng theo quy định của pháp luật.

 

2. Người tập sự được hưởng 100% mức lương và phụ cấp của chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm tuyển dụng trong các trường hợp sau:

 

a) Làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

 

b) Làm việc trong các ngành, nghề độc hại, nguy hiểm;

 

c) Hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ.

 

3. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian xét nâng bậc lương.

 

4. Trong thời gian hướng dẫn tập sự, người hướng dẫn tập sự được hưởng hệ số phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 mức lương tối thiểu hiện hành.

 

5. Người hướng dẫn tập sự và người tập sự còn được hưởng các chế độ tiền thưởng và phúc lợi khác (nếu có) theo quy định của Nhà nước và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập.

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 16 tháng 9 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Cường trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hồ sơ đề nghị cấp và thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng theo quy định hiện nay như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 04/9/2012 về cấp Giấy phép xây dựng, Hồ sơ đề nghị cấp và thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng được quy định tại Điều 8 và Điều 14 của Nghị định, cụ thể như sau :

Điều 8. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng

Chủ đầu tư nộp trực tiếp 01 bộ hồ sơ cho cơ quan cấp giấy phép xây dựng. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng gồm:

1. Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng (theo mẫu đối với từng trường hợp, từng loại công trình).

2. Bản sao có chứng thực một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; giấy tờ về quyền sở hữu công trình, nhà ở, đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo; giấy ủy quyền, đối với trường hợp được chủ sở hữu công trình ủy quyền thực hiện sửa chữa, cải tạo; quyết định cho phép đầu tư xây dựng của cấp có thẩm quyền đối với công trình ngầm đô thị; quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

3. Hai bộ bản vẽ thiết kế do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực thực hiện và đã được chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt theo quy định. Mỗi bộ gồm:

a) Bản vẽ mặt bằng vị trí công trình trên lô đất, mặt bằng ranh giới lô đất, bản vẽ bình đồ (đối với công trình theo tuyến), sơ đồ đấu nối với hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào của công trình (giao thông, thoát nước);

b) Bản vẽ các mặt bằng, các mặt đứng, mặt cắt chủ yếu của công trình;

c) Bản vẽ mặt bằng móng, mặt cắt móng, các bản vẽ kết cấu chịu lực chính (móng, khung, tường, mái chịu lực);

d) Bản vẽ hệ thống PCCC đã được thẩm duyệt đối với công trình thuộc danh mục yêu cầu phải thẩm duyệt phương án phòng chống cháy, nổ theo quy định của pháp luật về PCCC;

đ) Đối với trường hợp sửa chữa, cải tạo thì phải có các bản vẽ về vị trí, hạng mục cần cải tạo, nếu có ảnh hưởng đến kết cấu công trình thì phải có báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng kết cấu cũ liên quan đến các hạng mục cải tạo và các biện pháp gia cố xác định đủ điều kiện để sửa chữa, cải tạo, kèm theo ảnh chụp hiện trạng công trình xin phép cải tạo và công trình lân cận.

4. Đối với trường hợp lắp đặt thiết bị hoặc kết cấu khác vào công trình đã xây dựng, nhưng không thuộc sở hữu của chủ đầu tư thì phải có bản sao có chứng thực Hợp đồng với chủ sở hữu công trình.

5. Quyết định phê duyệt dự án kèm theo văn bản chấp thuận đầu tư của cơ quan có thẩm quyền, ý kiến bằng văn bản về thiết kế cơ sở (nếu có) của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định.

Điều 14. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng cấp đặc biệt, cấp I, cấp II; công trình tôn giáo; công trình di tích lịch sử - văn hoá; công trình tượng đài, tranh hoành tráng thuộc địa giới hành chính do mình quản lý; những công trình trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị; công trình thuộc dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; công trình thuộc dự án và các công trình khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình còn lại và nhà ở riêng lẻ ở đô thị thuộc địa giới hành chính do mình quản lý, trừ các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này.

3. Ủy ban nhân dân xã cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ tại những điểm dân cư nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được duyệt thuộc địa giới hành chính do mình quản lý.

 

Câu 2. Bà Vy Thị Phấn trú tại xã Thanh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi:   Người không phải hòa giải viên có được tham gia hòa giải không?

 

Trả lời:

Theo Điều 19 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013, trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng , chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải. Người được mời tham gia hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở. Cơ quan, tổ chức có người được mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia hòa giải.

 Như vậy, người không phải hòa giải viên có thể được tham gia hòa giải. Trong quá trình hòa giải, người đó có trách nhiệm tôn trọng các nguyên tắc hòa giải pháp luật quy định.

 

Câu 3. Ông Lê Hoàng Tuấn trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi : Tôi đang thuê quyền sử dụng đất của Nhà nước trong thời hạn 30 năm, trả tiền hàng năm, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy trong thời gian thuê đất, tôi có quyền được đem thế chấp quyền sử dụng đất hay không ?

 

Trả lời:

Khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

b) Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

c) Để thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận thừa kế, người được tặng cho tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

d) Cho thuê tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định của pháp luật về dân sự;

đ) Thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;

e) Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Theo quy định nêu trên, khi được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm, ông chỉ được quyền thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê  mà  không được quyền thế chấp quyền sử dụng đất thuê đó.

 



 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 9 tháng 9 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Lê Văn Hùng trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi : Một người muốn nhận người khác làm con nuôi thì cần phải có điều kiện gì và thủ tục nhận nuôi con nuôi như thế nào?

 

Trả lời:

 

Về điều kiện để nhận nuôi con nuôi: Được quy định tại Điều 14, Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể như sau:

 

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

 

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

 

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

 

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

 

d) Có tư cách đạo đức tốt.

 

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

 

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

 

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

 

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

 

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

 

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

 

Thủ tục nhận nuôi con nuôi :

 

Hồ sơ nhận nuôi con nuôi:

 

Theo quy định tại điều 17, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

 

1. Đơn xin nhận con nuôi;

 

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

 

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

 

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

 

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Nuôi con nuôi:

 

1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

 

a) Giấy khai sinh;

 

b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

 

c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

 

d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

 

đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

 

Điều 19 Luật Nuôi con nuôi quy định việc nộp hồ sơ, thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi :

1. Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.

 

2. Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Quốc Khánh trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Khi xây dựng nhà ở gây thiệt hại đến công trình liền kề thì sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị quy định việc xử lý công trình xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư, cụ thể như sau:

 

1. Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:

 

a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại tòa án;

 

b) Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại.

 

2. Trường hợp công trình xây dựng gây ô nhiễm môi trường khu vực lân cận, để vật tư, vật liệu và thiết bị thi công gây cản trở giao thông công cộng thì phải ngừng thi công xây dựng; chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng phải có biện pháp khắc phục hậu quả; việc thi công xây dựng chỉ được phép tiếp tục khi chủ đầu tư, nhà thầu thi công đã hoàn thành việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường khu vực lân cận.

 

3. Trường hợp chủ đầu tư, nhà thầu thi công không thực hiện các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì bị đình chỉ thi công xây dựng, đồng thời, áp dụng biện pháp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định này cho đến khi chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng hoàn thành việc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại.

 

Thêm vào đó, tại Điều 627 - Bộ luật Dân sự 2005 quy định Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, cụ thể như sau:

 

Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.


 

Trả lời bạn nghe đài Thứ ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

 

Câu 1. Bà Lương Thị Mai  trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi : Mức án phí khi ly hôn tại tòa án hiện nay quy định như thế nào?

Trả lời :

Theo quy định tại Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội  và Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao, thì án phí dân sự sơ thẩm cho một vụ ly hôn hiện nay áp dụng theo mức Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.

Trong trường hợp có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP, cụ thể như sau :

 

1. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh (Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch), còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

2. Trường hợp vợ chồng yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu của vợ, chồng, thì người có nghĩa vụ về tài sản phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ phải chịu; nếu họ không thỏa thuận chia được với nhau mà gộp vào tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết thì mỗi người phải chịu án phí dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

3. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ về tài sản đối với người khác và người này có yêu cầu độc lập, yêu cầu vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập đó thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau:

a) Người có yêu cầu độc lập không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng;

b) Vợ chồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị phần tài sản mà họ có nghĩa vụ đối với người có yêu cầu độc lập;

c) Vợ chồng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị phần tài sản mà họ có nghĩa vụ đối với người có yêu cầu độc lập.

Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch quy định như sau:

1.  Giá trị tài sản có tranh chấp từ 4.000.000 đồng trở xuống: Mức án phí là 200.000 đồng;

2.  Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng: Mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp;

3. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng: Mức án phí là 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng;

4. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng: Mức án phí là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng;

5. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng: Mức án phí là 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

6. Giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 4.000.000.000 đồng: Mức án phí là 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

 

Câu 2. Bà Hoàng Thị Nguyệt trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi : Để mở một cơ sở bán lẻ thuốc chữa bệnh, chủ cơ sở cần phải có những điều kiện chuyên môn như thế nào?

Trả lời :

Điều kiện chuyên môn của chủ cơ sở bán lẻ thuốc, người bán lẻ thuốc được quy định tại Điều 25 Luật Dược 2005:

1. Điều kiện chuyên môn của chủ cơ sở bán lẻ thuốc được quy định như sau:

a) Nhà thuốc phải do dược sĩ có trình độ đại học đứng tên chủ cơ sở;

b) Quầy thuốc phải do dược sĩ có trình độ từ trung học trở lên đứng tên chủ cơ sở;

c) Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp phải do người có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên đứng tên chủ cơ sở;

d) Tủ thuốc của trạm y tế phải do người có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên đứng tên chủ cơ sở; trường hợp chưa có người có chuyên môn từ dược tá trở lên thì phải có người có trình độ chuyên môn từ y sỹ trở lên đứng tên;

đ) Cơ sở bán lẻ thuốc chuyên bán thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phải do dược sĩ có trình độ trung học trở lên hoặc người có văn bằng, chứng chỉ về y học cổ truyền hoặc dược học cổ truyền đứng tên chủ cơ sở.

2. Người bán lẻ thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều này phải có trình độ chuyên môn từ dược tá trở lên; tại điểm d khoản 1 Điều này phải có chuyên môn về y, dược.

Như vậy, khi mở cơ sở bán lẻ thuốc, dù ở bất cứ hình thức nào: nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý bán thuốc,…chủ cơ sở bán lẻ thuốc phải có trình độ chuyên môn theo quy định. Ngoài ra kinh doanh thuốc là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc (sau đây gọi chung là cơ sở kinh doanh thuốc) phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc. Cơ sở kinh doanh thuốc được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự có trình độ chuyên môn cần thiết cho từng hình thức kinh doanh thuốc;

- Người quản lý chuyên môn về dược đã được cấp Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp với hình thức kinh doanh.

 

Câu 3. Bà Lê Thị Tuyến trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi : Tôi cho người khác vay tiền bằng giấy viết tay, đã quá hạn mà người đó không chịu trả, tôi có khởi kiện tại Tòa án được không ?

Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự : Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

Điều 471 quy định : Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy hợp đồng vay tài sản không thuộc trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép.

Trong trường hợp này người vay không trả nợ theo đúng thời hạn đã thỏa thuận thì bà có quyền yêu cầu bên vay thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ này. Nếu bên vay cố tình không thực hiện nghĩa vụ thì bà có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án xem xét giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đơn khởi kiện gửi đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú. Theo điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự, đơn khởi kiện phải đầy đủ các nội dung:

- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

- Tên, địa chỉ của người bị kiện;

- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

Kèm theo đơn khởi kiện bà phải gửi các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.


Trả lời bạn nghe Đài
Thứ ba, ngày 26 tháng 8 năm 2014

 

Câu 1. Ông Hoàng Văn Tiến trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi : Tòa án huyện đã có bản án xử buộc ông Minh trả lại số tiền đã vay của tôi là 150 triệu đồng. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên ông Minh vẫn chưa trả cho tôi số tiền trên, tôi phải làm thế nào để có thể lấy lại số tiền trên? 

 

Trả lời :

Trong trường hợp của ông, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết.

Các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự, cụ thể như sau :

1. Thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

2. Thẩm quyền thi hành án: Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

- Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

- Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

- Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.

 

3. Thủ tục yêu cầu thi hành án:

- Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức: Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc Gửi đơn qua bưu điện.

* Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh.

- Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn.

- Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.

- Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

- Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Hết thời hạn này người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

 

Câu 2. Anh Phạm Văn Định trú tại xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng hỏi : Quy định của pháp luật hiện nay về việc tham gia lực lượng dân quân tự vệ như thế nào?

Theo Luật dân quân tự vệ 2009 thì:

- Công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện tham gia dân quân tự vệ thì có thể đến 50 tuổi đối với nam, đến 45 tuổi đối với nữ (Điều 9).

- Thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nồng cốt là 04 năm.

Điều 11. Tiêu chuẩn và tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt:

1. Công dân Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây được tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt:

a) Lý lịch rõ ràng;

b) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

c) Đủ sức khỏe thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có khả năng hoạt động trên biển được tuyển chọn vào dân quân tự vệ biển.

3. Việc tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt được quy định như sau:

a) Bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng;

b) Hằng năm, Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) chỉ đạo và hướng dẫn Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở hoặc đơn vị tự vệ nơi không có Ban chỉ huy quân sự lập kế hoạch và thực hiện tuyển chọn công dân đủ tiêu chuẩn vào dân quân tự vệ nòng cốt phù hợp với tình hình địa bàn, dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa phương, cơ sở.

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định danh sách dân quân tự vệ nòng cốt.

4. Quân nhân dự bị chưa sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên được biên chế vào đơn vị dân quân tự vệ.

Điều 12. Tạm hoãn, miễn, thôi trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong thời bình

1. Tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi;

b) Không đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;

c) Có chồng hoặc vợ là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ trong Quân đội nhân dân hoặc Công an nhân dân;

d) Lao động chính duy nhất trong hộ gia đình nghèo;

đ) Người đang học ở trường phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, cao đẳng nghề, đại học và học viện.

2. Miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt trong các trường hợp sau đây:

a) Vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; vợ hoặc chồng, con của thương binh hạng một hoặc bệnh binh hạng một; vợ hoặc chồng, con của người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin không còn khả năng lao động;

b) Quân nhân dự bị đã được xếp vào đơn vị dự bị động viên;

c) Người trực tiếp nuôi dưỡng người bị mất sức lao động từ 81% trở lên.

3. Trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xét tuyển chọn vào dân quân tự vệ nòng cốt.

4. Dân quân tự vệ nòng cốt được thôi thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn trong các trường hợp sau đây:

a) Sức khỏe bị suy giảm không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt theo kết luận của cơ sở y tế từ cấp xã trở lên;

b) Hoàn cảnh gia đình khó khăn đột xuất không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ.

5. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định tạm hoãn, miễn và thôi trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ nòng cốt.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 19 tháng 8 năm 2014


 

 

Câu 1. Ông Nguyễn Đức Hiển trú tại phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn hỏi : Cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để điều tra thì việc chi trả tiền lương trong thời gian này được thực hiện như thế nào?

 

Trả lời :

Khoản 2 Điều 81 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ”.

Để hướng dẫn cho quy định này, điều 24 Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định:

1. Trong thời gian tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật thì công chức được hưởng 50% của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).

2. Trường hợp công chức không bị xử lý kỷ luật hoặc được kết luận là oan, sai thì được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

3. Trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị Tòa án tuyên là có tội thì không được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

 

Câu 2. Bà Hoàng Minh Nguyệt trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi : Tôi được bạn giới thiệu tham gia vào công ty bán hàng đa cấp về thực phẩm chức năng. Phía công ty yêu cầu tôi mua một số sản phẩm với giá trị khoảng 10 triệu đồng thì mới được tham gia. Xin hỏi việc làm của công ty đó có đúng không?

Theo Điều 5 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ quy định về những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp, cụ thể như sau :

1. Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình;

d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất kỳ hình thức nào;

đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng;

g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác;

h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo;

i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này;

k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó;

l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào;

m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

n) Cản trở người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này;

o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp;

q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp;

r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;

s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.

2. Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp;

c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản;

d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.

Theo quy định trên, công ty mà bà tham gia đã yêu cầu bà bỏ ra số tiền khoảng 10 triệu để mua hàng như vậy là trái với quy định của Pháp luật.

 

 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 12 tháng 8 năm 2014

 

 

Câu 1. Ông Nguyễn Văn Phương trú tại xã Mai Pha, TP Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật thì những trường hợp nào bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

 

Trả lời:

 

Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

 

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

 

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

 

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

 

Tại khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định : 

 

“4. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

 

a) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;

 

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

 

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này;

 

d) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;

 

đ) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.”

 

Câu 2. Ông Vi Văn Tâm, trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn hỏi: Hồ sơ dự tuyển viên chức cần có các giấy tờ gì?

 

Trả lời:

 

Theo Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức, tại Điều 2 quy định về Hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức bao gồm các giấy tờ sau:

 

1. Đơn đăng ký dự tuyển viên chức theo mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

 

2. Bản Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ dự tuyển;

 

3. Bản sao các văn bằng, chứng chỉ và kết quả học tập theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp có văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp phải được công chứng dịch thuật sang tiếng Việt;

 

4. Giấy chứng nhận sức khỏe còn giá trị sử dụng do cơ quan y tế đủ điều kiện được khám sức khỏe chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 13/2007/TT-BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn khám sức khỏe;

 

5. Giấy chứng nhận thuộc đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng viên chức (nếu có) được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực.

 

Ngày 20/6/2014 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Theo nội dung Chỉ thị thì:

 

- Các cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu;

 

- Khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực.

 

Câu 3. Nhắn tin: Trong tuần qua Đài chúng tôi đã nhận được đơn thư của các ông (bà) có tên sau:

1. Đơn của ông Hoàng Văn Tiến, trú tại thôn An Dinh II, xã Tân Liên, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Công an huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết.

 

2. Đơn của bà Bà Lưu Kim Oanh, trú tại số nhà 74 Khu 2 thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định thắc mắc về việc chi trả tiền cấp dưỡng cho con sau ly hôn. Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định xem xét, giải quyết.

 

3. Đơn của ông Nông Văn Mỵ, trú tại thôn Kéo Ái, xã Trấn Ninh, huyện Văn Quan đề nghị xem xét giải quyết về chế độ cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ. Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Ban Chỉ huy quân sự huyện Văn Quan xem xét, trả lời.

 

4. Đơn của bà Lộc Thị Tầu, trú tại Bản Luồng, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình thắc mắc về việc hỗ trợ cho hộ nghèo, Đơn của bà chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Tú Mịch,  huyện Lộc Bình xem xét, trả lời.

 

5. Chúng tôi đã chuyển Đơn của bà La Thị Pẹng trú tại xóm Chang Khuổi, xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc đến UBND huyện Cao Lộc xem xét, giải quyết.

 

6. Chúng tôi đã nhận được Đơn của ông Triệu Văn Lan, trú tại thôn Trung, xã Yên Phúc, huyện Văn Quan về chế độ của người tham gia kháng chiến; đề nghị ông liên hệ với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn để được hướng dẫn.

 

7. Đơn kiến nghị của các hộ dân sinh sống tại Tổ 2, khối 1, Đường Bắc Sơn, phường Vĩnh Trại và đơn của ông Vũ Công Kiên, trú tại số nhà 10, ngõ 6, khối 2, đường Nguyễn Du, phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn. Đơn cũng đã đồng thời được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 5 tháng 8 năm 2014

 

Câu 1. Ông Lê Văn Chính trú tại phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn hỏi: Gia đình tôi dự định chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất.Vậy thu nhập tính thuế từ việc chuyển nhượng bất động sản trong trường hợp này được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Theo Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, ngoại trừ một số trường hợp được miễn thuế quy định tại Điều 4 thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (BĐS) là loại thu nhập phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ Điều 19, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP thì thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng BĐS là quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai được quy định như sau:

1. Thu nhập tính thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ (-) giá vốn và các chi phí hợp lý liên quan.

2. Giá chuyển nhượng được xác định cụ thể như sau:

 a) Giá chuyển nhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng;

b) Trường hợp hợp đồng không ghi giá chuyển nhượng hoặc giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng được xác định như sau: Phần giá trị đất chuyển nhượng được xác định căn cứ theo bảng giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng; phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc gắn liền với đất được xác định căn cứ theo giá tính lệ phí trước bạ nhà do UBND cấp tỉnh quy định. Trường hợp UBND cấp tỉnh không có quy định giá tính lệ phí trước bạ nhà thì căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà, về tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản, về giá trị còn lại thực tế của công trình trên đất. Đối với công trình xây dựng hình thành trong tương lai thì được xác định căn cứ vào tỷ lệ góp vốn trên tổng giá trị hợp đồng nhân (x) với giá tính lệ phí trước bạ công trình xây dựng do UBND cấp tỉnh quy định. Trường hợp UBND cấp tỉnh chưa có quy định về đơn giá thì áp dụng theo suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố, đang áp dụng tại thời điểm chuyển nhượng.

3. Giá vốn được xác định căn cứ vào giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm mua. Đối với các trường hợp BĐS không có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng thì căn cứ vào hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng BĐS.

4. Chi phí hợp lý liên quan là các khoản chi phí thực tế phát sinh và có chứng từ, hóa đơn hợp pháp, bao gồm:

a) Các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến cấp quyền sử dụng đất;

b) Chi phí cải tạo đất, san lấp mặt bằng;

c) Chi phí sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng trên đất;

d) Các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng.

Thuế suất:

Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được quy định tại Điều 22 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, cụ thể như sau:

1. Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là 25% trên thu nhập tính thuế.

2. Trường hợp người nộp thuế không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định giá vốn và chứng từ hợp pháp xác định các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng.

 

Câu 2. Ông Hoàng Văn Duy trú tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan hỏi: Gia đình tôi muốn chuyển 4.000 m2 đất hiện nay đang trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản có được không, thủ tục thực hiện như thế nào?

Về việc chuyển mục đích sử dụng đất, Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:

1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng.

Như vậy, nếu thửa đất ông đang sử dụng đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì ông đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất nuôi trồng thủy sản.

Về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong trường hợp này là UBND cấp huyện theo quy định tại khoản 2, Điều 59 Luật Đất đai 2013:

- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

+ Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

+ Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

Về trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại Điều 69 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, cụ thể như sau:

1. Người sử dụng đất nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

3. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

 

 

 


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 7 năm 2014

 

 

Câu 1. Bà Hoàng Thị Linh trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Tôi là người được thi hành án dân sự, nhưng ngoài phần của tôi, người phải thi hành án còn phải thi hành đối với nhiều người khác, vậy thứ tự thanh toán tiền thi hành án được pháp luật quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, thứ tự thanh toán tiền thi hành án cụ thể như sau:

1. Số tiền thi hành án, sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này, được thanh toán theo thứ tự sau đây:

a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần;

b) Án phí;

c) Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định.

2. Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:

a) Việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;

b) Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán.

Số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án.

3. Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án.

4. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.

5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Câu 2. Bà Hoàng Thị Bảy trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi : Người có hành vi lấn chiếm lòng lề đường để kinh doanh, buôn bán thì bị xử phạt như thế nào?      

Điều 12 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ qui định việc Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ, cụ thể như sau:

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm e Khoản 4 Điều này.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông;

c) Chiếm dụng dải phân cách giữa của đường đôi làm nơi: Để xe; trông, giữ xe; bày, bán hàng hóa; để vật liệu xây dựng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm d Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Dựng lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

c) Họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày, bán hàng hóa, sửa chữa xe, rửa xe, đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo, làm mái che trên lòng đường đô thị, hè phố hoặc thực hiện các hoạt động, dịch vụ khác trái phép trên lòng đường đô thị, hè phố gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều này;

d) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều 20 Nghị định này;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

đ) Dựng lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ, gầm cầu vượt;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

g) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe.

5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường trong đô thị;

b) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

b) Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ không được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

c) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

7. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức xây dựng công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

8. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5, Khoản 6, Khoản 7 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hóa và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.

 



Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

 

 

Câu 1. Chị Nguyễn Thu Thảo trú tại thị trấn Đồng Đăng huyện Cao Lộc hỏi: Nhà hàng sử dụng thực phẩm để chế biến đã quá hạn sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010, tại khoản 2 Điều 5 nghiêm cấm những hành vi: Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm.

 

Tại Khoản 2, 5 Điều 5 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, những hành vi sử dụng thực phẩm để chế biến đã quá hạn hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ sẽ bị xử phạt như sau:

 

- Phạt tiền bằng 100% đến 120% tổng giá trị thực phẩm vi phạm tại thời điểm vi phạm đối với hành vi sử dụng nguyên liệu thực phẩm, nguyên liệu làm phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng đối với nguyên liệu thực phẩm, nguyên liệu làm phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm thuộc diện bắt buộc phải ghi thời hạn sử dụng để sản xuất, chế biến thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm nhưng số tiền phạt không vượt quá 100.000.000 đồng.

 

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không có giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định để sản xuất, chế biến thực phẩm.

 

Mức phạt tiền trên là mức phạt đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 02 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 2 và từ 02 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại Khoản 5 Điều này;

 

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

 

Câu 2. Ông Lý Văn Bằng trú tại xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định của pháp luật hiện nay về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015, cụ thể như sau:

 

- Ở nông thôn:

 

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

 

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.

 

- Ở thành thị:

 

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

 

+ Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.

 

Câu 3. Ông Lê Văn Tú trú tại thị trấn Hữu lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Người điều khiển ô tô, xe máy tham gia giao thông có uống bia, rượu thì bị xử phạt như thế nào?

 

Theo quy định tại điểm b Khoản 5, điểm b Khoản 7, điểm a Khoản 8 Điều 5; điểm b Khoản 5, điểm e Khoản 6 Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể xử phạt người có nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở mà điều khiển ô tô, xe máy như sau:

 

1. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô:

 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7, Điểm a Khoản 8 Điều này;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng; trường hợp vi phạm mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

 

- Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

2. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy:

 

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng; trường hợp vi phạm mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

 

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

+ Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng;

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

 

Câu 1. Ông Hoàng Tuấn Khanh trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: thời hạn thụ lý, chuẩn bị xét xử vụ án dân sự; Trường hợp nào coi là vụ án có tính chất phức tạp?

 

Trả lời:

 

 Về thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự như sau: 

 

1. Thủ tục nhận đơn khởi kiện (quy định tại Điều 167 Bộ luật Tố tụng dân sự):

 

Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

 

- Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

 

- Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

 

- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

 

2.  Thời hạn chuẩn bị xét xử (quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự):

 

2.1 - Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

 

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; (Điều 25- Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 27- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án).

 

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. (Điều 29- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Điều 31- Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án).

 

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b nêu trên.

 

2.2 - Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTDS, tuỳ từng trường hợp, Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

 

+ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

 

+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

 

+ Đình chỉ giải quyết vụ án;

 

+ Đưa vụ án ra xét xử.

 

2.3 - Nếu Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

 

3. Vụ án có tính chất phức tạp theo quy định nêu trên: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự:

 

 “Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Đức Thịnh trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Trường hợp tự ý thay đổi kết cấu xe sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 55 Luật giao thông đường bộ năm 2008 về bảo đảm quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ đã quy định rõ:

 

1. Việc sản xuất, lắp ráp, cải tạo, sửa chữa, bảo dưỡng và nhập khẩu xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phải tuân theo quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Không được cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

 

2. Chủ phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

 

Điều 30 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (Tại điểm a khoản 1; điểm a, điểm b khoản 2; điểm c khoản 3; điểm a, điểm b khoản 7; điểm b khoản 8; điểm a, điểm b khoản 9 quy định cụ thể về mức phạt tiền cũng như các hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả đối với những trường hợp tự ý thay đổi kết cấu xe khi không được phép của cơ quan có thẩm quyền) cụ thể như sau:

 

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe;

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

 

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;

 

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe;

 

7. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

 

b) Cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

 

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

 

b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu phương tiện.

 

9. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

 

a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản 1; Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 7 năm 2014


 

Câu 1. Ông Hoàng Đức Thanh trú tại xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia hỏi: Những trường hợp nào không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014.

Ngày 15/5/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại Điều 19 Nghị định này quy định

7 trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau :

1. Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai.

2. Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

3. Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

4. Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng.

5. Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

6. Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

 

Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp

Điều 44 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014  quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. Theo đó, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối của mỗi hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp được áp dụng đối với các hình thức nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:

1. Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối:

a) Không quá 30 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 20 héc ta cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại.

2. Đất trồng cây lâu năm:

a) Không quá 100 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

3. Đất rừng sản xuất là rừng trồng:

a) Không quá 150 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng;

b) Không quá 300 héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì tổng diện tích được nhận chuyển quyền trong hạn mức đối với mỗi loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) bằng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất cao nhất.

5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp bao gồm nhiều loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối) thì hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đó được xác định theo từng loại đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này.

6. Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2007 thì phần diện tích đất vượt hạn mức được tiếp tục sử dụng như đối với trường hợp đất nông nghiệp trong hạn mức nhận chuyển quyền.

7. Hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này mà đã đăng ký chuyển quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng đất và chỉ phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước đối với phần diện tích vượt hạn mức nhận chuyển quyền.

Câu 2. Bà Nguyễn Thị Hồng trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi: Người lao động đang nghỉ chế độ thai sản có phải đóng bảo hiểm thất nghiệp không?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ  quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể như sau:

Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc sau đây với người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 người lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn

- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng

- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội; người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Như vậy, người lao động đang trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 7 năm 2014

 


 Câu 1. Ông Vũ Văn Đông trú tại xã Mai Pha, TP Lạng Sơn hỏi : Trường hợp nào thì được coi là tai nạn lao động, người bị tai nạn lao động được hưởng chế độ như thế nào ?

 

Trả lời :

Theo quy định tại Điều 142 Bộ Luật Lao động : Tai nạn lao động (TNLĐ) là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động (NLĐ), xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

Tại Điều 39 Luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau :

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này. 

 

Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Điều 145 Bộ luật Lao động)

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

2. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì được người sử dụng lao động trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên.

3. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà không do lỗi của người lao động và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được người sử dụng lao động bồi thường với mức như sau:

a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm từ 5,0% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1,0% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

b) Ít nhất 30 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động.

4. Trường hợp do lỗi của người lao động thì người lao động cũng được trợ cấp một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 3 Điều này.

 

Giám định sau khi chữa trị

Sau khi điều trị, tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do TNLĐ, NLĐ được giám định và xếp hạng thương tật để hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng do quỹ BHXH trả.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật BHXH thì NLĐ bị TNLĐ được giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau: Sau khi thương tật, bệnh tật đã được điều trị ổn định; hoặc sau khi thương tật, bệnh tật tái phát đã được điều trị ổn định.

 

Trợ cấp TNLĐ do quỹ BHXH chi trả

Quy định về trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng, trợ cấp phục vụ, trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thời điểm nhận trợ cấp áp dụng theo các Điều 42, 43, 44, 46, 47 Luật BHXH:

- Trợ cấp 1 lần: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp 1 lần. Mức trợ cấp 1 lần như sau: Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung. Ngoài mức trợ cấp này, NLĐ còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp hàng tháng: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp hằng tháng như sau: Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung.

Ngoài mức trợ cấp này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ 1năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp phục vụ: Trường hợp NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng trợ cấp hằng tháng nêu trên, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

- Thời  điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng NLĐ điều trị xong, ra viện. Trường hợp thương tật tái phát, NLĐ được đi giám định lại mức suy giảm khả năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa.

- Trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung. 

 

Câu 2: Chị Lê Thị Hòa trú tại xã Hoàng Đồng, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi hiện đang làm cho một công ty, đã đóng bảo hiểm xã hội được 3 năm. Nếu tôi sinh con ngoài giá thú thì có được hưởng chế độ thai sản theo quy định của bảo hiểm xã hội không:

 

Trả lời:

Theo Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;

d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.

2. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Như vậy, pháp luật về bảo hiểm xã hội không có quy định nào hạn chế quyền hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con mà không có đăng ký kết hôn, vì vậy chị sẽ vẫn được hưởng chế độ thai sản như những phụ nữ khác nếu chị đáp ứng đủ 2 điều kiện về đối tượng được hưởng chế độ thai sản và thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ thai sản theo quy định nêu trên.

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 24 tháng 6 năm 2014

 

 

Câu 1: Bà Hoàng Thị Thu trú tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia hỏi:

 

Một người có hành vi trái pháp luật, gây thương tích nặng cho người khác sẽ bị mức phạt thế nào và phải bồi thường bao nhiêu?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

 

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

 

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

 

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

 

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

 

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

 

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

 

e) Có tổ chức;

 

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

 

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

 

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

 

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.

 

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

 

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

 

Như vậy căn cứ vào tỷ lệ thương tích đã gây ra cho người bị hại thuộc vào trường hợp nào thì Tòa án sẽ quyết định hình phạt theo quy định.

 

Bên cạnh việc có thể phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự thì người có hành vi gay thương tích cho người khác còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do sức khỏe bị xâm phạm. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bao gồm:

 

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

 

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

 

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

 

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

 

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

 

Câu 2: Bà Nguyễn Thị Vân trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong những trường hợp nào:


Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức, Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

 

a) Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ;

 

b) Viên chức bị buộc thôi việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 của Luật này ( khoản 1 Điều 57 quy định: Viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì bị buộc thôi việc, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật);

 

c) Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục, viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 06 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Khi sức khỏe của viên chức bình phục thì được xem xét để ký kết tiếp hợp đồng làm việc;

 

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn;

 

đ) Khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

 

Tại khoản 3 Điều 29 quy định những trường hợp người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức:

 

a) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

 

b) Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

c) Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 16 tháng 6 năm 2014

 

Câu 1: Ông Hoàng Mạnh Hà trú tại thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định hỏi: Căn cứ nào để phân biệt xe máy điện và xe đạp điện ? Người điều khiển xe máy điện không đăng ký thì bị xử phạt thế nào, thủ tục đăng ký xe máy điện?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại điểm d, điểm e khoản 1 Điều 3 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt thì:

 

- Xe máy điện là xe gắn máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn 4 kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h;

 

- Xe đạp máy là xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 25 km/h và khi tắt máy thì đạp xe đi được (kể cả xe đạp điện).

 

Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 39/2013/TT-BGTVT ngày 01/11/2013 Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xe đạp điện số hiệu QCVN 68: 2013/BGTVT.  Quy chuẩn này là căn cứ pháp lý - kỹ thuật quan trọng để kiểm tra, thử nghiệm và chứng nhận chất lượng các loại xe đạp điện sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu.

 

Theo quy chuẩn trên, xe đạp điện đạt tiêu chuẩn Việt Nam phải trang bị hai hệ thống phanh có cơ cấu điều khiển và dẫn động độc lập với nhau trong đó 01 hệ thống phanh tác động lên bánh trước và 01 hệ thống phanh tác động lên bánh sau; quãng đường phanh không được lớn hơn 4 m, khi vận hành bằng cơ cấu đạp chân, xe phải có khả năng đi được quãng đường 7 km trong thời gian không quá 30 phút. Xe có vận tốc thiết kế lớn nhất không vượt quá 25 km/h; xe phải có đèn chiếu sáng phía trước, tấm phản quang phía sau, thiết bị cảnh báo bằng âm thanh, thiết bị hiển thị mức năng lượng điện; khối lượng bản thân xe không được lớn hơn 40 kg và công suất động cơ điện của xe không được lớn hơn 250W.

 

Với xe máy điện, việc quản lý và kiểm soát được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng an toàn kỹ thuật đối với mô tô, xe gắn máy (Quy chuẩn 14).Theo đó, xe máy điện là phương tiện có vận tốc và động cơ lớn hơn xe đạp điện. Ngoài thiết kế lớn hơn, xe không có bàn đạp, tốc độ của xe máy điện được phép lưu thông đến 50km/h, công suất động cơ trên 250W và không lớn hơn 4 KW.

 

Theo quy định hiện nay xe máy điện phải đăng ký mới được lưu hành. Với những lỗi điều khiển xe máy điện không có còi, đèn soi, biển số hoặc điều khiển xe gắn biển số không đúng quy định sẽ bị phạt từ 80.000 - 100.000 đồng ; điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe theo quy định sẽ bị phạt 300.000-400.000 đồng và tạm giữ xe 7 ngày (quy định tại khoản 3 Điều 17 và điểm e khoản 1 Điều 75 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP)

 

Thủ tục đăng ký xe máy điện:

 

Theo quy định tại Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an ra ngày 4/4/2014 quy định về đăng ký xe thì Hồ sơ đăng ký xe máy điện gồm:

 

- Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu được phát tại nơi đăng ký xe)

 

- Giấy tờ của chủ xe (Chứng minh nhân dân, trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu);

 
- Giấy tờ của xe: 

+ Chứng từ nguồn gốc của xe: Phiếu Kiểm tra chất lượng xuất xưởng (đối với xe sản xuất lắp ráp trong nước) hoặc Giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới nhập khẩu (đối với xe nhập khẩu).

 

+ Hóa đơn bán xe;

 

+ Chứng từ nộp lệ phí trước bạ.

 

Về mức thu lệ phí đăng ký xe máy điện  áp dụng như mức thu của xe mô tô, xe gắn máy.

 

Hồ sơ nộp tại trụ sở Đội CSGT Công an huyện Tràng Định để làm thủ tục đăng ký, cấp biển số.

 

Đối với xe máy điện đã sử dụng trước ngày 01/7/2009 không có chứng từ nguồn gốc hoặc chứng từ chuyển nhượng không bảo đảm theo quy định, nếu chủ xe có cam kết (có xác nhận của chính quyền địa phương) thì được giải quyết đăng ký, cấp biển số xe. (khoản 12 Điều 23 Thông tu số 15/2014/TT-BCA).

 

Câu 2 : Ông Hoàng Văn Kiên trú tại xã Hồng Việt, huyện văn Lãng hỏi :

 

Đơn khởi kiện tại Tòa án để giải quyết đối với quyết định hành chính về quản lý đất đai bị Tòa án trả lại trong những trường hợp nào?

 

Trả lời : Theo quy định tại Điều 109 Luật Tố tụng hành chính thì Toà án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:

 

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

 

- Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;

 

- Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;

 

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;

 

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

 

- Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;

 

- Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính (Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện).

 

- Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 108 của Luật Tố tụng hành chính;

 

- Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Tố tụng hành chính (Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí) mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

 

Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

 

Tại Điều 110 Luật Tố tụng hành chính quy định về việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện cụ thể như sau:

 

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

 

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

 

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp biết;

 

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

 

Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Toà án thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải giải quyết. Quyết định của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 10 tháng 6 năm 2014

Câu 1. Anh Nguyễn Văn Quý trú tại phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi kinh doanh nhà nghỉ nếu khách lưu trú qua đêm thì thủ tục đăng ký thế nào, khách có phải đưa Chứng minh nhân dân để đi đăng ký không?

 

Trả lời:

Về câu hỏi này chúng tôi trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 31 Luật cư trú 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) về Lưu trú và thông báo lưu trú:

1. Lưu trú là việc công dân ở lại trong một thời gian nhất định tại địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn ngoài nơi cư trú của mình và không thuộc trường hợp phải đăng ký tạm trú.

2. Đại diện gia đình, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở khác khi có người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn; trường hợp người đến lưu trú tại nhà ở của gia đình, nhà ở tập thể mà chủ gia đình, nhà ở tập thể đó không đăng ký thường trú tại địa bàn xã, phường, thị trấn đó thì người đến lưu trú có trách nhiệm thông báo việc lưu trú với Công an xã, phường, thị trấn. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trực tiếp hoặc bằng điện thoại hoặc qua mạng Internet, mạng máy tính. Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thông báo địa điểm, địa chỉ mạng Internet, địa chỉ mạng máy tính, số điện thoại nơi tiếp nhận thông báo lưu trú cho nhân dân biết.

3. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ, nếu người đến lưu trú sau 23 giờ thì thông báo lưu trú vào sáng ngày hôm sau; trường hợp ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh, chị, em ruột đến lưu trú nhiều lần thì chỉ cần thông báo lưu trú một lần.

4. Việc thông báo lưu trú được ghi vào sổ tiếp nhận lưu trú.

Như vậy, việc lưu trú và thông báo lưu trú không yêu cầu phải có kèm theo Giấy chứng minh nhân dân.

Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Anh cũng phải giải thích cho khách lưu trú về việc cần phải có Giấy CMND và xuất trình khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền. Tại Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì trường hợp: Không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền; Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ chứng minh nhân dân khi có yêu cầu của người có thẩm quyền thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

 

Câu 2. Anh Ngô Mạnh Hà trú tại phường Tam Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi bị mất Giấy đăng ký xe ô tô, thủ tục xin cấp lại Giấy đăng ký xe như thế nào?

Trả lời: TheoThông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 Quy định về đăng ký xe, tại Điều 15 quy định về thủ tục Cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bị mất, cụ thể như sau :

Hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe bị mất bao gồm:

1. Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BCA).

2. Các giấy tờ theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 15/2014/TT-BCA.

Trường hợp của anh là người Việt Nam thì xuất trình một trong những giấy tờ sau:

a) Chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu.

b) Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

Trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, Giấy chứng minh Quân đội nhân dân thì phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác.

c) Thẻ học viên, sinh viên học theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện; giấy giới thiệu của nhà trường.

3. Khi cấp lại giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe thì giữ nguyên biển số. Trường hợp xe đang sử dụng biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì đổi sang biển 5 số theo quy định.

Trường hợp xe đã đăng ký, cấp biển số nhưng chủ xe đã làm thủ tục sang tên, di chuyển đi địa phương khác, nay chủ xe đề nghị đăng ký lại nguyên chủ thì giải quyết đăng ký lại và giữ nguyên biển số cũ; trường hợp biển số cũ là biển 3 số hoặc 4 số hoặc khác hệ biển thì cấp đổi sang biển 5 số theo quy định.

 

Câu 3. Ông Hoàng Tuấn Minh trú tại phường Vĩnh Trại, TP Lạng Sơn hỏi : Công ty tôi dự định sản xuất nước uống tinh khiết đóng chai. Xin cho hỏi thủ tục xin cấp giấy chứng nhận Vệ sinh an toàn thực phẩm và cần các loại giấy phép gì ?

 

Trả lời :

Theo quy định tại Thông tư số 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế quy định cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế thì để được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ sở cần chuẩn bị bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận gồm:

Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận được đóng thành 01 quyển, gồm các giấy tờ sau:

1. Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (theo Mẫu 1 được ban hành kèm theo Thông tư này).

          2. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm (bản sao có xác nhận của cơ sở).

3. Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm (có xác nhận của cơ sở), bao gồm:

a) Bản vẽ sơ đồ thiết kế mặt bằng của cơ sở và khu vực xung quanh;

b) Sơ đồ quy trình sản xuất thực phẩm hoặc quy trình bảo quản, phân phối sản phẩm và bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở.

4. Giấy xác nhận tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm:

a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (có xác nhận của cơ sở);

b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: Nộp danh sách đã được tập huấn (có xác nhận của cơ sở).

5. Giấy xác nhận đủ sức khoẻ chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; phiếu báo kết quả cấy phân âm tính mầm bệnh gây bệnh đường ruột (tả, lỵ trực khuẩn và thương hàn) của người trực tiếp sản xuất thực phẩm đối với những vùng có dịch bệnh tiêu chảy đang lưu hành theo công bố của Bộ Y tế:

a) Đối với cơ sở dưới 30 người: Nộp bản sao giấy xác nhận (Có xác nhận của cơ sở);

b) Đối với cơ sở từ 30 người trở lên: Nộp danh sách kết quả khám sức khoẻ, xét nghiệm phân của chủ cơ sở và của người tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Có xác nhận của cơ sở).

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận là Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh.

Ngoài ra, Công ty ông cũng cần phải tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, Giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm, Giấy chứng nhận nước đầu ra, Giấy chứng nhận nước thành phẩm. Nếu cơ sở sản xuất của Công ty ông có nguồn nước đầu vào là nước giếng khoan với quy mô vượt quá 10 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm thì Công ty ông còn phải xin giấy phép khai thác nước dưới đất do UBND tỉnh cấp (qua Sở Tài nguyên - Môi trường).

   


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 3 tháng 6 năm 2014


 

Câu 1: Ông Nguyễn Hoàng Dũng trú tại phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi bị phạt vì lái xe ô tô khi rẽ trái không xi nhan báo rẽ và bị Cảnh sát giao thông tạm giữ giấy phép lái xe, hẹn 15 ngày đến giải quyết. Xin hỏi giấy hẹn đến giải quyết tại Phòng cảnh sát giao thông có thay thế được giấy phép lái xe trong thời gian này hay không?

 

Trả lời:

 

Điều 15 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ. Do bạn không bật xi-nhan báo khi bạn rẽ trái, cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính với bạn là đúng.   Theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, hành vi điều khiển xe ô tô chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ, có thể bị phạt tiền từ 600.000 đến 800.000 đồng. Trong trường hợp này bạn không bị tước giấy phép lái xe.   Khoản 2, Điều 75 của nghị định này cũng nêu rõ: Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định tại Khoản 6, Khoản 8 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.   Do vậy, bạn vẫn không mất quyền sử dụng giấy phép lái xe trong thời gian chờ giải quyết vi phạm. Giấy hẹn có giá trị thay thế những giấy tờ bị tạm giữ, bạn vẫn tham gia giao thông bình thường.   Tuy nhiên, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, bạn chưa đến giải quyết mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông thì sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy phép lái xe.

 

Câu 2: Ông Hoàng Đức Tiến trú tại phường Tâm Thanh, TP Lạng Sơn hỏi: Theo quy định hiện hành thì trường hợp nào được và trường hợp nào không được đặt tiền bảo lãnh phương tiện giao thông bị tạm giữ theo thủ tục hành chính, thủ tục và mức tiền đặt bảo lãnh như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2014 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính thì tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ, bảo quản phương tiện đối với trường hợp phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.   Thủ tục và mức tiền đặt bảo lãnh   - Tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh cho người có thẩm quyền tạm giữ phương tiện. Mức tiền đặt bảo lãnh ít nhất phải bằng mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định cho hành vi vi phạm. Tiền đặt bảo lãnh được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh sau khi tổ chức, cá nhân vi phạm đã chấp hành xong quyết định xử phạt.   Việc đặt tiền bảo lãnh và trả lại số tiền đó phải được lập biên bản. Biên bản được lập thành hai bản, một bản giao cho tổ chức, cá nhân đặt tiền bảo lãnh.   - Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định xử phạt mà tổ chức, cá nhân không chấp hành quyết định xử phạt thì số tiền đặt bảo lãnh được chuyển thành số tiền xử phạt; trường hợp số tiền đặt bảo lãnh lớn hơn số tiền xử phạt thì phần còn lại của số tiền đặt bảo lãnh sau khi trừ số tiền xử phạt được trả lại cho tổ chức, cá nhân đặt bảo lãnh.

 

5 trường hợp không được đặt tiền bảo lãnh

 

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP thì các trường hợp sau đây tổ chức, cá nhân vi phạm không được đặt tiền bảo lãnh để giữ, bảo quản phương tiện giao thông bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:   - Phương tiện giao thông của vụ vi phạm là vật chứng của vụ án hình sự.   - Phương tiện giao thông đang được đăng ký giao dịch bảo đảm.   - Phương tiện giao thông được sử dụng để đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng hoặc gây tai nạn giao thông.   - Giấy đăng ký phương tiện bị làm giả, sửa chữa.   - Biển kiểm soát giả, phương tiện bị thay đổi trái phép số khung, số máy hoặc bị xóa số khung, số máy.

 

Câu 3. Chị Nguyễn Hồng Hạnh trú tại phường Đông Kinh, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi kinh doanh quán cà phê và khách chủ yếu là học sinh, sinh viên. Các em đến quán thường chơi đánh bài để trả tiền cafe hoặc giải trí. Vậy tôi và những em tham gia đánh bài này có vi phạm pháp luật không?

 

 

Trả lời:

 

Theo quy định của Bộ luật Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Tội đánh bạc và Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ: việc đánh bạc có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (như: xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế...) và người chơi có thể được, thua bằng tiền hoặc hiện vật.

 

Nếu việc được, thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội Đánh bạc hoặc Tội tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

 

Pháp luật không quy định mức tối thiểu của việc được, thua phải từ bao nhiêu trở lên mới bị xử phạt hành chính nên về nguyên tắc, nếu đánh bạc mà được, thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị dưới 2 triệu đồng và không thuộc một trong các trường hợp nói trên thì đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép. Theo điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, hành vi này bị xử phạt hành chính từ 1 đến 2 triệu đồng.

 

Việc cho phép khách hàng chơi bài (dù chỉ để trả tiền cà phê hoặc giải trí) tại quán cà phê cũng có thể bị coi là hành vi chứa bạc. Theo quy định tại khoản 4 Điều 26, hành vi chứa bạc có thể bị xử phạt hành chính từ 5 đến 10 triệu đồng.

 

Như vậy, với các quy định chúng tôi vừa viện dẫn thì việc chơi bài mà được, thua bằng tiền hay hiện vật (dù chỉ để trả tiền cà phê hoặc giải trí) và việc cho phép những người này chơi bài tại quán cũng đều là vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 27 tháng 5 năm 2014

 

Câu1. Chị Lê Thị Quyên trú tại phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn hỏi: Tôi  là nhân viên một Công ty cổ phần, hiện nay đang điều trị bệnh, do bệnh nặng tôi được lãnh đạo Công ty cho nghỉ việc để chữa bệnh không hưởng lương. Xin cho tôi hỏi, thời gian tối đa cho người lao động được nghỉ là bao lâu? Tôi được hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội như thế nào trong thời gian nghỉ việc?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 116 Bộ luật lao động thì: Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương. Theo đó, thời gian này hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên theo điểm b khoản 1 điều 38 Bộ luật lao động thì: Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp: Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động.

 

Nếu nghỉ ốm hưởng BHXH, tại Điều 23 Luật BHXH quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH (bao gồm các đối tượng sau: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an) tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:

 

a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên;

 

b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên.

 

2. Người lao động mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

 

a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

 

b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn.

 

3. Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH (đối tượng là: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân) tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân.

 

Mức hưởng chế độ ốm đau ( quy định tại Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội):

 

1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23 và Điều 24 của Luật BHXH thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

2. Người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Luật này thì mức hưởng được quy định như sau:

 

a) Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên;

 

b) Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm;

 

c) Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm.

 

3. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật BHXH thì mức hưởng bằng 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

 

4. Mức hưởng chế độ ốm đau tính theo quy định tại khoản 2 Điều này nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung

 

Câu 2: Chị Nguyễn Thị Kim Tuyến trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Hai vợ chông tôi có một con chung được 2 tuổi, nay hai vợ chồng tôi không thể chung sống với nhau được nữa và đang làm thủ tục ly hôn. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn hiện nay pháp luật quy định thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

 

1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

 

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

 

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

 

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

 

Quyền thăm nom con sau khi ly hôn (Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình):

 

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

 

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 20 tháng 5 năm 2014

 


Câu 1. Ông Lý Văn Sinh trú tại xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Người nhà ông hiện đang đi lao động tại nước ngoài đã hết thời hạn nhưng không về nước mà trốn ở lại, trường hợp này sẽ bị xử lý thế nào?

 

Trả lời:

 

Ngày 22/8/2013 Chính phủ ban hành Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tại Điều 35 quy định xử phạt vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác cụ thể như sau:

 

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký hợp đồng cá nhân tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

 

2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn Hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

 

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

 

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng;

 

d) Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái quy định

.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này;

 

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 02 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này;

 

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 05 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 2 Điều này.

 

Tuy nhiên, trường hợp người lao động Việt Nam đã bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại cư trú trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động trước ngày 10/10/2013, nếu tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng (tính từ ngày 10/10/2013 đến ngày 10/1/2014) sẽ được miễn xử phạt hành chính, không bị áp dụng hình thức xử phạt hành chính nêu trên.

 

Ngày 27/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP. Theo đó, đối với người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà tự nguyện về nước trước ngày 10 tháng 3 năm 2014 thì không phạt tiền như quy định tại Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP. Từ ngày 10/3/2014 trở đi, bất kỳ lao động Việt Nam nào làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại cư trú và làm việc trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà bị phát hiện sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP.

 

Theo Thông tư liên tịch số 32/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNG ngày 06/12/2013 của Bộ LĐTBXH và Bộ Ngoại giao Hướng dẫn trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 điều 35 của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP; tại Điều 4 quy định: trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều 35 của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Trường hợp người vi phạm không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 61 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Theo điều 5 Thông tư này trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính không thể giao trực tiếp cho người vi phạm do không xác định được nơi ở, nơi làm việc của người bị xử phạt thì quyết định xử phạt vi phạm hành chính được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị xử phạt trước khi đi làm việc ở nước ngoài, Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi đã ra quyết định xử phạt và được gửi cho gia đình người bị xử phạt hoặc người bảo lãnh (nếu có).

 

Trường hợp người bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn quy định, thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người bị xử phạt cư trú trước khi đi làm việc ở nước ngoài để ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

 

Câu 2. Ông Nguyễn Mạnh Thắng trú tại Thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng hỏi:

 

Tôi tham gia kháng chiến chống pháp, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Sau đó chuyển về công tác tại một cơ quan Nhà nước, hiện nay đã nghỉ hưu và được phát thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) theo diện cán bộ hưu trí. Nay tôi có được chuyển đổi sang thẻ BHYT cho người có công với cách mạng không? Nếu được thì thủ tục như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo hiểm Y tế và Điều 7 Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm Y tế, người có công với cách mạng (tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương) sẽ được quỹ BHYT chi trả 100% chi phí khám chữa, bệnh thông thường; 100% chi phí sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, nhưng tối đa không quá 40 tháng lương tối thiểu.

 

Theo Công văn số 1598/BHXH-CSYT ngày 18/5/2010 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc chuyển đổi mã quyền lợi Bảo hiểm y tế thì thủ tục chuyển đổi mã quyền lợi BHYT như sau:

 

Hồ sơ chuyển đổi mã quyền lợi trên thẻ BHYT đối với người có công với cách mạng gồm:

 

- Thẻ BHYT hiện đang được cấp.

- Bản sao công chứng của một trong các giấy tờ sau: Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến, Huân chương chiến thắng, Huy chương chiến thắng hoặc Chứng nhận về khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến và thời gian hoạt động kháng chiến của cơ quan Thi đua - Khen thưởng cấp huyện, Giấy chứng nhận thương binh, bệnh binh.

 

Hồ sơ nộp tại cơ quan BHXH cấp huyện (hoặc tỉnh) nơi cư trú để được đổi mã quyền lợi phù hợp. Các trường hợp này không phải nộp lệ phí đổi thẻ.

 

Trường hợp của ông cần làm hồ sơ theo quy định nêu trên và nộp tại Bảo hiểm xã hội huyện Chi Lăng để được giải quyết.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 14 tháng 5 năm 2014

1. Ông Hoàng Thế Anh, trú tại xã Hữu Kiên, huyện Chi Lăng hỏi: Em tôi bị đánh thương tích 19% vụ án đã được tòa án huyện xét xử, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe, viện phí. Nhưng đến nay đã 6 tháng bị cáo vẫn chưa bồi thường. Vậy, em tôi phải làm gì để được thi hành án.


Trả lời 

 

Theo điểm a khoản 2 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự,  Bản án, quyết định về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với trường hợp của gia đình ông, sau khi có bản án, quyết định của tòa án thì bị đơn dân sự phải thi hành ngay bản án, quyết định đó, tức là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho em ông.

Gia đình ông có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án (đơn yêu cầu có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện) hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan đến việc thi hành án (Điều 32 Luật Thi hành án dân sự). Đơn yêu cầu thi hành án có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ  quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Người làm  đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu thi hành án. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên quan, nếu có. Gia đình ông có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự (Phong toả tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản). 

Thời hạn tự  nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (theo khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự); sau thời gian này mà đương sự không tự nguyện thi hành án thì gia đình ông yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế (theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

 

 2. Bạn Nguyễn Mai Lan, trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp bố mẹ bỏ mặc không chăm sóc con cái và thường xuyên quậy phá, quấy nhiễu các thành viên khác trong gia đình thì cơ quan nào có thẩm quyền xử lý?

Trả lời:

Hành vi trên có dấu hiệu vi phạm các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trái đạo đức xã hội. Trước hết, anh bạn vi phạm nghĩa vụ của người cha đối với các con. Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định:

- Cha mẹ  có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

- Cha mẹ  không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái  đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, anh trai bạn còn vi phạm nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau:

- Con có  bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

- Con có  nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

- Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

Trước những hành vi vi phạm pháp luật và trái đạo đức trên, các thành viên trong gia đình có thể thực hiện các biện pháp sau:

+ Gửi đơn đến tòa án để yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình (nếu các cháu của bạn (con của anh trai) là người chưa thành niên). Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại 43 Luật Hôn nhân và gia đình.           

+ Khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ hôn nhân và gia đình của anh trai bạn. Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình thì: Người nào hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo đó, gia đình bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành vi của anh trai bạn theo quy định của pháp luật. 

3. Bạn Nguyễn Thúy Hằng, trú tại thành phố Lạng Sơn hỏi: Bà ngoại bên nam và bà ngoại bên nữ là 2 chị em ruột. Vậy hai bên nam, nữ này kết hôn với nhau có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân gia và đình thì pháp luật Việt Nam cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.”

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ  nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba theo quy định tại khoản 13 Điều 8 Luật Hôn nhân gia và đình và điểm c.3 mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Như vậy, trường hợp của bạn được hiểu như sau: Cha mẹ của bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ nhất. Bà ngoại hai bên nam, nữ là đời thứ hai. Cha hoặc mẹ hai bên nam nữ là đời thứ 3. Do đó hai bên nam, nữ là đời thứ 4 nên không vi phạm vào khoản 3 Điều 10 nói trên. Do đó 2 bạn có thể kết hôn được với nhau nếu thỏa mãn những điều kiện khác tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000./.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 29 tháng 4 năm 2014

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Trang, trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Doanh nghiệp nơi tôi đang làm việc vẫn tổ chức cho công nhân làm thêm giờ, nhưng tôi chưa biết quy định của Nhà nước về tiền công làm thêm giờ được quy định như thế nào, đề nghịquý Đài trả lời giúp?

 

Trả lời:

 

Trước ngày 1/5/2013, theo quy định tại Điều 61 Bộ Luật Lao động (BLLĐ) năm 1994, người lao động làm thêm giờ được trả lương như sau: Vào ngày thường, được trả lương ít nhất bằng 150% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường; Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, được trả lương ít nhất bằng 200% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường.

 

Nếu làm thêm giờ vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ tùy theo vùng khí hậu), thì còn được trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lương làm việc vào ban ngày.

 

Kể từ ngày 1/5/2013, tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được quy định tại Điều 97 BLLĐ năm 2012 như sau:

 

Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

 

Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

 

Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

 

Như vậy, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm theo quy định mới, được trả cao hơn (20%) so với quy định trước đây. Số giờ làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường.

 

2. Ông Giang Văn Toàn, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Cán bộ cấp xã công tác lâu năm có hệ số lương cao nhưng do chuẩn hoá đi học, có bằng chuyên môn mà khi chuyển sếp lương thấp hơn mức lương đang hưởng thì tính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Căn cứ Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Liên Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27/5/2010 hướng dẫn thực hiện.

 

Trong đó, khoản 2 Điều 2 Thông tư này hướng dẫn việc chuyển xếp lương đối với cán bộ cấp xã có trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ hệ số lương chức vụ vào ngạch, bậc công chức hành chính được căn cứ vào từng thời điểm trong thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn) đã có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để xếp vào bậc lương trong ngạch công chức hành chính.

 

Sau khi xếp vào bậc lương trong ngạch công chức hành chính cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo của chức danh hiện đảm nhiệm, nếu thấp hơn so với hệ số lương chức vụ đã hưởng, thì được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương chức vụ đã hưởng.

 

Trường hợp cán bộ cấp xã có bằng tốt nghiệp chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thuộc diện xếp lương theo ngạch, bậc công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, nếu tự nguyện có đơn đề nghị xếp lương chức vụ theo chức danh hiện đảm nhiệm thì được xếp lương chức vụ theo chức danh hiện đảm nhiệm và không hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo.

 

 

3. Ông Đinh Văn Mạnh trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trường hợp xe chở vật liệu xây dựng rơi vãi trên đường gây mất an toàn giao thông và người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy không đội mũ bảo hiểm có bị xử phạt không, nếu có thì bị xử phạt như thế nào?

 

Trả lời:

 

Theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 20 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì người điều khiển xe ô tô chở hàng rời, vật liệu xây dựng dễ rơi vãi mà không có mui, bạt che đậy hoặc có mui, bạt che đậy nhưng vẫn để rơi vãi; chở hàng hoặc chất thải để nước chảy xuống mặt đường gây mất an toàn giao thông và vệ sinh môi trường thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

 

Ngoài ra, người điều khiển phương tiện phải phải khắc phục vi phạm, thu dọn vật liệu, rác, chất phế thải và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; nếu gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường theo quy định tại Khoản 7 Điều 20 Nghị định nêu trên.

 

Đối với người ngồi sau xe máy điện, xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm:

 

Theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 6, Điểm d Khoản 4 Điều 8 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì:

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

Như vậy, người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy chính là người ngồi trên xe máy điện, xe đạp máy (không phải người điều khiển) và bị xử phạt theo quy định nêu trên.

i 7��u��� (� xe thô sơ khác bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ.

 

 

Như vậy, người ngồi sau xe máy điện, xe đạp máy chính là người ngồi trên xe máy điện, xe đạp máy (không phải người điều khiển) và bị xử phạt theo quy định nêu trên.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 22 tháng 4 năm 2014

 

1. Ông Hoàng Thanh Hải, trú tại Phường Vĩnh Trại, Thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong trường hợp nào thì tổ chức, cá nhân bị lập biên bản vi phạm hành chính có quyền giải trình với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để chứng minh là mình không vi phạm?

 

            Trả lời:

 

Điều 61 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định như sau:

 

1. Đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trước khi ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không có yêu cầu giải trình trong thời hạn quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

 

2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể gia hạn thêm không quá 05 ngày theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm.

 

Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.

 

3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

 

Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

 

Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý và tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

 

Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ thì các bên phải ký vào từng tờ biên bản. Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.

 

2. Ông Nguyễn Duy Nam, trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cảnh sát cơ động có quyền dừng xe, kiểm tra giấy tờ và xử phạt vi phạm giao thông hay không? 

 

Trả lời:

 

Theo khoản 4 Điều 68 Nghị định 171/2013 của Chính phủ về phân định thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì các lực lượng như CSTT, CS phản ứng nhanh, CSCĐ, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến TTATGT đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi quy định. Theo đó, cảnh sát cơ động có thẩm quyền xử lý những hành vi sai phạm sau:

 

- Đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy mà không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định.

 

- Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư.

 

- Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 m.

 

- Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt.

 

- Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định.

 

- Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ.

 

- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc kiểm soát giao thông.

 

- Điều khiển xe trong tình trạng say xỉn.

 

- Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.

 

- Điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ.

 

- Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác.

 

- Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ. Trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

 

- Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ.

 

-        

Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông...

 

Như vậy, khi thấy có dấu hiệu nghi vấn khi thực hiện nhiệm vụ thì cảnh sát cơ động vẫn có quyền kiểm tra hành chính để xử lý hoặc đề nghị xử lý theo quy định.

 

3. Bà Nguyễn Thị Tú Anh, trú tại thị trấn Chi Ma, huyện Lộc Bình hỏi: Người có hành vi bán dâm bị xử phạt như thế nào? 

 

Trả lời:

 

Tại điều 23 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình thì đối với hành vi bán dâm sẽ bị:

 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi bán dâm.

 

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp bán dâm cho nhiều người cùng một lúc.

 

 

3. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

 

 Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 8 tháng 4 năm 2014


1. Bà Nguyễn Thị Bé, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính như thế nào?

 

Trả lời:

 

Tại Điều 15 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc khiếu nại quyết định xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại. Cụ thể tại Điều 7 của Luật Khiếu nại quy định:

 

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. 

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc tố cáo được thực hiện bằng hình thức đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc được quy định tại Điều 12 Luật Tố cáo.

2. Bà Tú Loan, trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chủ cơ sở gas phát tờ rơi quảng cáo bán gas và bếp gas, mặt sau của tờ rơi này là bản đồ Việt Nam nhưng đã vẽ không đúng đường biên giới quốc gia. Hành vi này có vi phạm pháp luật không, nếu vi phạm thì cơ quan nào có quyền xử lý?

 

Trả lời:

Hành vi này vi phạm pháp luật. Theo quy định tại điểm d Khoản 5 Điều 51 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo:

 

5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

d) Sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam trong quảng cáo mà không thể hiện đầy đủ chủ quyền quốc gia;

Đây là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm, đối với tổ chức mức phạt tiền gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

 

Ngoài ra còn bị áp dụng điểm a Khoản 7 Điều 51 Nghị định này quy định về biện pháp khắc phục hậu quả:  “Buộc tháo gỡ, tháo dỡ hoặc xóa quảng cáo đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này”.

Cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm:

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp trên bao gồm các cơ quan sau:

- Chủ tịch UBND tỉnh;

- Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

- Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

 

3. Ông Hoàng Văn Lả, trú tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình hỏi: Thế nào là phòng vệ chính đáng, nếu phòng vệ vượt quá thì bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

Điều 15 Bộ luật Hình sự 1999 có quy định về vấn đề Phòng vệ chính đáng, cụ thể như sau:

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy việc phòng vệ chính đáng nói trên phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Thứ nhất, hành vi tấn công của người có hành vi vi phạm phải là đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân.

- Thứ hai, người phòng vệ có sự chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công (sự chống trả này phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể và để đánh giá được hành vi phòng vệ là cần thiết, phù hợp là tương đối phức tạp cà cần phải dựa vào một số căn cứ sau: tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra, sức mạnh và sức mãnh liệt của hành vi tấn công, tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện hay công cụ mà người tấn công sử dụng...).

Nếu hành vi chống trả của người phòng vệ rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì đó là vượt quá phòng vệ chính đáng và người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự và các hành vi tương ứng như: giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá phòng vệ chính đáng./.

 

 

 

 

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 1 tháng 4 năm 2014

 

 

1. Bà Nguyễn Thị Minh Trang, trú tại đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi có cho người khác thuê nhà để ở, thời hạn là 2 năm nhưng mới được 6 tháng,  bên thuê đã sử dụng căn nhà thuê để kinh doanh karaoke mà không có sự đồng ý của tôi, vây tôi có quyền chấm dứt hợp đồng thuê nhà này hay không?

 

            Trả lời:

 

- Theo Điều 498 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bên cho thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà khi bên thuê có một trong các hành vi sau đây:

 

- Không trả tiền thuê nhà liên tiếp trong 3 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

 

- Sử dụng nhà không đúng mục đích thuê;

 

- Cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng;

 

- Sửa chữa, đổi hoặc cho người khác thuê lại toàn bộ hoặc một phần nhà đang thuê mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên cho thuê;

 

- Làm mất trật tự công cộng nhiều lần và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt bình thường của những người xung quanh;

 

- Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vệ sinh môi trường.

 

Trong trường hợp trên, bà có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê. Tuy nhiên, trước khi chấm dứt hợp đồng, chị phải báo cho chị A biết trước 1 tháng (nếu không có thỏa thuận khác) theo quy định tại khoản 3 Điều 498 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

 

2. Ông Ma Văn Kết, trú tại xã Gia Miễn, huyện Văn Lãng hỏi: Người ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng xuất khẩu lao động không thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết, mà bỏ ra ngoài làm việc 2 tháng, sau đó tự giác ra trình diện Đại sứ quán Việt Nam và làm thủ tục để được trở về nước thì có bị xử phạt hay không?

 

Trả lời: 

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tại vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác được quy định như sau:

 

Phạt tiền từ 80 đến 100 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 

a) Ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động, hết hạn cư trú;

 

b) Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng;

 

c) Sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng.

 

Biện pháp khắc phục hậu quả:

 

a) Buộc về nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 điều này;

 

b) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 2 năm

 

 đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 điều này;

 

c) Cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 5 năm đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 điều này.

 

Tuy nhiên, Nhà nước ta có chính sách cho phép gia hạn đối với lao động tự nguyện về nước trước ngày 11/1/2014, thì sẽ không áp dụng quy định phạt tại Điều 35. Cụ thể: Các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày 1/7/2013 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định về xử phạt tại nghị định này nếu có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.

 

Đối với người lao động Việt Nam ở nước ngoài có hành vi bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng, hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng lao động xảy ra trước ngày nghị định này có hiệu lực mà tự nguyện về nước trong thời gian 3 tháng, kể từ ngày nghị định này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng quy định tại Điều 35 nghị định này.

 

Về trường hợp em của bạn nêu trên, nếu tự nguyện về nước trước ngày 11/1/2014 thì sẽ không áp dụng quy định xử phạt quy định tại Điều 35 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

 

3. Ông Trần Văn Hưng, trú tại xã Thạch Đạn, huyện cao Lộc hỏi: Một người đang có vợ, có chồng mà chung sống với người khác như vợ, chồng với người khác sẽ bị xử lý như thế nào?

 

Trả lời:

 

Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT- ngày 25/9/2001 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - TAND Tối cao - Viện KSND Tối cao  thì hành vi: “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó”.

 

Người có hành vi trên có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

 

- Về xử lý hành chính:

 

Căn cứ Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Tại Điều 48 quy định: Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn như sau:

 

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

 

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

 

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

 

            - Về xử lý hình sự:

 

Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

 

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

 

 

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

 

Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 25 tháng 3 năm 2014

 


1. Ông Trần Văn Long, trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Để được cấp giấy phép xây dựng nhà ở cá nhân công dân phải đáp ứng các điều kiện nào?

 

            Trả lời:

 

Theo quy định tại Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 4 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về cấp phép xây dựng thì các loại công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ được cấp giấy phép xây dựng khi đáp ứng các điều kiện chung như sau:

 

1. Phù hợp với quy hoạch xây dựng, mục đích sử dụng đất, mục tiêu đầu tư.

 

2. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất, địa điểm xây dựng, công trình được cấp giấy phép xây dựng phải: Tuân thủ các quy định về chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng; đảm bảo an toàn công trình và công trình lân cận và các yêu cầu về: Giới hạn tĩnh không, độ thông thủy, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật, phòng cháy chữa cháy, hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước, viễn thông), hành lang bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, năng lượng, giao thông, khu di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa. Đồng thời đảm bảo khoảng cách đến các công trình dễ cháy, nổ, độc hại, các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

 

3. Hồ sơ thiết kế xây dựng phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định thực hiện; thiết kế phải được thẩm định, phê duyệt theo quy định. Đối với nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích sàn nhỏ hơn 250m2, dưới 3 tầng và không nằm trong khu vực bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa thì chủ đầu tư được tự tổ chức thiết kế xây dựng và tự chịu trách nhiệm về sự an toàn của công trình và các công trình lân cận.

 

Ngoài ra, công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ trong đô thị để được cấp giấy phép xây dựng còn phải đáp ứng các điều kiện riêng sau đây:

 

a) Phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

 

b) Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết, thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành;

 

c) Công trình xây dựng dân dụng cấp đặc biệt, cấp I trong đô thị phải có thiết kế tầng hầm theo yêu cầu của đồ án quy hoạch đô thị và Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

 

2. Bà Phan Thị Hà, trú tại thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình hỏi: Viên chức vi phạm ở mức độ nào thì bị buộc thôi việc, thời hiệu và thời hạn xử lý là bao lâu?

 

Trả lời: 

 

Theo Điều 13, Nghị định số 27 của Chính phủ về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

 

1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng;

 

2. Không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

 

3. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập;

 

4. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

 

5. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 7 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch; năm dương lịch;

 

6. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức.

 

Về Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật.

 

Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của viên chức, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật quy định tại Điều 14 Nghị định này phải ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật. Thông báo phải nêu rõ thời điểm viên chức có hành vi vi phạm pháp luật, thời điểm phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật và thời hạn xử lý kỷ luật.

 

Về Thời hạn xử lý kỷ luật tối đa là 02 tháng, kể từ ngày phát hiện viên chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến ngày người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

 

Trường hợp vụ việc có liên quan đến nhiều người, có tang vật, phương tiện cần giám định hoặc những tình tiết phức tạp khác cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để làm rõ thêm thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền xử lý kỷ luật ra quyết định kéo dài thời hạn xử lý kỷ luật, nhưng không quá 04 tháng.

 

3. Ông Đặng Tiến Thành, trú tại khu dây thép, thị trấn Đồng Đăng, huyện  Cao Lộc hỏi: Tôi phạm tội cố ý gây thương tích và phải thi hành án tù giam 3 năm, năm 2009 tôi đã thi hành xong bản án về địa phương sinh sống, lao động được 4 năm nay. Xin hỏi tôi có thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích hay không?

 

Trả lời:

 

Điều 64 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định các trường hợp đương nhiên được xóa án tích như sau:

 

1. Người được miễn hình phạt.

 

2. Người bị kết án không phải về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc về tội phạm chống phá hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:

 

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

 

b) 3 năm trong trường hợp hình phạt là tù đến 3 năm;

 

c) 5 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 3 năm đến 15 năm;

 

d) 7 năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.

 

Để việc xóa án tích được áp dụng thống nhất, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 11 của Nghị quyết này thì thời hạn để xoá án tích được căn cứ hình phạt chính đã tuyên, mà không căn cứ hình phạt bổ sung. Thời hạn đó bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.

 

Như vậy đối chiếu với trường hợp của ông thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 thì đương nhiên được xóa án tích.


Trả lời bạn nghe Đài Thứ ba, ngày 18 tháng 3 năm 2014

 

1. Ông Hà Văn Chất, trú tại xã Vân Mộng, huyện Lộc Bình hỏi: Năm 2013, tôi cho một người vay tiền, hai bên có viết giấy vay tiền và thời hạn vay là 01 tháng đến nay đã quá hạn 08 tháng, người vay không trả. Vậy tôi có thể kiện người vay ra toà được không? Nếu khởi kiện ra toà thì thủ tục gồm có những gì ?

 

Trả lời:

 

Về Trách nhiệm hoàn trả số tiền vay

 

Khi viết giấy vay tiền, ông và người vay đã giao kết hợp đồng vay tiền theo quy định tro