Tận dụng lợi thế của Hiệp định CPTPP, Việt Nam phải làm gì?

 Việt Nam tham gia CPTPP sẽ góp phần tăng GDP thông qua thu hút đầu tư và tăng trưởng thương mại, tăng kim ngạch xuất khẩu.

 

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa được được ký kết tại Chile với sự tham gia của 11 nước, trong đó có Việt Nam. Nhiều chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp ở TP HCM kỳ vọng sự kiện này sẽ thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ… Tuy nhiên, đây vừa là cơ hội nhưng vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Vậy doanh nghiệp phải làm gì để tận dụng tốt cơ hội này?

hiep dinh cptpp mang den nhung co hoi va thach thuc gi cho viet nam hinh 1
Quang cảnh lễ ký CPTPP.

 Theo nhiều chuyên gia kinh tế, dù Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng đây vẫn là hiệp định có chất lượng cao nhất mà Việt Nam tham gia từ trước đến nay. Đây là cơ hội rất tốt cho Việt Nam phát triển trong thời gian tới. Vì Việt Nam tham gia CPTPP sẽ góp phần tăng GDP thông qua thu hút đầu tư và tăng trưởng thương mại, tăng kim ngạch xuất khẩu, nhất là với các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản, thực phẩm, dệt may… Doanh nghiệp sẽ tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa thông qua hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp trong khối CPTPP và phát triển thương hiệu.  

Ông Ngô Đức Hòa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần dệt may Quốc tế Thắng Lợi doanh nghiệp đang xuất khẩu sản phẩm dệt may sang Nhật nói: “Đây là cơ hội doanh nghiệp dệt may Việt Nam mở rộng thị trường, đặc biệt thị trường Nhật có nhiều thuận lợi nhất. Muốn làm hàng với Nhật thì phải kiện toàn công nghệ, đây là điều mà công ty nào cũng phải làm, công ty của chúng tôi sẽ cũng phải làm như vậy”.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng, Giám đốc Nghiên cứu và phát triển Viện nghiên cứu khoa học lãnh đạo và quản trị doanh nghiệp, để tận dụng  tốt cơ hội này và tạo bước đột phá trong tăng trưởng kinh tế, Việt Nam phải có chiến lược sử  dụng lợi thế trong tương quan với các nước CPTPP.

Chính phủ phải thành lập một tổ nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực ngành nghề nào Việt Nam cần cải tiến, đẩy mạnh thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia. Từ đó, cơ quan chức năng có những chính sách, chương trình hành động cụ thể cho cấp nhà nước, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp tận dụng cơ hội.

Bên cạnh đó, thì bộ ngành chức năng phải có chương trình đào tạo lại nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Việc này, không phải bắt đầu từ đội ngũ giảng viên đại học đến dạy nghề và thay đổi tư duy học gắn với hành. Việt Nam  thể tham khảo kinh nghiệm và chương trình đào tạo, giáo trình của các nước trong khối CPTPP, từ  chắt lọc chọn những chương trình, phương pháp phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Bên cạnh đó, Việt Nam phải tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả bộ máy để đáp ứng yêu cầu hội nhập. TP HCM sẽ có cơ hội làm tốt việc này khi thực hiện cơ chế đặc thù được trả lương cao hơn  thang bảng lương chung.

Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng nói: “Phải cải cách toàn diện về trong quản trị về vi mô và vĩ mô đối với hệ thống  doanh nghiệp. Trong những năm qua, Chính phủ  đã có những chính sách cải cách tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ nếu chúng ta không có sự đột phát về nền hành chính, công cụ, thực thi những điều đã có. Chúng ta phải tái đào tạo hệ thống công chức, viên chức liên quan việc phục vụ, kiến tạo để hệ thống doanh nghiệp thực sự phát triển mạnh”.

Hiện TPHCM có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm sang các thị trường của khối CPTPP.  Để tận dụng tốt cơ hội này, các doanh nghiệp  ở TP HCM  đang đẩy mạnh cải tiến về quản trị, sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng. Vì phần lớn các doanh nghiệp của Việt Nam đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên không nắm hết những nội dung quy định rất cụ thể và chi tiết những quy định về tiêu chuẩn, chất lượng, lộ trình cắt giảm  các dòng thuế đối với từng ngành hàng.

Bà Lý Thị Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực thực phẩm TP HCM kiến nghị: “Về phía Nhà nước phải hướng dẫn cho doanh nghiệp  về lộ trình thực hiện các quy định của hiệp định thì đó doanh nghiệp  định hướng hướng sản phẩm tham gia các thị trường thì phải chuẩn bị gì. Vì nếu không chuẩn bị tốt thì doanh nghiệp sẽ không tham gia được vào thị trường này”.

Hiệp định CPTTP sẽ mở ra nhiều cơ hội tốt cho các doanh nghiệp và nguồn lao động trẻ Việt Nam. Để tận dụng được cơ hội này thì cần thêm những cải cách mạnh mẽ cơ chế hành chính, tạo bước đột phá cho doanh nghiệp phát triển. Đồng thời, doanh nghiệp và người lao động cũng phải có những bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng và  nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập./.               

Theo vov.vn
Xem tin theo ngày


CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ PHÁT THANH

Chương trình phát thanh tiếng Kinh tối ngày 20/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/KINH TOI 20-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 20/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/CT TAY 20-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 20/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/CT DAO 20-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 19/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/KINH 19-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 19/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/TAY 19-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 19/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/DAO 19-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Kinh ngày 18/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/CT KINH 18-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Tày - Nùng ngày 18/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/CT TAY 18-6.mp3
Chương trình phát thanh tiếng Dao ngày 18/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/CT DAO 18-6.mp3
Chương trình ca nhạc phát thanh tiếng Kinh tối ngày 17/6/2018
sites/default/files/audio/2018/06/CA NHAC KINH 17-6.mp3

Lịch phát sóng Chương trình Phát thanh hàng tuần

 

Thứ 2, 4, 6, 7
Buổi trưa: 
 
Từ 10h đến 10h30’ : Chương trình tiếng Dao 
Từ 10h30’ đến 11h: Chương trình tiếng Tày
Từ 11h đến 11h30: Chương trình tiếng Kinh
 
 Thứ 3, 5
Buổi trưa:  
 
Từ 11h đến 12h: Chương trình Tiếng kinh trực tiếp
 
Buổi tối:       
Từ 19h đến 19h30’: Chương trình tiếng Dao 
Từ 19h30’ đến 20h: Chương trình tiếng Tày 
Từ 20h đến 20h30: Chương trình tiếng Kinh
 
Chủ nhât:
Buổi trưa:    
Từ 10h đến 10h15’ Ca nhạc tiếng Dao
Từ 10h15’ đến 10h45’ Ca nhạc tiếng Tày
Từ 10h45’ đến 11h Ca nhạc tiếng Kinh
 
Buổi tối:   

Từ 19h đến 20h Ca nhạc theo yêu cầu thính giả.

 

Lịch phát sóng chương trình truyền hình ngày 21/6/2018
 6:02:42 Bản tin sáng Ngày 21/6/2018

6:08:16 Quốc tế sáng Ngày 21/6/2018

6:14:16 Văn bản mới, chính sách mới Số 81

6:18:09 Mỗi ngày một cuốn sách Số 67 - (phát lại)

6:22:15 Sitcom 5s Tập 3 - Phần 1

6:33:48 Chuyên mục 1: Vấn đề hôm nay

6:39:01 Chuyện mục 2: Quốc phòng toàn dân

6:50:54 Ký sự Trở lại Trường Sơn huyền thoại - tập 29+30

7:12:27 Phim hoạt hình Tập 32

7:37:00 Chuyên mục 1: Đảng trong cuộc sống hôm nay

7:45:10 Phim Khoa giáo Săn tuần lộc ở Mông Cổ - Tập 1

8:10:52 Ra đa TV Vũ khí hủy diệt - P2

8:39:42 Ca nhạc Hát về tổ quốc tôi

8:59:44 Bản tin sáng Ngày 21/6/2018

9:05:18 Quốc tế sáng Ngày 21/6/2018


9:10:46 Bản tin tiếng trung Ngày 21/6/2018

9:25:46 Truyền hình tiếng Dao Ngày 20/6/2018

9:54:39 Chuyên mục Kỷ niệm 70 năm thi đua yêu nước_ chủ tịch chân đất

9:59:59 Thời sự Ngày 20/6/2018

10:19:59 Chuyên mục 2: Trả lời bạn xem truyền hình

10:27:29 Chuyên mục 3: Vì màu xanh cuộc sống

10:37:17 Chuyên mục 4: Truyền hình nhân đạo

10:47:17 TT thị trường vùng cao Số 25

11:02:13 Phim truyện Trái tim mỹ nhân - Tập 160 - p3 phim Ấn Độ

11:45:43 Bản tin trưa Ngày 21/6/2018

12:01:15 Vì trẻ em Số 12

12:16:27 Học hát dân ca Số 5

12:36:53 Chuyển tiếp VTV1

14:57:53 Bản tin chiều Ngày 21/6/2018

15:12:53 Phim truyện Hãy nói anh yêu em - Tập 28/32 phim VN

15:57:43 Văn bản mới, chính sách mới Số 81

16:01:36 Sitcom 5s Tập 3 - Phần 1

16:13:09 Phim tài liệu Sức lan tỏa từ chỉ thị 05

16:28:37 Chuyên mục 3: Tuổi trẻ Xứ Lạng

16:38:20 Truyền hình tiếng Tày Ngày 21/6/2018

17:08:20 Chuyên mục 4: Thi đua yêu nước


17:15:34 Trang THCS Số 48 - Huyện Đình Lập

17:31:48 Bản tin tiếng trung Ngày 21/6/2018

17:46:48 Phim hoạt hình Tập 33

17:56:45 Mỗi ngày một cuốn sách Số 67 - (phát lại)

18:01:58 Phim truyện Hãy nói anh yêu em - Tập 29/32 phim VN

18:46:48 Chuyên mục An toàn giao thông

18:59:38 Chuyển tiếp VTV1 Chương trình thời sự VTV1

19:49:46 Thời sự tổng hợp Ngày 21/6/2018

20:09:46 Trong tỉnh, trong nước, quốc tế Ngày 21/6/2018

20:16:01 Bản tin Thể thao Ngày 21/6/2018

20:21:01 Chuyên mục 1: Đại đoàn kết toàn dân

20:31:30 Chuyên mục 2: Khoa học Công nghệ và Đời sống

20:40:53 Phim truyện Trái tim mỹ nhân - Tập 161/175 phần 3 - phim Ấn Độ

21:26:12 Chuyên mục 3: Bảo hiểm xã hội với cuộc sống

21:36:26 Chuyên mục 4: Phụ nữ Xứ Lạng hôm nay

21:46:24 Phim truyện Tử thần ngọt ngào - Tập 24 - phim Thái Lan

22:27:44 Sitcom 5s Tập 4 - Phần 1

22:44:48 TT thị trường vùng cao Số 25

22:59:44 Phim Khoa giáo Săn tuần lộc ở Mông Cổ - Tập 1

23:25:26 Ca nhạc Để lời then tiếng tính bay xa

  • TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 19 tháng 6 năm 2018

    Câu 1. Ông Lê Văn Chiến, trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình hỏi:  Người chưa đủ 18 tuổi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ sẽ bị xử lý như thế nào, Nếu bị phạt tiền mà không có tiền nộp phạt thì bố mẹ có phải nộp phạt thay không?

    Trả lời:

    1. Đối tượng bị xử phạt

    Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 quy định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.

    Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền. Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;

                2. Mức xử phạt

     Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định của Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2016 đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy  đối với một số hành vị cụ thể như sau:

    - Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

     - Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với vi phạm sau đây: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h; Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với vi phạm sau đây: Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép; Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;  Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm hành vi: Điều khiển xe thành nhóm từ 2 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

    - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

    -Phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng người điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ; chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách (trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật).

    Câu 2. Ông Lục Văn Hiếu trú tại xã Vân Mộng, huyện Văn Quan hỏi: Những đối tượng nào được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, những rủi ro nào trong sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ bảo hiểm theo quy định của nhà nước?

    Trả lời:

     Theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, ngày 12/4/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm nông nghiệp và chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp.

    Theo đó, những đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp bao gồm:

        - Cây trồng: Lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau.

        - Vật nuôi: Trâu, bò, lợn, gia cầm.

       - Nuôi trồng thủy sản: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra.

        Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 90% phí bảo hiểm nông nghiệp. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

        Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường sẽ được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

        Những rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ gồm:

        - Rủi ro thiên tai: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần. Thiên tai phải được công bố hoặc xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

        - Rủi ro dịch bệnh gồm:

       + Dịch bệnh động vật: Dịch bệnh động vật trên cạn (các bệnh truyền nhiễm của động vật trên cạn theo danh mục bệnh động vật phải công bố dịch (bao gồm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm giữa người và động vật) do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật thú y); Dịch bệnh động vật thủy sản (các bệnh của động vật thủy sản theo danh mục bệnh phải công bố dịch do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật thú y);

       + Dịch hại thực vật: Sinh vật gây hại thực vật có nguy cơ lây lan nhanh trên diện rộng, gây hại nghiêm trọng đối với thực vật theo quy định của pháp luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

    Nhắn tin: trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Bà Hoàng Thị Thiên trú tại thôn Bản Bảm, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: về chế độ người có công với cách mạng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

    Đề nghị bà liên hệ trực tiếp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Cao Lộc để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

                2. Ông Đàm Văn Cường trú tại thôn Nà Lốc, xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia thắc mắc về việc không được sử dụng mạch nước ngầm để phục vụ trong sản xuất nông nghiệp.

                Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

                3. Bạn Nông Thị Kim Chi trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi về chế độ chính sách đối với gia đình có hoàn cảnh đặt biệt khó khăn.

                Đơn của bạn chúng tôi đã chuyển đến UBND xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.


     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 12 tháng 6 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lục Văn Hòa trú tại xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn hỏi: việc chuyển đổi đất trông lúa sang đất trồng cây lâu năm cần làm những thủ tục gì?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như sau:

     

    “Điều 57. Chuyển mục đích sử dụng đất

     

    1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối”.

     

    Cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp của ông là: Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND cấp huyện (căn cứ điểm a khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013)

     

    Về hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất:

     

    Theo Điều 6 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất:

     

    Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ bao gồm:

     

    – Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này;

     

    – Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

     

    Căn cứ Điều 69 nghị định 43/2014/NĐ-CP, của Chính phủ quy định về trình tự thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất như sau:

     

    – Bước 1: Người sử dụng đất nộp đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

     

    – Bước 2: Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm:

     

    + Thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất;

    + Hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

     

    + Trình UBND có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

     

    – Bước 3. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

     

    Như vậy, ông có thể nộp hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc UBND cấp huyện, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường sẽ hướng dẫn ông cụ thể về hồ sơ và nghĩa vụ tài chính.

     

    Câu 2: Ông Nguyễn Minh Quân, trú tại thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng?

     

    Trả lời:

     

    Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

     

              1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ, chồng được chia trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng ( đồ dùng, đồ trang sức, tư trang cá nhân..) và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

     

              Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân mà đã được thỏa thuận là tài sản riêng.

     

              2. Chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ, chồng

     

              - Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

     

              - Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

     

              Nghĩa vụ riêng về tài sản bao gồm: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng khi quản lý tài sản riêng của bên kia; Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình; Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

     

              - Tài sản riêng của vợ, chồng khi nhập vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải đăng ký hoặc công chứng, chứng thực, thì phải thực hiện theo quy định đó. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

     

              3. Giải quyết tranh chấp tài sản vợ, chồng

     

    Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng ( bao gồm cả các khoản nợ) được pháp luật khuyến khích các bên tự thỏa thuận, hòa giải. Nếu không thỏa thuận được thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Việc giải quyết dựa trên nguyên tắc tài sản chung được chia đôi, có xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên, quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ, trẻ em…; tài sản riêng và đồ dùng, tư trang cá nhân của ai thuộc sở hữu của người đó; bên nào cho rằng tài sản đó là tài sản riêng thì phải có chứng cứ để chứng minh, nếu không chứng minh được thì tài sản đó là tài sản chung.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 05 tháng 6 năm 2018

     

    Câu 1. Bà Hoàng Thị Ngoan, trú tại xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi: quy định của pháp luật về việc thoát nước thải sinh hoạt và quyền sử dụng lối đi qua đất thuộc quyền sử dụng của người khác?

     

    Trả lời:

     

    1. Về việc thoát nước thải trong sinh hoạt, Điều 172 và 251 Bộ Luật dân sự quy định như sau:

     

    - Nghĩa vụ bảo vệ môi trường

     

    Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.

     

    - Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải

     

    Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng.

     

    2. Về sử dụng lối đi qua đất thuộc quyền sử dụng của người khác, Điều 254 Bộ luật dân sự quy đinh:

     

    - Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

     

    Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

     

    Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    - Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

     

    - Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

     

              Theo các quy định trên, nếu các bên có tranh chấp thì có thể hòa giải hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết; nếu vi cố ý vi phạm hoặc gây thiệt hại cho người khác có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Văn Hiếu trú tại xã Vân Mộng, huyện Văn Quan hỏi: Xin hỏi việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Khoản 2 Điều 41 Luật Khiếu nại năm 2012 quy định người giải quyết khiếu nại lần hai lựa chọn một hoặc một số hình thức sau đây để công khai quyết định giải quyết khiếu nại:

     

    - Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại công tác;

     

    - Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại;

     

    - Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

     

     Điều 12 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP quy định cụ thể việc thực hiện công khai quyết định giải quyết khiếu nại như sau:

     

    - Trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi có quyết định giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo một trong các hình thức quy định tại Khoản 2 Điều 41 của Luật khiếu nại.

     

    - Trường hợp công bố tại cuộc họp thì thành phần tham dự cuộc họp phải bao gồm: Người ra quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại hoặc người đại diện, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

     

    Trước khi tiến hành cuộc họp công khai/người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải có văn bản thông báo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết. Thời gian thông báo phải trước 3 ngày làm việc.

     

    - Việc thông báo quyết định giải quyết khiếu nại trên các phương tiện thông tin đại chúng được thức hiện trên báo nói, báo hình, báo viết, báo điện tử. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm lựa chọn một trong các phương tiện thông tin đại chúng để thực hiện việc thông báo. Trường hợp cơ quan của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử, phải công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử.

     

    Số lần thông báo trên báo nói ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo hình ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo viết ít nhất 02 số phát hành; thời gian đăng tải trên báo điện tử, trên cổng thông tin điện tử hoặc trên trang thông tin điện tử ít nhất là 15 ngày, kể từ ngày đăng thông báo.

     

    - Trường hợp niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại, thời gian niêm yết quyết định giải quyết khiếu nại ít nhất là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết.

     

     Câu 3. Ông Nguyễn Minh Tú trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo thì việc cử đại diện để thực hiện tố cáo được quy định như thế nào?

     

    Trả lời :

     

    Theo Điều 4, Điều 5 Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo năm 2011 (sau đây gọi là Nghị định 76/2012/NĐ-CP) thì trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo thì việc cử đại diện để thực hiện tố cáo như sau:

     

    - Khi nhiều người cùng tố cáo thì phải cử người đại diện từ trong số những người tố cáo để trình bày nội dung tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

    - Về số lượng của người đại diện:

     

    + Trường hợp có từ 05 đến 10 người tố cáo thì cử 01 hoặc 02 người đại diện;

     

    + Trường hợp có từ 10 người trở lên thì có thể cử thêm người đại diện, nhưng tối đa không quá 05 người.

     

    - Văn bản cử người đại diện:

     

    Việc cử người đại diện phải được thể hiện bằng văn bản. Nội dung văn bản cử người đại diện như sau:

     

    + Ngày, tháng, năm;

     

    + Họ tên và địa chỉ của người đại diện;

     

    + Nội dung được đại diện;

     

    + Chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo;

     

    + Các nội dung khác có liên quan (nếu có).

     

    - Trách nhiệm của người được đại diện: Người đại diện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc đại diện và văn bản cử đại diện.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Lưu Văn Nhớ trú tại thôn Bản Đoóc, xã Hiệp Hạ, huyện Lộc Bình trình bày về việc chủ Đại lý bán xe máy Sơn Hà, thị trấn Lộc Bình bán cho 01 chiếc xe moto từ tháng 01/2017 nhưng không có giấy xuất xưởng xe và không được đăng ký xe để tham gia giao thông.

     

    Đề nghị ông liên hệ với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: 413b, đường Bà Triệu, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn để được hướng dẫn giải quyết.

     

    2. Ông Hoàng Văn Giáp trú tại số nhà 9, ngõ 23, đường Bà Triệu, Phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi về việc giải quyết tranh chấp đất với ông Nguyễn Minh Tuấn.

     

    Về vụ việc của ông, ông có quyền làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    3. Ông Lộc Văn Linh trú tại xã Lộc Yên, huyện Cao Lộc kiến nghị về việc bị người khác lấn chiếm đất, không được UBND xã giải quyết.

     

    Đề nghị ông liên hệ với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Số 413b, đường Bà Triệu, phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn để được hướng dẫn giải quyết.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 29 tháng 5 năm 2018

    Câu 1. Ông Long Văn Trà trú tại xã Hòa Cư, huyện Cao Lộc hỏi: việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì việc xác minh điều kiện thi hành án được quy định cụ thể như sau:

    Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.

    Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.

    Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 6 tháng một lần, chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 2 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 1 năm một lần.

    Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

    Cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.

    Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.

    Trường hợp chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.

    Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án:

    Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

    Câu 2. Ông Vương Hoàng Nam trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: Người được tuyển chọn vào Công an xã thì phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào?

    Trả lời:

     Theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 7/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã. Thì tiêu chuẩn tuyển chọn vào công an xã được quy định cụ thể như sau:

    1. Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ các tiêu chuẩn dưới đây thì được xem xét, tuyển chọn vào Công an xã nơi mình cư trú:

    a) Lý lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, không có tiền án, tiền sự; bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trưởng Công an xã phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam;

    b) Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ Công an xã (được cơ sở y tế cấp huyện trở lên chứng nhận);

    c) Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã phải là người đã học xong chương trình trung học phổ thông trở lên (có bằng tốt nghiệp hoặc có giấy chứng nhận đã học hết chương trình trung học phổ thông do cơ quan có thẩm quyền cấp); Công an viên phải là người đã tốt nghiệp từ trung học cơ sở trở lên;

    Đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa không có đối tượng tuyển chọn có đủ tiêu chuẩn học vấn theo quy định tại điểm này thì trình độ học vấn của Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã và Công an viên có thể thấp hơn nhưng cũng phải là người đã học xong chương trình tiểu học trở lên;

    d) Có khả năng thực hiện nhiệm vụ và có đơn tự nguyện tham gia Công an xã.

    2. Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã phải có quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, bố trí, sử dụng Công an xã, bảo đảm ổn định, lâu dài, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn cơ sở; ưu tiên tuyển chọn chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong Công an nhân dân đã hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương tham gia lực lượng Công an xã.

    Việc tuyển chọn người tham gia Công an xã phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, theo đúng tiêu chuẩn quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ Công an.

    Trưởng Công an cấp huyện, Trưởng Công an xã có trách nhiệm tham mưu, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc quy hoạch, tuyển chọn, bố trí, sử dụng Công an xã.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Ông Tô Văn Biên trú tại thôn Nà Mon, xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc hỏi về việc bị hủy hoại tài sản từ năm 2013 đến nay chưa được giải quyết.

    Đề nghị ông liên hệ trực tiếp với Công an huyện Cao Lộc để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Bà Bế Thị Phân thắc mắc về việc không được sử dụng vòi nước để dẫn nước xuống ruộng của gia đình.

    Trong đơn của bà đã gửi đúng đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND xã Thanh Long, UBND xã Thanh Long sẽ có trách nhiệm xem xét giải quyết.

    3. Đơn của Công ty TNHH vận tải ô tô Hợp nhất đề nghị giải quyết hồ sơ cho thuê đất làm bãi đỗ xe của công ty

    Trong đơn của Công ty đã được gửi đến đúng các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết về hồ sơ xin thuê đất để công ty có mặt bằng đầu tư phát triển dinh doanh.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 22 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Long Văn Hậu trú tại xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng hỏi: Hồ sơ yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp gồm những loại giấy tờ gì? trình tự thủ tục cấp phiếu lý lịch tư pháp được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của pháp luật, cá nhân khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì hồ sơ bao gồm những giấy tờ sau:

     

    - Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Mẫu số 03, 04/TT-LLTP được ban hành kèm theo Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp).

     

    - Bản chụp giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú (phải xuất trình bản chính để đối chiếu). Trường hợp không có bản chính để đối chiếu thì nộp bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật.

     

    - Văn bản ủy quyền trong trường hợp ủy quyền cho người khác làm thủ tục (trường hợp người được ủy quyền là cha, mẹ, vợ, chồng, con của người ủy quyền thì không cần văn bản ủy quyền). Văn bản ủy quyền phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Đối với người ủy quyền là người nước ngoài đã rời Việt Nam thì phải có văn bản ủy quyền hợp pháp theo quy định của pháp luật nước mà người đó là công dân hoặc thường trú và phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và dịch ra tiếng Việt.

     

    Về lệ phí: 200.000 đồng/Phiếu

    Riêng đối với học sinh, sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sỹ: 100.000đ/1 lần/người.

     

    Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp đề nghị cấp hơn 2 Phiếu trong một lần yêu cầu, thì kể từ phiếu thứ 3 trở đi cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp thu thêm 3.000 đồng/Phiếu.

     

    Miễn lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với người thuộc hộ nghèo; người cư trú tại xã đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

     

    Người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm lệ phí phải xuất trình các giấy tờ để chứng minh.

     

    Về trình tự thực hiện:

     

    Công dân Việt Nam nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi người đó thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi người đó tạm trú.

     

    Trường hợp cư trú ở nước ngoài thì nộp tại Sở Tư pháp nơi cư trú trước khi xuất cảnh. Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam thì nộp tại Sở Tư pháp nơi người đó cư trú.

     

    Sở Tư pháp tiến hành giải quyết và cấp phiếu lý lịch tư pháp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ.

     

    Trường hợp người được yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì thời hạn không quá 15 ngày.

     

    Câu 2. Ông Triệu Văn San trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: Luật công chứng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Điều 7 Luật công chứng quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng như sau:

     

    1. Tiết lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;

     

    2. Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung bản dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; xúi giục, tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả tạo hoặc hành vi gian dối khác;

     

    3. Công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông, bà; anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu là con của con đẻ, con nuôi;

     

    4. Từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng;

     

    5. Nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thỏa thuận; nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức có liên quan;

     

    6. Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ của mình; cấu kết, thông đồng với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan làm sai lệch nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;

     

    7. Gây áp lực, đe dọa hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội để giành lợi thế cho mình hoặc cho tổ chức mình trong việc hành nghề công chứng;

     

    8. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về công chứng viên và tổ chức mình;

     

    9. Tổ chức hành nghề công chứng mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký;

     

    10. Công chứng viên đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác;

     

    11. Công chứng viên tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý; tham gia chia lợi nhuận trong hợp đồng, giao dịch mà mình nhận công chứng;

     

    12. Vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

     Câu 3. Ông Lục Văn Đô trú tại xã Quan Bản, huyện Lộc Bình hỏi: Việc bầu, công nhận hòa giải viên được Luật hòa giải ở cơ sở quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Điều 8 Luật hòa giải ở cơ sở quy định về việc bầu, công nhận hòa giải viên như sau:

     

    Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở là người: Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật. Có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.

     

    Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây:

     

    - Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;

     

    - Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

     

    Kết quả bầu hòa giải viên:

     

    - Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý;

     

    - Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp;

     

    - Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng;

     

    - Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

     

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhân được đơn thư của các hộ dân thôn Khòn Toòng, thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình phản ánh về việc xây dựng, quản lý hệ thống thủy nông trên địa bàn các hộ dân sinh sống.

     

    Chúng tôi đã chuyển đơn của các hộ dân đến UBND huyện Lộc Bình để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 15 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lương Trung Thành trú tại xã Yên Bình, huyện Hữu Lũng hỏi: Các loại xe ô tô nào không phải nộp phí sử dụng đường bộ theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 293/2016/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2016 quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ. Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký lưu hành (có giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe), bao gồm: Xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự.

     

    Thông tư số 293/2016/TT-BTC quy định có 7 loại xe vào diện không phải nộp phí sử dụng đường bộ, bao gồm:

     

     Xe bị hủy hoại do tai nạn hoặc thiên tai; xe bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; xe bị tai nạn đến mức không thể tiếp tục lưu hành phải sửa chữa từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe kinh doanh vận tải thuộc các hợp tác xã, doanh nghiệp kinh doanh vận tải tạm dừng lưu hành liên tục từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe ô tô không tham gia giao thông, không sử dụng đường thuộc hệ thống giao thông đường bộ, chỉ sử dụng trong phạm vi đất thuộc quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã như: nhà ga, cảng, khu khai thác khoáng sản, nông, lâm nghiệp và xe ô tô dùng để sát hạch của tổ chức đào tạo dạy nghề lái xe.

     

    Xe ô tô đăng ký, đăng kiểm tại Việt Nam nhưng hoạt động tại nước ngoài liên tục từ 30 ngày trở lên.

     

              Xe ô tô bị mất trộm trong thời gian từ 30 ngày trở lên.

     

    Thông tư cũng hướng dẫn rõ về các hồ sơ cần thiết để các trường hợp trên không chịu phí đường bộ.

     

    Trường hợp xe ô tô đó đã được nộp phí sử dụng đường bộ, chủ phương tiện sẽ được trả lại số phí đã nộp (áp dụng cho xe ô tô bị hủy hoại; bị tịch thu hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe không tiếp tục lưu hành) hoặc được trừ vào số phí phải nộp của kỳ sau (áp dụng đối với xe ô tô vẫn tiếp tục được lưu hành) tương ứng với thời gian không sử dụng đường bộ.

     

    Câu 2. Ông Trần Văn Tuấn trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: Mức xử phạt lỗi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển xe máy được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008 về các hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia giao thông đường bộ có quy định:

     

    “8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

     

    Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”

     

    Theo đó, khi người điều khiển xe máy tham gia giao thông có nồng độ cồn trên 50 miligam/100  mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở là vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ 2008. Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 6, khoản 8, khoản 12 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ như sau:

     

    - Người điều khiển xe máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng, 

     

    - Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng, bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng.

     

    Như vậy, khi người điều khiển xe máy tham gia giao thông có nồng độ cồn lớn hơn 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng, nếu không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức phạt là 3.500.000 đồng và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe là 04 tháng.

     

    Câu 3. Ông Luân Văn Hà trú tại xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình hỏi: Thẻ căn cước công dân cấp cho người có độ tuổi từ bao nhiêu? Giá trị của thẻ căn cước công dân và thời hạn đổi thẻ căn cước công dân được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 19, Luật Căn cước công dân. Người được cấp thẻ Căn cước công dân và số thẻ Căn cước công dân được quy định như sau:

     

    - Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi được cấp thẻ Căn cước công dân.

     

    - Số thẻ Căn cước công dân là số định danh cá nhân.

     

    Về giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân

     

    - Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

     

    - Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

     

    - Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin quy định tại Luật Căn cước công dân; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ Căn cước công dân để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

     

    Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin cá nhân.

     

    - Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định của pháp luật.

     

    Độ tuổi đổi thẻ Căn cước công dân

     

    - Thẻ Căn cước công dân phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi.

     

    - Trường hợp thẻ Căn cước công dân được cấp, đổi, cấp lại trong thời hạn 2 năm trước tuổi quy định thì vẫn có giá trị sử dụng đến tuổi đổi thẻ tiếp theo.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 08 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phạm Ngọc Nam trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện để được thành lập các cơ sở đạo tạo tôn giáo, tín ngưỡng và nguyên tắc hoạt động được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, bên cạnh đó, Luật đưa ra các điều kiện cụ thể cho việc thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo như sau:

     

    - Có cơ sở vật chất bảo đảm cho việc đào tạo;

     

    - Có địa điểm hợp pháp để đặt cơ sở đào tạo;

     

    - Có chương trình, nội dung đào tạo;

     

    - Có môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam trong chương trình đào tạo; có nhân sự quản lý và giảng dạy đáp ứng yêu cầu đào tạo.

     

    Về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo Luật quy định:

     

    Chậm nhất là 20 ngày trước khi cơ sở đào tạo tôn giáo bắt đầu hoạt động, người đại diện cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo kèm theo văn bản thành lập, quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh, danh sách thành viên ban lãnh đạo, báo cáo về nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất để bảo đảm hoạt động.

     

     Việc tổ chức đào tạo, tuyển sinh của cơ sở đào tạo tôn giáo thực hiện theo quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh đã thông báo.

     

     Cơ sở đào tạo tôn giáo khi sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương. Văn bản đăng ký nêu rõ lý do, nội dung thay đổi kèm theo quy chế sửa đổi. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do. Cơ sở đào tạo tôn giáo được hoạt động theo quy chế sửa đổi sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

     

    Cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả đào tạo của từng khóa học với cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc khóa học. Văn bản thông báo nêu rõ tên cơ sở đào tạo tôn giáo, khóa đào tạo, số học viên tốt nghiệp.

     

    Câu 2. Ông Lục Văn Bang trú tài xã Yến Khoái, huyện Lộc Bình hỏi: hình thức xử phạt đối với hành vi xuất cảnh trái phép ra nước ngoài được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi xuất cảnh trái phép bao gồm các biểu hiện như: không có các giấy tờ theo quy định của Nhà nước về xuất nhập cảnh, như không có hộ chiếu, visa hoặc sử dụng hộ chiếu, các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để xuất cảnh...

     

              - Xử lý về hành chính: Khoản 3, Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định;

     

    b) Trốn hoặc tổ chức, giúp đỡ người khác trốn vào các phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài;

     

    c) Cho người khác sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    d) Sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

     

    - Xử lý về hình sự: Điều 347 Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) quy định.

     

    Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

    Câu 3. Ông Bế Văn Vang trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm những người nào? Người thực hiện trợ giúp pháp lý có những quyền, nghĩa vụ gì theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:

     

    - Trợ giúp viên pháp lý;

     

    - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

     

    - Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

     

    - Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

     

    Sở Tư pháp công bố danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

     

    Người thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền và nghĩa vụ sau đây

     

    - Thực hiện trợ giúp pháp lý;

     

    - Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;

     

    - Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp  theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

     

    - Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

     

    - Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

     

    - Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;

     

    - Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

     

    - Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 01 tháng 5 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phan Trung Thành trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những hành vi nào bị pháp luật nghiêm cấm trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng? việc xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định hiện hành tại Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 thì các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như sau:

     

    1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo:

     

    a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường;

     

    b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

     

    c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân;

     

    d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

     

    5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi.

     

    Theo quy định tại Điều 64 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 thì việc xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như sau:

     

    - Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

     

    - Căn cứ quy định của Luật này và Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt cụ thể và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

     

    Câu 2. Ông Vương Văn Hào trú tại Phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hình thức xử phạt đối với hành vi mê tín, dị đoan được pháp luật quy định cụ thể như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Những vi phạm về mê tín dị đoan thì tùy theo tính chất mức độ  sẽ bị pháp luật xử phạt vi phạm hành chính hoặc cao hơn là xử lý hình sự. Ngoài ra, đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm còn bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Nếu là đảng viên thì tùy vào mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ khỏi đảng.

     

    Về xử phạt vi phạm hành chính:

     

    Tại Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ) có quy định các hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt trong tổ chức lễ hội, thực hiện nếp sống văn minh tại khu vực lễ hội như sau:

     

       - Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi đốt vàng mã không đúng nơi quy định tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa. 

     

       - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: không thành lập Ban tổ chức lễ hội theo quy định; bán vé, thu tiền tham dự lễ hội; không có nhà vệ sinh hoặc có nhà vệ sinh nhưng không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định trong khu vực lễ hội, di tích. 

     

       - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: Treo cờ Tổ quốc ở khu vực lễ hội không cao hơn, không trang trọng hơn các cờ hội ); và hành vi Kinh doanh dịch vụ hàng quán, nhà hàng, khách sạn, bến bãi phục vụ người tham gia lễ hội lấn chiếm khuôn viên di tích, cản trở giao thông trong khu vực lễ hội.

     

      - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối hành vi: tổ chức lễ hội theo quy định phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không báo cáo hoặc có báo cáo nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý mà vẫn tổ chức. 

     

      - Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi: tổ chức lễ hội theo quy định phải có giấy phép mà không có giấy phép.

     

    Về xử lý hình sự:

     

    Điều 320 Bộ luật hình sự 2015 quy định về “Tội hành nghề mê tín, dị đoan”. Theo đó, người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

     

     Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: Làm chết người; Thu lợi bất chính 200 triệu đồng trở lên; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

     

    Câu 3. Ông Hoàng Minh Đạo trú tại thị trấn Chi Lăng, huyện Chi Lăng hỏi: pháp luật quy định như thế nào đối với việc sử dụng ô tô quá niên hạn sử dụng? hình thức xử phạt đối với việc điều khiển ô tô quá niên hạn sử dụng?

     

    Trả lời:

     

    Điều 16 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì người điều khiển xe ôtô (bao gồm cả rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo theo) đã quá niên hạn sử dụng sẽ bị phạt từ 4.000.000 đến 6.000.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe còn bị tịch thu phương tiện và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 1 tháng đến 3 tháng.

     

    Quy định ôtô hết niên hạn sử dụng:

     

    Theo Điều 5 Nghị định số 95/2009/NĐ-CP quy định niên hạn sử dụng với ôtô chở hàng và ôtô chở người như sau:

     

    - Không quá 25 năm đối với xe ôtô chở hàng.

     

    - Không quá 20 năm đối với xe ôtô chở người.

     

    - Không quá 17 năm đối với xe ôtô chuyển đổi công năng từ các loại xe khác thành xe ô tô chở người trước ngày 1/1/2002.

     

    Tuy nhiên, các quy định trên không áp dụng với các trường hợp sau: ôtô của quân đội, công an phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xe ôtô chở người đến 9 chỗ ngồi (kể cả chỗ người lái); xe ôtô chuyên dùng (xe ôtô có kết cấu và trang bị để thực hiện một chức năng, công dụng đặc biệt), rơ moóc, sơ mi rơ moóc.

     

    Thời điểm tính niên hạn sử dụng:

     

    - Niên hạn sử dụng của xe ôtô được tính bắt đầu từ năm sản xuất xe.

     

    - Một số trường hợp đặc biệt khi được Thủ tướng cho phép, niên hạn sử dụng được tính từ năm đăng ký xe ôtô lần đầu.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Nguyễn Xuân Thêm trú tại xóm Ba, thôn Đồn Vang, xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng hỏi về việc bị bắt giam oan sai.

     

    Đơn của ông chúng tôi đã chuyển đến Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

     

    2. Ông Hứa Văn Bường trú tại xóm Nà Vó, xã Hồ Sơn, huyện Hữu Lũng khiếu nại về việc chưa được bồi thường thiệt hại về tài sản do ảnh hưởng bởi dự án đường cao tốc.

     

    Chúng tôi đã chuyển đơn của ông đến Ban đền bù giải phóng mặt bằng huyện Hữu Lũng để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 24 tháng 4 năm 2018

     

    Thưa quý vị và các bạn!

     

    Trong chuyên mục tuần này chúng tôi xin được giải đáp những vướng mắc về pháp luật qua đơn thư chúng tôi đã tổng hợp được trong tuần qua như sau:

    Câu 1. Ông Trần Hoàng Tú trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Cảnh sát giao thông được phép dừng xe của người tham gia giao thông trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Thông tư 01/2016/TT-BCA của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông. Theo đó, cảnh sát giao thông chỉ được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau:

     

    1. Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

     

    2. Thực hiện kế hoạch, mệnh lệnh tổng kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên.

     

    3. Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên.

     

    4. Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp.

     

    5. Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông.

     

    Đồng thời việc dừng phương tiện phải đảm bảo: An toàn, đúng quy định pháp luật; không làm cản trở đến hoạt động giao thông; khi đã dừng phương tiện phải thực hiện việc kiểm soát, nếu phát hiện vi phạm phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Lý Văn Ba trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Khi đặt biển hiệu quảng cáo ngoài trời gắn cố định vào nhà ở có phải xin phép không? pháp luật quy định như thế nào về việc cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo?

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Quảng cáo 2012 quy định về cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo như sau:

     

    2. Việc xây dựng màn hình chuyên quảng cáo ngoài trời, biển hiệu, bảng quảng cáo độc lập hoặc gắn vào công trình xây dựng có sẵn phải xin giấy phép xây dựng của cơ quan có thẩm quyền về xây dựng của địa phương trong những trường hợp sau đây:

     

    a) Xây dựng màn hình chuyên quảng cáo ngoài trời có diện tích một mặt từ 20 mét vuông (m2) trở lên;

     

    b) Xây dựng biển hiệu, bảng quảng cáo có diện tích một mặt trên 20 mét vuông (m2) kết cấu khung kim loại hoặc vật liệu xây dựng tương tự gắn vào công trình xây dựng có sẵn;

     

    c) Bảng quảng cáo đứng độc lập có diện tích một mặt từ 40 mét vuông (m­2) trở lên.

     

    Nếu biển quảng cáo của nhà ông đã có kích thước lớn hơn 20m2 và kết cấu bằng khung kim loại hoặc vật liệu xây dựng tương tự gắn vào công trình xây dựng có sẵn thì ông cần chuẩn bị hồ sơ cấp giấy phép cho biển quảng cáo.

     

     Theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật Quảng cáo 2012 gồm có:

     

    - Đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo;

     

    - Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo;

     

    - Bản sao có chứng thực một trong những loại giấy tờ sau: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; văn bản thoả thuận hoặc hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với công trình quảng cáo đứng độc lập; hợp đồng thuê địa điểm giữa chủ đầu tư xây dựng công trình quảng cáo với chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng hợp pháp đối với công trình quảng cáo gắn với công trình xây dựng có sẵn hoặc văn bản thông báo kết quả trúng thầu đối với trường hợp địa điểm quảng cáo trong quy hoạch phải tổ chức đấu thầu;

     

    - Trường hợp công trình quảng cáo gắn với công trình đã có trước phải có văn bản thoả thuận hoặc hợp đồng của chủ đầu tư xây dựng công trình quảng cáo với chủ sở hữu hoặc người được giao quyền quản lý công trình đã có trước;

     

    - Bản vẽ thiết kế của tổ chức thiết kế hợp pháp thể hiện được vị trí mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng điển hình; mặt bằng móng của công trình có chữ ký và đóng dấu của chủ đầu tư xây dựng công trình quảng cáo. Trường hợp công trình quảng cáo gắn vào công trình đã có trước thì bản vẽ thiết kế phải thể hiện được giải pháp liên kết công trình quảng cáo vào công trình đã có trước.

     

    Câu 3. Ông Lương Văn trực trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Tôi  xây nhà ở được 1 năm thì nhà hàng xóm liền kề bị lún, nứt. Theo quy định của pháp luật thì tôi có bị xử phạt và bồi thường không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định 121/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm về thi công xây dựng:

     

     Xử phạt hành vi thi công xây dựng công trình vi phạm các quy định về xây dựng gây lún, nứt công trình lân cận, công trình hạ tầng kỹ thuật như sau:

     

    a) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ nông thôn hoặc công trình xây dựng khác;

     

    b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị;

     

    c) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng công trình thuộc trường hợp phải lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình hoặc lập dự án đầu tư xây dựng công trình.”

     

    Có thể thấy, nếu nhà của ông xây lên dẫn tới công trình xây dựng của người hàng xóm đó bị sụt, lún, nứt thì nếu có căn cứ cho rằng tình trạng này do chính việc ông xây nhà gây ra thì cơ quan có thẩm quyền sẽ có thể xử phạt vi phạm hành chính đối với gia đình ông. Việc này sẽ do thanh tra xây dựng hoặc những tổ chức có chuyên môn về việc đánh giá, kiểm tra công trình tiến hành xác định. Nếu lỗi hoàn toàn do gia đình ông thì ngoài bị xử phạt hành chính, ông còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Bà Bế Thị Phân trú tại thôn Còn SLung, xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi về chế độ chính sách đối với thân nhân của người có công với các mạng.

     

    Trong đơn bà trình bày đã gửi đúng nơi nhận là UBND xã Thanh Long. UBND xã sẽ có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo đúng thẩm quyền.

     

    2. Bà Hoàng Thị Ngân trú tại thôn Nà Cốc, xã Khánh Khê, huyện Văn Quan hỏi về việc tranh chấp lối đi chung trong sinh hoạt thường ngày.

     

    Đề nghị bà liên hệ với UBND xã Khánh Khê để được xem xét, giải quyết theo đúng thẩm quyền.

     

    Tô Thị Huệ – Chuyên viên Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật và Theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 17 tháng 4 năm 2018

     

    Thưa quý vị và các bạn!

     

    Trong chuyên mục tuần này chúng tôi xin được giải đáp những vướng mắc về pháp luật qua đơn thư chúng tôi đã tổng hợp được trong tuần qua như sau:

     

    Câu 1. Ông Chu Văn Đông trú tại xã Đại Đồng, huyện Tràng Định hỏi: điều kiện và mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

      Theo quy định tại Luật việc làm số 38/2013/QH13 thì người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

       Thứ nhất: Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp:

     

       – Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

     

       – Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng

     

       Thứ hai: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động

     

       Thứ ba: Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định

     

       Thứ tư: Đang trong tình trạng thất nghiệp, không có việc làm sau khi nghỉ việc và nộp hồ sơ xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp

     

       Về mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp:

     

       Căn cứ theo khoản 1, Điều 50, Luật Việc làm năm 2013 như sau: thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

     

       Trợ cấp thất nghiệp 1 tháng = 60% x Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

     

    Câu 2. Ông Lương Văn Tuân trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là Hòa giải viên ở khu phố, tôi xin hỏi những trường hợp mâu thuẫn tranh chấp nào trong nhân dân, tổ hòa giải được hòa giải, trường hợp nào không được hòa giải?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Luật hòa giải ở cơ sở quy định như sau:

     

    1. Hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây:

     

    - Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);

     

    - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

     

    - Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;

     

    - Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;

    - Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:

     

    Không bị khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

     

    Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

     

    - Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính;

     

    - Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.

     

    2. Không hòa giải các trường hợp sau đây:

     

    - Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

     

                 - Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;

     

    - Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các hành vi vi phạm pháp luật hình sự thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà người bị hại đồng ý hòa giải, không yêu cầu khởi tố.

     

    - Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp đủ điều kiện áp dụng các biện pháp xủa lý hành chính khác thay thế  như nhắc nhở, uản lý tại gia đình theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

     

              - Các mâu thuẫn, tranh chấp về thương mại; tranh chấp về lao động thuộc phạm vi hòa giải của pháp luật về kinh doanh thương mại, pháp luật về lao động.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Thành Nam trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Khi xảy ra cháy, người dân gọi 114 và được Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy điều xe chữa cháy đến dập tắt đám cháy. Vậy có phải trả chi phí cho việc chữa cháy hay không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Pháp luật hiện hành về Phòng cháy chữa cháy, khi nhận được tin báo cháy trong phạm vi địa bàn bảo vệ, các đơn vị Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy đều phải điều động lực lượng, phương tiện đến đám cháy và tổ chức dập tắt đám cháy. Cá nhân, tổ chức để xảy ra cháy không phải thanh toán bất kỳ khoản chi phí chữa cháy nào cho Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy, kể cả các cá nhân, tổ chức có mua hoặc không mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

     

              Tuy nhiên, nếu tổ chức, cá nhân, có vi phạm quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, để xảy ra cháy, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, thì tuỳ theo tính chất của vụ việc, mức độ thiệt hại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự  hoặc xử lý hành chính .

     

    Tô Thị Huệ – Chuyên viên Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật và Theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 10 tháng 4 năm 2018

    Câu 1. Bà Lưu Thị Phương trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi đánh số đề có phải là đánh bạc không, nếu là đánh bạc thì sẽ bị xử lý như thế nào?

    Trả lời: Theo quy định của pháp luật, hành vi đánh số đề là đánh bạc, là vi phạm pháp luật, tùy theo tình chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý như sau:

    Về hành chính: tại Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định:

    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

    2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

    a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

    b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

    c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

    d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

    3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

    b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.

    4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

    a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;

    b) Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc;

    c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;

    d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.

    5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:

    a) Làm chủ lô, đề;

    b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

    c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

    d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

    6. Hình thức xử phạt bổ sung: Người vi phạm có thể bị áp dụng các hình thức phạt bổ sung:

    Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi vi phạm

    7. Người nước ngoài có hành vi vi phạm thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Về hình sự, tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định xử lý như sau:

    Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vị tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo quy định của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Có tính chất chuyên nghiệp;

    b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

    c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

    d) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

    Câu 2. Ông Lục Văn Tư trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Con trai tôi đang trong trường giáo dưỡng, vậy tôi đến thăm có được gặp mặt con và gửi quà cho con của mình không?

    Trả lời:

    Theo Điều 24 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc quy định:

    “1. Học sinh được gặp người thân tại nhà thăm gặp của trường giáo dưỡng, được liên lạc với thân nhân bằng điện thoại và phải chấp hành đúng những quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ Công an về thăm gặp và liên lạc bằng điện thoại.

    2. Người đến thăm học sinh phải xuất trình Chứng minh nhân dân. Trường hợp ngủ lại qua đêm tại trường giáo dưỡng phải được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng...”.

    Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định học sinh được nhận và gửi thư, nhận tiền, quà (trừ rượu, bia, thuốc lá, các chất kích thích, đồ vật và các loại văn hóa phẩm bị cấm).

    "Trường giáo dưỡng có trách nhiệm kiểm tra thư, giám sát nội dung các cuộc nói chuyện điện thoại và các loại quà trước khi trao cho học sinh.

    Riêng tiền hoặc giấy tờ có giá, học sinh phải gửi vào bộ phận lưu ký của trường giáo dưỡng và được sử dụng theo quy định của Bộ Công an”.

    Như vậy, ông có quyền đi thăm con trai của mình và căn cứ vào những quy định trên để có thể lựa chọn quà cho con.

    Tô Thị Huệ – Chuyên viên Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật và Theo dõi thi hành pháp luật - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 03 tháng 4 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Phạm Ngọc Trung trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện an toàn về phòng cháy, chữa cháy đối với khu dân cư và hộ gia đình được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy quy định điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư như sau:

     

    1. Có quy định, nội quy về phòng cháy và chữa cháy, về sử dụng điện, sử dụng lửa và các chất dễ cháy, nổ; có biển cấm, biển báo, sơ đồ hoặc biển chỉ dẫn về phòng cháy và chữa cháy, thoát nạn phù hợp với đặc điểm của khu dân cư.

    2. Có thiết kế và phải được thẩm duyệt thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với khu dân cư xây dựng mới.

     

    3. Hệ thống điện bảo đảm tiêu chuẩn an toàn về phòng cháy và chữa cháy.

     

    4. Có hệ thống giao thông, nguồn nước phục vụ chữa cháy, giải pháp chống cháy lan, phương tiện phòng cháy và chữa cháy bảo đảm số lượng và chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy hoặc theo quy định của Bộ Công an.

     

    5. Có phương án chữa cháy và thoát nạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.

     

    6. Có lực lượng dân phòng được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy và tổ chức thường trực sẵn sàng chữa cháy đáp ứng yêu cầu chữa cháy tại chỗ.

     

    7. Có hồ sơ quản lý, theo dõi hoạt động phòng cháy và chữa cháy theo quy định của Bộ Công an.

     

    Điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy đối với hộ gia đình

     

    1. Nơi đun nấu, nơi thờ cúng, nơi có sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị sinh lửa, sinh nhiệt, hệ thống điện, thiết bị sử dụng điện phải bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy.

     

    2. Tài sản, vật tư, chất cháy phải được bố trí, sắp xếp, bảo quản và sử dụng đúng quy định an toàn về phòng cháy và chữa cháy.

     

    3. Có phương tiện chữa cháy phù hợp với đặc điểm hoạt động và điều kiện của từng hộ gia đình.

     

    Câu 2. Ông Trương Minh Vũ trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: pháp luật quy định như thế nào khi người dân phát hiện ra cháy nổ tại khu vực mình sinh sống? Trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 22 của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháy như sau:

     

    1. Người phát hiện thấy cháy phải bằng mọi cách báo cháy ngay cho người xung quanh biết, cho một hoặc tất cả các đơn vị sau đây:

     

    a) Đội dân phòng hoặc đội phòng cháy và chữa cháy cơ sở, chuyên ngành tại nơi xảy ra cháy.

     

    b) Đơn vị Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy nơi gần nhất.

     

    c) Chính quyền địa phương sở tại hoặc cơ quan Công an nơi gần nhất.

     

    2. Cơ quan, đơn vị khi nhận được tin báo về vụ cháy xảy ra trong địa bàn được phân công quản lý thì phải nhanh chóng đến tổ chức chữa cháy, đồng thời báo cho các cơ quan, đơn vị cần thiết khác để chi viện chữa cháy; trường hợp cháy xảy ra ngoài địa bàn được phân công quản lý thì sau khi nhận được tin báo cháy phải bằng mọi cách nhanh chóng báo cho các cơ quan, đơn vị quản lý địa bàn nơi xảy cháy biết để xử lý, đồng thời báo cáo cấp trên của mình.

     

    3. Người có mặt tại nơi xảy ra cháy và có sức khỏe phải tìm mọi biện pháp để cứu người, ngăn chặn cháy lan và dập cháy; người tham gia chữa cháy phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy chữa cháy.

     

    4. Lực lượng Công an, Quân đội, Dân quân tự vệ, cơ quan y tế, điện lực, cấp nước, môi trường đô thị, giao thông và các cơ quan khác có liên quan có nhiệm vụ chữa cháy và tham gia chữa cháy theo quy định tại Luật Phòng cháy và chữa cháy.

     

    Câu 3. Ông Nông Văn Hưởng trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi vứt xác động vật ra đường gây ô nhiễm môi trường sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi vứt xác động vật gây ô nhiễm môi trường là một trong những hành vi bị cấm theo quy định tại khoản 7 Điều 13 Luật Thú y 2015.

     

    Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của Điều 7 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính hành vi vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh chung như sau:

     

    Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi:

     

    - Đổ, ném chất thải, chất bẩn hoặc các chất khác làm hoen bẩn nhà ở, cơ quan, trụ sở làm việc, nơi sản xuất, kinh doanh của người khác;

     

    -Tự ý đốt rác, chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vực dân cư, nơi công cộng;

     

    - Đổ rác, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng, trên vỉa hè, lòng đường;

     

    - Để rác, chất thải, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác mà gây ô nhiễm ra nơi công cộng hoặc chỗ có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm, hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinh hoạt làm mất vệ sinh.

     

    Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi quy định; Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu”.

     

    Như vậy, hành vi vứt xác động vật gây ô nhiễm môi trường công cộng sẽ bị xử phạt hành chính từ 1 triệu đến 2 triệu đồng.

     

    Căn cứ vào Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, người có thẩm quyền xử phạt hành chính hành vi trên là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Nông Thị Liệu, trú tại thôn Làng Cướm, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng hỏi về quy định tặng Kỷ niệm chương cho hội viên phụ nữ.

     

    Căn cứ theo Quyết định số 1266/QĐ-BCH ngày 19/3/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam quy định về công tác thi đua khen thưởng nhiệm kỳ 2017-2022 thì Cán bộ, hội viên nếu đủ tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương sẽ được BCH Trung ương hội Quyết định tặng bằng hiện vật bao gồm: bản giấy Kỷ niệm chương, Huy hiệu Kỷ niệm chương, kèm tiền thưởng theo quy định.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 27 tháng 3 năm 2018

    Câu 1. Ông  Mã Văn Trường trú tại xã Bắc Xa, huyện Đình Lập hỏi: Tôi có người thân đang bị tạm giam và muốn được vào thăm, vậy pháp luật quy định như thế nào về việc gặp thân nhân của người đang bị tạm giam?

     Trả lời:

    Theo Điều 22 Luật thi hành tạm giữ tạm giam năm 2015 thì việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được quy định cụ thể như sau:

    1. Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý. Thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ.

    2. Người đến thăm gặp phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong trường hợp là thân nhân của họ. Việc thăm gặp phải chịu sự giám sát, theo dõi chặt chẽ của cơ sở giam giữ;

    không làm ảnh hưởng đến các hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về thăm gặp; trường hợp cơ quan thụ lý vụ án có yêu cầu thì phối hợp với cơ sở giam giữ để giám sát, theo dõi việc thăm gặp.

    Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp; thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

    3. Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa.

    4. Thủ trưởng cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong các trường hợp sau đây và phải nêu rõ lý do:

    a) Thân nhân không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp thân nhân do thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án; người bào chữa không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

    b) Trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an toàn cơ sở giam giữ hoặc để tổ chức truy bắt người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn;

    c) Khi có dịch bệnh xảy ra tại khu vực có cơ sở giam giữ;

    d) Khi cấp cứu người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;

    đ) Khi đang lấy lời khai, hỏi cung hoặc người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang tham gia các hoạt động tố tụng khác;

    e) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam không đồng ý thăm gặp; trường hợp này, người thăm gặp được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc không đồng ý thăm gặp;

    g) Người đến thăm gặp cố ý vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ từ hai lần trở lên;

    h) Người bị tạm giam đang bị kỷ luật, bị cách ly ở buồng kỷ luật do có hành vi chống phá quyết liệt cơ sở giam giữ, tự sát, tự gây thương tích cho bản thân, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác.

    Câu 2. Ông Trần Minh Đức trú tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia hỏi: khi phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, cá nhân, tổ chức phải làm gì để đăng ký khai sinh cho trẻ em?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP về đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi thì:

    1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo.

    Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Thủ trưởng cơ quan Công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi và tìm cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng.

    Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng, tài sản và đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải có đủ chữ ký của người lập biên bản, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng nếu có, đóng dấu xác nhận của cơ quan lập Biên bản.

    Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập Biên bản, một bản giao cho cá nhân hoặc tổ chức được giao tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

    2. Sau khi lập biên bản, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi.

    3. Hết thời hạn 07 ngày niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ thì Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ em theo quy định.

    Việc xác định họ, chữ đệm, tên của trẻ được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh và căn cứ vào thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ em bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.

    Câu 3. Bà Hoàng Thị Hằng trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo Điều 49 Luật Nhà ở năm 2014 thì đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội bao gồm:

    - Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

    - Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;

    - Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;

    - Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;

    - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

    - Người thuê nhà ở công vụ khi không còn đủ điều kiện được thuê nhà ở hoặc chuyển đi nơi khác hoặc có hành vi vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở mà thuộc diện bị thu hồi thì phải trả lại nhà ở công vụ cho Nhà nước.

    - Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của Ông Dương Trung Lưu, trú tại thôn Làng Đồng xã Nhất Tiến, huyện Bắc Sơn hỏi về thẩm quyền giải vụ việc bị ông Dương Trung Thanh, tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy hoại tài sản( nhổ và chặt phá cây keo).

    Qua đơn trình bày của ông, vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Để được giải quyết, đề nghị ông có đơn tố cáo đến công an huyện Bắc Sơn để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Nếu cần trợ giúp pháp lý, đề nghị ông liên hệ với Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, Địa chỉ: Cạnh phòng tiếp công dân UBND huyện Bình Gia. Số điện thoại (0205) 3836222, để được hướng dẫn

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 20 tháng 3 năm 2018

     

    Câu 1: Ông Mông Văn Nam trú tại xã Tràng Phái, huyện Văn Quan hỏi: tôi có nhu cầu muốn xác nhận mức độ khuyết tật cho bản thân thì cần phải làm những thủ tục gì theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 18 Luật Người khuyết tật muốn xác nhận mức độ khuyết tật cần những thủ tục sau:

     

    - Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú.

     

    - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

     

    - Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tổ chức việc xác định mức độ khuyết tật, lập hồ sơ xác định mức độ khuyết tật và kết luận.

     

    - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết và thông báo công khai kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Trung Tứ trú tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc hỏi: về mức hỗ trợ lương thực cho các đối tượng được bảo trợ xã hội được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    1. Hỗ trợ 15 kg gạo/người đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong dịp Tết Âm lịch.

     

    2. Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03 tháng cho mỗi đợt trợ giúp đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác.

     

    3. Thủ tục hỗ trợ thực hiện theo quy định sau đây:

     

    a) Trưởng thôn, bản, phum, sóc, ấp, cụm, khóm, tổ dân phố (sau đây gọi chung là Trưởng thôn) lập danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói cần hỗ trợ theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định;

     

    b) Trưởng thôn chủ trì họp với đại diện của các tổ chức có liên quan trong thôn để bình xét hộ gia đình, số người trong hộ gia đình thiếu đói gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

     

    c) Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Trưởng thôn, Hội đồng xét duyệt thống nhất danh sách hộ gia đình và số người thiếu đói, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định;

     

    d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định cứu trợ ngay những trường hợp cấp thiết. Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;

     

    đ) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định hỗ trợ;

     

    e) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định hỗ trợ. Trường hợp thiếu nguồn lực thì có văn bản đề nghị trợ giúp gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính;

     

    g) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Trường hợp thiếu nguồn lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính;

     

    h) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;

     

    i) Khi nhận được hỗ trợ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện ngay việc trợ giúp cho đối tượng bảo đảm đúng quy định;

     

    k) Kết thúc mỗi đợt hỗ trợ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả hỗ trợ.

     

    Câu 3. Ông Lục Văn Tăng trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi:  mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về quảng cáo làm ảnh hưởng mỹ quan, trật tự giao thông, xã hội?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi phát tờ rơi quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.

     

     Phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Quảng cáo tại mặt trước, mặt sau và trên nóc của một phương tiện giao thông; quảng cáo vượt quá diện tích mỗi mặt được phép quảng cáo của một phương tiện giao thông theo quy định.

     

    Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với người có sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo trên tờ rơi làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, xã hội.

     

    Phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung trước khi thực hiện quảng cáo theo quy định.

     

    Quảng cáo thuốc không đúng với nội dung được xác nhận tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quảng cáo thuốc đang trong thời hạn xem xét, giải quyết hồ sơ theo quy định; quảng cáo thuốc theo tài liệu thông tin quảng cáo đã được xác nhận hết giá trị; quảng cáo thuốc khi chưa nộp hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

     

    Quảng cáo trên các thiết bị điện tử tại nơi công cộng; phát tán hoặc thuyết trình tại hội chợ, hội thảo, hội nghị, triển lãm các sản phẩm in, ghi âm, ghi hình, thiết bị lưu chứa dữ liệu giới thiệu sản phẩm thực phẩm, phụ gia thực phẩm không đúng với hồ sơ công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp với quy định về an toàn thực phẩm hoặc hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo.

     

    Quảng cáo thực phẩm dưới hình thức bài viết của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế có nội dung mô tả thực phẩm có tác dụng điều trị bệnh; sử dụng hình ảnh, uy tín, thư tín của đơn vị, cơ sở y tế, nhân viên y tế, thư cảm ơn của bệnh nhân để quảng cáo thực phẩm.

     

    Quảng cáo thực phẩm chức năng dưới dạng liệt kê công dụng của từng thành phần của sản phẩm.

     

     Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tháo dỡ hoặc xóa bỏ quảng cáo.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 3 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Hoàng Minh trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: người có hành vi để xảy ra cháy nổ sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Đối với hành vi để xảy ra cháy nổ thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi mà người đó có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

     

    - Về xử phạt hành chính: Việc xử phạt vi phạm hành chính về phòng cháy và chữa cháy được quy định cụ thể tại Mục 3 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, tương ứng với mỗi hành vi sẽ có mức phạt khác nhau. Điều 48 Nghị định này quy định như sau:

     

    1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại dưới 2.000.000 đồng.

     

    2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vô ý vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.

     

    3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi vô ý vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 10.000.000 đồng đến dưới 25.000.000 đồng.

     

    4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vô ý để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

     

    5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi do thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy, nổ.

     

    6. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vô ý để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại trên 50.000.000 đồng.

     

    - Về xử lý hình sự:

     

    Điều 313 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định cụ thể như sau:

     

    1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 2 năm đến 5 năm.

     

    2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến tám năm.

     

    3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 12 năm.

     

    Câu 2. Ông Hoàng Ngọc Phương, trú xã Thanh Long, huyện Văn Lãng hỏi: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm và phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

     

                1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

     

                2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp được tha miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn:

     

                - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ các tội: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; cướp tài sản và các tội phạm về ma túy quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự;

     

                - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội: giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; hiếp dâm người dưới 16 tuổi; cưỡng dân người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; mua bán người; mua bán người dưới 16 tuổi  các tội phạm về ma túy quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự;

     

                - Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

     

                3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

     

                4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp: Khiển trách; Hòa giải tại cộng đồng hoặc Giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

     

                5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

     

                6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

     

                Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

     

                7. Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

     

    Câu 3. Ông Vy Thanh Chương, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: trường hợp cá nhân tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, như sau:

     

    + Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

     

    + Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

     

    + Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

     

    + Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

     

    + Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của ông Vy Văn Soạn trú tại thôn 4 vườn chè, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng hỏi về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng chưa được giải quyết.

     

    Về vấn đề ông hỏi đề nghị ông liên hệ với Ban tiếp công dân huyện Hữu Lũng để được xem xét, giải quyết.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 06 tháng 3 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Lộc trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: điều kiện để được tha tù trước thời hạn? quy định của pháp luật về tha tù trước thời hạn?

    Trả lời:

     

    Tha tù trước thời hạn là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

     

    - Phạm tội lần đầu;

     

    - Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

     

    - Có nơi cư trú rõ ràng;

     

    - Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

     

    - Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

    Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

     

    Không tha tù trước thời hạn trong các trường hợp sau: phạm tội về an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội phạm khủng bố; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người do lỗi cố ý; người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các Tội cướp tài sản. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội sản xuất trái phép chất ma túy. Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội chiếm đoạt chất ma túy; Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình.

     

    Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

     

    Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Vân, trú tại xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng hỏi: Những đối tượng nào được xem là thân nhân của người có công với cách mạng được Nhà nước đóng Bảo hiểm y tế?

     

    Trả lời: Thân nhân người có công với cách mạng thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế. Theo quy định tại khoản 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 quy định: “Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định đã nêu ở bên”

     

    Để xác định rõ các đối tượng nào là thân nhân của người có công được hưởng chính sách này, ngày 26/7/2016, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 25/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn xác định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Thân nhân của người có công với cách mạng bao gồm:

     

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ trên 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng, con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp hàng tháng;

     

    - Con liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ;

     

    - Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng của: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến; thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

     

    Câu 3. Ông Lộc Minh Vương trú tại xã Tràng Phái, huyện Văn Quan hỏi: Mức cho vay ưu đãi đối với Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là bao nhiêu? Đối tượng nào được vay chương trình này?

     

    Trả lời:

     

    Theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg ngày 03/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Điều 3 Quyết định sổ 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, mức cho vay đối với chương trình này là 6 triệu đồng/công trình/hộ. Như vậy, đối với 1 hộ sẽ được xem xét cho vay tối đa là 12 triệu đồng cho công trình cung cấp nước sạch và công trình xây dựng nhà vệ sinh.

     

    Cũng theo Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg, đối tượng được vay vốn Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là: “Hộ gia đình định cư hợp pháp tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh và hộ gia đình sau khi đã trả hết nợ vốn vay, có nhu cầu vay mới để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp, không đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia được UBND cấp xã xác nhận”.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 27 tháng 02 năm 2018

    Câu 1. Bà Lương Thị Hằng trú tại xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc xử phạt các hành vi vi phạm quy định về thực hiện nếp sống văn minh tại khu vực lễ hội, di tích được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Căn cứ vào Nghị định số 28/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.

    Theo đó, bổ sung thêm nhiều quy định xử phạt hành vi vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh tại khu vực lễ hội, di tích như sau:

    Theo Điều 2, Nghị định số 28/2017/NĐ-CP quy định: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thắp hương hoặc đốt vàng mã không đúng quy định của Ban tổ chức lễ hội, Ban quản lý di tích; ném, thả tiền xuống giếng, ao hồ; nói tục, xúc phạm tâm linh gây ảnh hưởng đến không khí trang nghiêm; xả rác bừa bãi làm mất vệ sinh môi trường trong khu vực lễ hội, di tích”.

    Theo Khoản 1, Điều 16 quy định về điều kiện tổ chức hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng

    "1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

    a) Không thành lập Ban tổ chức lễ hội theo quy định;

    b) Bán vé, thu tiền tham dự lễ hội;

    c) Không có nhà vệ sinh hoặc có nhà vệ sinh nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định trong khu vực lễ hội, di tích."

    Liên quan đến bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tại các di tích, khoản 22 Nghị định quy định: Phạt tiền từ 3- 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Phổ biến và thực hành sai lệch nội dung di sản văn hóa phi vật thể hoặc tùy tiện đưa vào những yếu tố mới không phù hợp làm giảm giá trị di sản văn hóa phi vật thể.

    Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cũng xử phạt 3-5 triệu đồng đối với hành vi “Tuyên truyền, giới thiệu sai lệch nội dung, giá trị di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh; Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để trục lợi”.

    Câu 2. Ông Nguyễn Hoàng Nam trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: tôi được biết năm 2018, việc hướng dẫn cấp sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) và thẻ bảo hiểm y tế  (BHYT) theo mã số có một số điểm mới đáng lưu ý, vậy nội dung liên quan đến việc cấp sổ BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH được quy định như thế nào?

    Trả lời:

     Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành công văn số 3340/BHXH-ST ngày 08/8/2017 hướng dẫn cấp sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) và thẻ bảo hiểm y tế  (BHYT) theo mã số. Trên cơ sở quy định về quản lý thu, cấp, quản lý sổ BHXH và thẻ BHYT. Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc cấp sổ BHXH và thẻ BHYT theo mã số BHXH như sau:

    1. Không ghi thời điểm hết hạn sử dụng

    Trước đây, thông tin trên thẻ BHYT thường được ghi rõ thời hạn sử dụng, song từ năm 2018 trên thẻ chỉ in giá trị sử dụng từ ngày được cấp và không có thời gian hết hạn.

    Người tham gia bảo hiểm y tế có thể tự kiểm tra thông tin về thẻ trên Cổng thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam, danh sách cấp thẻ Bảo hiểm Y tế lưu tại đơn vị để được giải đáp nếu còn vướng mắc. Việc này nhằm giảm bớt thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí, đồng thời hạn chế tình trạng người bệnh phải chờ đổi thẻ để đi khám, chữa bệnh.

    2. Xác định đầy đủ thời điểm tham gia 5 năm liên tục

    Cụ thể, trường hợp thẻ BHYT cấp theo mã số BHXH có thời điểm tham gia đủ 05 năm liên tục ghi chưa đúng, người tham gia cung cấp thêm thông tin về tên, địa chỉ của các đơn vị nơi đã có quá trình tham gia trước đó hoặc thẻ cũ (nếu còn lưu giữ) cho cơ quan BHXH nơi cấp thẻ. Cơ quan BHXH có trách nhiệm chủ động kiểm tra lại Danh sách, dữ liệu quản lý thu và kết hợp thêm với thông tin người tham gia có thể cung cấp để điều chỉnh dữ liệu và in thẻ BHYT mới cho người tham gia ngay trong ngày theo hướng dẫn tại Công văn số 238/BHXH-CNTT ngày 22/01/2018 của BHXH Việt Nam.

    3. 10 số cuối mã thẻ BHYT là mã số BHXH

    Theo quy định mới tại Quyết định 595/QĐ-BHXH, đối với thẻ BHYT được cấp theo mẫu mới thì 10 số cuối của thẻ BHYT chính là mã số BHXH của người tham gia.

    Như vậy khi tra cứu thông tin, người tham gia bảo hiểm có thể sử dụng thông tin ở thẻ BHYT để tra một số thông tin về BHXH của mình. Đây là một trong những điểm thuận lợi cho người dân  theo quy định mới.

    Một điều thuận lợi cho người sử dụng bảo hiểm y tế là: Khi các cơ sở khám chữa bệnh, nếu người dùng phát hiện trên thẻ bị sai thông tin cơ sở khám chữa bệnh không được phép yêu cầu bệnh nhân quay về đổi thẻ BHYT. Thay vào đó, cơ sở khám chữa bệnh phải liên hệ với bộ phận giám định thẻ BHYT của cơ quan BHXH nơi ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT để xác minh.

    Bên cạnh đó trường hợp thẻ BHYT ghi chưa đúng họ tên, ngày sinh, giới tính như Tờ khai của người tham gia, cơ quan BHXH có trách nhiệm điều chỉnh và đổi thẻ BHYT, người tham gia không phải cung cấp các giấy tờ để chứng minh.

    Đối với trường hợp thẻ BHYT cũ còn giá trị sử dụng và đã đổi quyền lợi theo đối tượng có mức hưởng cao hơn, nếu được đổi thẻ cấp theo mã số BHXH (thẻ BHYT mới) không ghi đúng mức hưởng như thẻ cũ, người tham gia BHYT cần liên hệ ngay với cơ quan BHXH nơi cấp thẻ mới để điều chỉnh theo thẻ đã cấp trước đó mà không phải cung cấp thêm giấy tờ chứng minh.

    Đối với cá nhân tham gia theo nhiều đối tượng khác nhau, cơ quan BHXH rà soát, xác định và phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin BHXH Việt Nam đảm bảo chỉ cấp 1 thẻ BHYT duy nhất theo đối tượng đầu tiên được xếp theo thứ tự các đối tượng quy định tại điểm 2 khoản 7 Điều 1 Luật số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung Luật BHYT. Đồng thời, thông tin cho đơn vị đã lập Danh sách trùng để điều chỉnh giảm. Trường hợp sơ xuất để xảy ra cấp trùng thẻ BHYT phải thực hiện giảm dữ liệu giá trị sử dụng thẻ đó ngay khi phát hiện. 

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của bà Hoàng Thị Vương, trú tại thôn Nà Ỏ, xã Tam Gia, huyện Lộc Bình hỏi về thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản (cây thông).

    Theo thư bà trình bày, đây là vụ việc tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Nếu các bên tranh chấp không hoà giải được với nhau, bà có thể làm đơn khởi kiện, đề nghị Toà án nhân dân huyện Lộc Bình xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. 

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 13 tháng 02 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lộc Minh Hào trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định mới nhất của pháp luật thì việc miễn chấp hành hình phạt được quy định cụ thể đối với những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 thì một người sau khi bị kết án, bản án có hiệu lực thì phải chấp hành án. Tuy nhiên, với chính sách hình sự của nhà nước ta là nhân đạo, hướng thiện. Vì vậy, người bị kết án có thể được Tòa án có thẩm quyền quyết định miễn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau:

     

        - Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

     

        - Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại;

     

       - Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại;

     

    Người được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

     

    Câu 2. Ông Nông Văn Độ trú tại xã Tú Đoạn, huyện Lộc Bình hỏi: Mức quà tặng tết Âm lịch Mậu tuất năm 2018 đối với người có công với cách mạng được Nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

      Ngày 15/01/2018 Chủ tịch nước ban hành Quyết định 47/QĐ-CTN về tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018. Theo đó, có 02 mức quà tặng đối với các đối tượng:

     

        1. Mức quà 400.000 đồng tặng:

     

        a) Người có công với cách mạng là:

     

        - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Bà mẹ Việt Nam anh hùng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng.

     

       b) Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng; thân nhân của hai liệt sĩ trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

     

       2. Mức quà 200.000 đồng tặng:

     

       a) Người có công với cách mạng là:

     

       - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 80% trở xuống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động;

     

       - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 80% trở xuống đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng;

     

       - Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng.

     

       b) Đại diện thân nhân liệt sĩ.

     

       c) Người thờ cúng liệt sĩ (trường hợp liệt sĩ không còn thân nhân).

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Minh Đức trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Việc đổi tiền mới để hưởng chênh lệch cao có phải là hành vi vi phạm pháp luật không? nếu là hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử phạt như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Chỉ thị số 48/CT-TTg về tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội dịp Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018, trong đó, yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường phát hiện và xử lý các hành vi đổi tiền lẻ trái quy định của pháp luật.

     

    Đồng thời, chủ động có các giải pháp phù hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ; tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống; phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, kịp thời xử lý vi phạm trong hoạt động mua, bán ngoại tệ, vàng và dịch vụ đổi tiền mặt mệnh giá nhỏ không đúng quy định…

     

    Theo Nghị định số 96/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Theo đó, hành vi đổi tiền không đúng quy định của pháp luật sẽ bị xem xét, xử phạt, mức phạt được quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 5, cụ thể:

     

    "5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    a) Thực hiện đổi tiền không đúng quy định của pháp luật;"

     

    Như vậy, dịch vụ đổi tiền lẻ là hành vi trái pháp luật và bị nghiêm cấm. Nếu người nào thực hiện các hành vi đổi tiền không đúng quy định như: đổi tiền có phí, đổi tiền không đúng mệnh giá, đổi tiền không bằng giá trị… thì bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 06 tháng 02 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Hà Văn Quân trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: Quy định về việc giám định tỷ lệ thương tật. Người bị hại có quyền tự yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật không? 

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật giám định tư pháp. 

     

    Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định bao gồm: 

     

    - Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;

     

    - Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

     

    - Nguyên nhân chết người;

     

    - Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

     

    - Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;

     

    - Mức độ ô nhiễm môi trường.

     

    Bên cạnh đó, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012 quy định về việc yêu cầu trưng cầu giám định như sau: 

     

    "2. Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

     

    3. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo."

     

    Câu 2. Ông Trương Ngọc Hoàng trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những đối tượng nào được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC về hướng dẫn về chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ thì đối tượng được hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe bao gồm: 

     

    1. Đối tượng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe mỗi năm một lần:

     

    a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

     

    b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

     

    c) Cha đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ hoặc cha đẻ, mẹ đẻ có hai con là liệt sĩ trở lên;

     

    d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

     

    đ) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B (sau đây gọi chung là thương binh), bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật từ 81% trở lên;

     

    e) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do ảnh hưởng của chất độc hóa học từ 81% trở lên;

     

    g) Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”.

     

    2. Đối tượng được điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần:

     

    a) Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; vợ hoặc chồng của liệt sĩ; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng;

     

    b) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

     

    c) Thương binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật dưới 81%;

    d) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do ảnh hưởng của chất độc hóa học dưới 81%;

     

    đ) Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

     

    e) Người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

     

    Câu 3. Ông Đinh Văn Khôi trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: Những người nào có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp

    - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra các cấp;

     

    - Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

     

    - Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

     

    Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người thuộc các trường hợp khẩn cấp quy định nêu trên và các nội dung về số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; Căn cứ ban hành văn bản tố tụng; Nội dung của văn bản tố tụng; Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.

     

    Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định cụ thể như sau: Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 30 tháng 01 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Năm trú tại xã Thiện Thuật, huyện Bình Gia hỏi: Giấy tờ để chứng minh là người có công với cách mạng thuộc diện được trợ giúp pháp lý bao gồm những loại giấy tờ  nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động Trợ giúp pháp lý thì giấy tờ chứng minh là người có công với cách mạng gồm một trong các giấy tờ sau:

     

    a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền công nhận là người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

     

    b) Quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến;

     

    c) Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến, Bằng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Bằng Anh hùng, Bằng Có công với nước;

     

    d) Quyết định trợ cấp, phụ cấp do cơ quan có thẩm quyền cấp xác định là người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

     

    đ) Quyết định hoặc giấy chứng nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh, bệnh tật do nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

     

    Câu 2. Ông Trần Trọng Minh trú tại Phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các loại pháo, sản phẩm pháo nào được phép sử dụng trong dịp tết? Hành vi đốt pháo nổ trái phép sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật hiện hành?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Nghị định 36/2009/NĐ-CP quy định các loại pháo, sản phẩm pháo được sử dụng gồm có:

     

    1. Pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhập khẩu để tổ chức bắn pháo hoa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

     

    2. Pháo hoa do tổ chức, cá nhân nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép và được Bộ Công an cấp giấy phép mang vào Việt Nam để dự thi bắn pháo hoa.

     

    3. Pháo hiệu dùng trong các hoạt động báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, cứu hộ, cứu nạn, giao thông vận tải và hoạt động quân sự.

     

    4. Các sản phẩm như: pháo hoa lễ hội bằng giấy (trừ loại hoa có chứa kim loại), pháo điện, pháo trang trí bằng giấy, bằng nhựa, bằng tre, trúc, kim loại; que hương phát sáng; các sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng, màu sắc, âm thanh được dùng trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ không gây nên tiếng nổ.

     

    Đốt pháo nổ trái phép là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

     

              Về hành chính: Trường hợp sử dụng các loại pháo mà không được phép sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, bị tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm theo quy định tại Điểm b, Khoản 2  và Khoản 9, Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

     

              Về hình sự: Hành vi đốt pháo còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318, Bộ luật Hình sự 2015.

     

    1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

     

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

     

    a) Có tổ chức;

     

    b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

     

    c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

    d) Xúi giục người khác gây rối;

     

    đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

     

    e) Tái phạm nguy hiểm.

     

             Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị truy cứu TNHS về các tội danh khác quy định trong Bộ Luật Hình Sự tương xứng với hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác do hành vi đốt pháo nổ gây ra.

     

     Câu 3. Ông Hứa Văn Mạnh trú tại xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc hỏi: Những vật chứng nào cân niêm phòng và vật chứng nào không cần niêm phong? Theo quy định của pháp luật thì ai được quyền tham gia niêm phong và mở niêm phong vật chứng?

     

    Theo Nghị định số 127/2017/NĐ-CP, ngày 16/11/2017 về việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng thì vật chứng cần niêm phong và vật chứng không cần niêm phong được quy định:

     

                Mọi vật chứng sau khi thu thập phải được niêm phong, trừ các trường hợp sau:

     

              - Vật chứng là thực vật, động vật sống.

     

                - Vật chứng là tài liệu được đưa vào hồ sơ vụ án.

     

                - Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản.

     

              - Những vật chứng khác mà cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết phải niêm phong.

     

              Những người được tham gia niêm phong:

     

                - Người tham gia niêm phong vật chứng

     

              - Người chứng kiến hoặc đại điện  xã, phường thị trấn nơi thực hiện niêm phong vật chứng.

     

     

       - Người liên quan hoặc đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có).

     

       - Người bào chữa (nếu có).

     

      - Xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự

     

       Người tham gia mở niêm phong vật chứng:

     

       - Người liên quan hoặc đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có).

     

                - Người bào chữa (nếu xét thấy cần thiết).

     

              - đại điện  xã, phường thị trấn nơi thực hiện niêm phong vật chứng (trong trường hợp cần thiết).

     

                - Đại diện cơ quan quản lý vật chứng được niêm phong trong những trường hợp vật chứng được bảo quản tại các cơ quan chuyên môn.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này, chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Ông Nguyễn Văn Quang trú tại xã Xuân Mai, huyện Văn Quan hỏi về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và xử lý hành vi hành hung người cao tuổi?

     

    Về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định: Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

     

     - Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

     

     - Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết là:

     

    + Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền;

     

    + Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

     

              Như vậy, theo đơn ông trình bày, vợ chồng ông bị người khác tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cũng như bị hành hung ông có quyền làm đơn đề nghị UBND huyện Văn Quan hoặc Toà án nhân dân huyện Văn Quan xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    2. Đơn của ông Nông văn Quảng, trú tại xã Tân Tiến, huyện Tràng Định phản ánh về việc đơn vị thi công đường giao thông, gây bồi lấp hệ thống mương thủy lợi, ảnh hưởng đến canh tác của bà con nhân dân. Đài chúng tôi xin chuyển đến UBND xã Tân Tiến xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

    3. Đơn của ông Lương Văn Thập, trú tại xã Xuất Lễ, huyện Cao Lộc kiến nghị về việc đơn vị thi công đường giao thông Bản Ngõa- Bản Làng san lấp gây ngập úng thiệt hại cây trồng của gia đình ông từ năm 2016, đến nay chưa được bồi thường. Đơn của ông đã được chuyển đến UBND huyện để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 23 tháng 01 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Hứa Văn Phai trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: những trường hợp nào phải đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trại cai nghiện bắt buộc, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định như sau:

     

    1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

     

    2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:

     

    a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;

     

    b) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;

     

    c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

     

    Theo Điều 3 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

     

    Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là:

     

    1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

     

    2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy.

     

    3. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định.

    Câu 2. Ông Nguyễn Chiến Thắng trú tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: Những tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ, tình tiết nào là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

     Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

       Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

     

       - Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

     

       - Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

     

        - Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; Vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

     

       - Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

     

       - Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;  Phạm tội do lạc hậu;

     

       - Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

     

       - Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

     

       - Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

     

       - Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ;

     

       - Người phạm tội đầu thú hoặc tình tiết khác cũng có thể coi là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

       Đối với các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

     

        Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

     

       - Phạm tội có tổ chức;  Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

     

       - Phạm tội có tính chất côn đồ; Phạm tội vì động cơ đê hèn; Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

     

       - Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc  người đủ 70 tuổi trở lên; Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;

     

       - Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

     

       - Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;  Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc  tàn ác để phạm tội; Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;

     

       - Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

     

       Đối với các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư có nội dung sau:

     

    Ông Phan Văn Phố trú tại thôn Tòng Chu II, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Bình Gia hỏi: Trường hợp con dâu của ông bỏ nhà đi từ ngày 13/3/2017 đến nay vẫn không có tin tức gì, vậy có được coi là mất tích không? và nếu mất tích thì cháu của ông bị người mẹ bỏ rơi có được hưởng trợ cấp xã hội hay không?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tuyên bố mất tích như sau: Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

     

    Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

     

    Như vậy, con dâu của ông bỏ nhà đi từ ngày 13/3/2017 đến nay chưa tròn 02 năm, không đủ thời gian tuyên bố một người mất tích theo quy định của pháp luật và theo như thư của ông trình bày thì cháu của ông không thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 16 tháng 01 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Nông Ngọc Hoàng trú tại xã Hùng Sơn, huyện Tràng Định hỏi: Người thực hiện trợ giúp pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện Trợ giúp pháp lý được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

    1. Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm:

    - Trợ giúp viên pháp lý;

    - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

    - Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;

    - Cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

    Danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

    2. Người thực hiện trợ giúp pháp lý có các quyền và nghĩa vụ sau:                      - Thực hiện trợ giúp pháp lý;

                - Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật;

    - Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp Luật Trợ giúp pháp lý quy định không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý và theo quy định của pháp luật về tố tụng;

     - Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

    - Bảo đảm chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;

    - Tuân thủ nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý;

    - Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý;

    - Bồi thường hoặc hoàn trả một khoản tiền cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã trả cho người bị thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

    - Tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý;

    - Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của tổ chức trợ giúp pháp lý.

    - Được hưởng chế độ, chính sách theo quy định

    - Luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được hưởng thù lao và chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định.

    Câu 2. Ông Lý Tiến Mạnh trú tại thị trấn Đình Lập, huyện Đình Lập hỏi: phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý và hình thức trợ giúp pháp lý được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

     Theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý thì Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     - Người được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương;

     - Vụ việc trợ giúp pháp lý xảy ra tại địa phương;

     - Vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về trợ giúp pháp lý ở Trung ương yêu cầu.

    Tổ chức ký hợp đồng hoặc đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi hợp đồng, đăng ký.

     Trung tâm Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong các lĩnh vực pháp luật (trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại) bằng các hình thức Tham gia tố tụng; Tư vấn pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng và tuân theo các nguyên tắc:

    - Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý;

    - Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;

    - Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý;

    - Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý.

    Câu 3. Ông Dương Văn Phong trú tại xã Tân Hương, huyện Bắc Sơn hỏi: chính sách hỗ trợ cho thân nhân, người thờ cúng liệt sĩ đi tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Thông tư số 298/2017/TT-BQP hướng dẫn thực hiện về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

    Theo đó, thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ đi tìm mộ liệt sĩ được hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 298/2017/TT-BQP:

     - Được hỗ trợ tiền đi lại (bao gồm cả lượt đi và lượt về) theo khoảng cách từ nơi cư trú đến các đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu; số lượng không quá 3 người, mỗi năm một lần; mức chi cụ thể một lượt như sau:

    + Khoảng cách dưới 100 km: Mức 150.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 100 km đến dưới 300 km: Mức 300.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 300 km đến dưới 500 km: Mức 500.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 500 km đến dưới 1.000 km: Mức 800.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 1.000 km đến dưới 1.500 km: Mức 1.100.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 1.500 km đến dưới 2.000 km: Mức 1.500.000 đồng/người;

    + Khoảng cách từ 2.000 km trở lên: Mức 1.700.000 đồng/người.

     -  Được hỗ trợ tiền ăn với số lượng không quá 3 người; thời gian không quá 5 ngày; mức hỗ trợ tiền ăn một ngày cho một người bằng 2 lần mức tiền ăn cơ bản của hạ sĩ quan, binh sĩ bộ binh;

     -  Thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ khi đến đơn vị nơi liệt sĩ đã tham gia công tác, tham gia chiến đấu nộp giấy giới thiệu, 1 bản sao có chứng thực giấy báo tử liệt sĩ hoặc Bằng Tổ quốc ghi công. Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh hoặc đơn vị cấp sư đoàn hoặc tương đương trở lên quyết định hỗ trợ; lập phiếu chi trả và lưu các giấy tờ nêu trên làm chứng từ thanh, quyết toán.

       Về mức bồi dưỡng đối với việc cung cấp thông tin tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ:

     - Bồi dưỡng mức 3.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được 1 hài cốt liệt sĩ;

    - Bồi dưỡng mức 5.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 2 đến 5 hài cốt liệt sĩ;

    - Bồi dưỡng mức 10.000.000 đồng đối với thông tin chính xác, tìm kiếm, quy tập được mộ tập thể có từ 6 hài cốt liệt sĩ trở lên;

    - Người có thành tích xuất sắc về cung cấp thông tin chính xác được khen thưởng ngay sau khi có kết quả tìm kiếm, quy tập; do Tư lệnh hoặc Chính ủy quân khu hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định;

    -  Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh hoặc đội tìm kiếm, quy tập (nếu làm nhiệm vụ ở ngoài nước) lập văn bản có xác nhận của chính quyền địa phương sở tại (cấp xã) và chỉ huy đơn vị tìm kiếm, quy tập trực tiếp chi trả chế độ cho người cung cấp thông tin chính xác; lập phiếu chi trả làm chứng từ thanh, quyết toán.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 09 tháng 01 năm 2018

    Câu 1. Ông Phùng Quang Hiếu trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 2015 thì những trường hợp nào loại trừ trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự?

    Trả lời:

    Bộ luật Hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 quy định những trường hợp thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không bị coi là tội phạm. Đó là những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

     1. Sự kiện bất ngờ

     Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    3. Phòng vệ chính đáng

    Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

    4. Tình thế cấp thiết

    Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

    5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

    Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

              Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

              6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

    Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

              7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

    Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

              Quy định này không áp dụng do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên trong trường hợp phạm một trong các tội: Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh.

    Câu 2. Bà Trần Hoàng Giang, trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự theo quy định mới của pháp luật như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

    1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    - 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm);

    - 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù);

    - 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù);

    - 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

     Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

    Nếu trong thời hạn trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

    2. Các tội phạm sau đây không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự :

    - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII; Tội phá hoại hòa bình; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh; Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 ; Tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

    3. Các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự

    Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi có quyết định đại xá.

     Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

    - Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    - Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

    - Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

    - Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp          của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

    Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, quyết định miễm trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 02 tháng 1 năm 2018

     

    Câu 1. Ông Vy Mạnh Thăng , trú tại xã Y Tịch, huyện Chi Lăng hỏi: Việc tòa án tiến hành hòa giải giữa các bên tranh chấp trước khi mở phiên tòa xét xử vụ án dân sự được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:

     

    Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, như: Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự và Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.

    Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

     

    - Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;

     

    - Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

     

    Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:

     

    - Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;

     

    - Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

     

    - Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

     

    - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

    - Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến;

     

    - Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;

     

    - Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.

     

    Trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.

     

    Câu 2. Bà Lương Minh Hòa, trú tại xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng hỏi: Tiêu chuẩn công nhận gia đình văn hóa được quy định tại văn bản nào và bao gồm những tiêu chuẩn như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 4 Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương, quy định tiêu chuẩn Danh hiệu “Gia đình văn hóa” như sau:

     

    1. Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

    a) Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

     

    b) Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;

     

    c) Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm;

     

    d) Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng.

     

    2. Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

     

    a) Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiện sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

     

    b) Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình;

     

    c) Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

     

    d) Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng.

     

    3. Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:

     

    a) Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;

     

    b) Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng;

     

    c) Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Tiến Lộc trú tại Phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Công dân đến tạm trú tại địa phương khác mà không đăng ký tạm trú có bị xử phạt vi phạm hành chính không? và mức xử phạt đối với hành vi này được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Luật cư trú năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định về nghĩa vụ đăng ký tạm trú như sau:

     

    Ng­ười đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.

     

    Như vậy, trong thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm đến một nơi cư trú mới thì công dân có nghĩa vụ đăng ký tạm trú. Nếu sau khoảng thời gian này mới đăng ký tạm trú hoặc không đăng ký tạm trú sẽ bị xử phạt.

     

    Theo Điểm a - khoản 1 - Điều 8 - Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính khi không đăng ký tạm trú như sau:

     

    Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

    Như vậy, nếu sau thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm chuyển đến nơi cư trú mới mà không đăng ký tạm trú thì sẽ bị xử phạt.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 26 tháng 12 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Dương Văn Mạnh trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: việc di chuyển đàn gia súc đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện đang tham gia giao thông có vi phạm quy định pháp luật hay không? Mức xử phạt được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 10 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì  việc người điều khiển, dẫn dắt súc vật, điều khiển xe súc vật kéo vi phạm quy tắc giao thông đường bộ sẽ bị xử phạt như sau:

     

    - Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không nhường đường theo quy định, không báo hiệu bằng tay khi chuyển hướng;

     

    + Không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường;

     

    + Không đủ dụng cụ đựng chất thải của súc vật hoặc không dọn sạch chất thải của súc vật thải ra đường, hè phố.

     

    - Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Điều khiển, dẫn dắt súc vật đi không đúng phần đường quy định, đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi vào phần đường của xe cơ giới;

     

    + Để súc vật đi trên đường bộ không bảo đảm an toàn cho người và phương tiện đang tham gia giao thông;

     

    + Đi đàn hàng ngang từ 02 (hai) xe trở lên;

     

    + Để súc vật kéo xe mà không có người điều khiển;

     

    + Điều khiển xe không có báo hiệu theo quy định.

     

    - Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

     

    + Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông;

     

    + Dắt súc vật chạy theo khi đang điều khiển hoặc ngồi trên phương tiện giao thông đường bộ;

     

    + Xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định.

     

    - Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển, dẫn dắt súc vật, điều khiển xe súc vật kéo đi vào đường cao tốc trái quy định.

     

    - Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, người thực hiện hành vi xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ phần hàng hóa vượt quá giới hạn hoặc phải xếp lại hàng hóa theo đúng quy định.

     

    Câu 2. Anh Trần Hoàng Việt trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: việc đăng ký kết hôn khi hai người có hộ khẩu thường trú tại hai tỉnh khác nhau được thực hiện tại cơ quan nào và cần thực hiện thủ tục gì?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ Khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014 thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn. Như vậy, pháp luật không quy định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn là nơi bên nam hay bên nữ cư trú, mà tùy thuộc vào lựa chọn của người đi đăng ký kết hôn. Anh chị có quyền lựa chọn Ủy ban nhân dân cấp xã nơi anh hay nơi chị cư trú để đăng ký kết hôn.

     

    Người đi đăng ký kết hôn phải có Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (kể cả trường hợp chưa đăng ký kết hôn lần nào).

     

    Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 18 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau:

     

    - Hai bên nam, nữ nộp những giấy tờ sau cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn:

     

    + Tờ khai đăng ký kết hôn (mẫu Tờ khai quy định tại Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp);

     

    + Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

     

    - Xuất trình hộ chiếu/chứng minh nhân dân/thẻ căn cước công dân của cả hai bên;

     

    - Xuất trình sổ hộ khẩu của một bên nam hoặc bên nữ có nơi thường trú tại địa phương tiến hành đăng ký kết hôn.

     

    Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ nêu trên, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

     

    Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.

     

    Câu 3. Bà Hứa Thị Sen trú tại xã Mai pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: bạo lực gia đình bao gồm những hành vi nào? mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bạo lực gia đình? 

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Khoản 2 Điều 1, Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 thì bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.

     

    Hành vi bạo lực gia đình được chia làm 4 nhóm: bạo lực tinh thần, bạo lực thể chất, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục, và cụ thể như sau:

     

    Nhóm 1, nhóm hành vi bạo lực về tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

     

    Nhóm 2, hành vi bạo lực về thể chất hay thể xác: bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng.

    Nhóm 3, nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.

     

    Nhóm 4, nhóm hành vi bạo lực về tình dục: gồm có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục.

     

    Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên cho thấy, hành vi của anh A là hành vi bạo lực gia đình.

     

    Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà người có hành vi bạo lực gia đình có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nếu hành vi bạo lực chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng và chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để xử lý hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và bị buộc xin lỗi công khai nếu người bị ảnh hưởng bởi hành vi bạo lực gia đình có yêu cầu ( theo Khoản 1 Điều 51 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình).

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 19 tháng 12 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Nông Văn Luân trú tại xã Bính Xá, huyện Đình Lập hỏi: pháp luật quy định như thế nào về mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản?

     Trả lời: 

     

    Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật Dân sự quy định mốc giới ngăn cách các bất động sản như sau:

     

      - Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

     

     - Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.

     

     - Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.

     

    - Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.

     

    Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

     

    Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

     

    Câu 2. Bà Bế Thị Viên trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: Nhà nước có chính sách hỗ trợ nào cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số không?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 24/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số thì đối tượng được thụ hưởng chính sách là: phụ nữ là người dân tộc thiểu số hoặc phụ nữ là người Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn (trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) khi sinh con thuộc một trong các trường hợp sau đây:

     

              - Sinh một hoặc hai con;

     

              - Sinh con thứ ba, nếu cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

     

              - Sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên;

     

              - Đã có một con đẻ, nhưng sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên;

              - Sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi;

     

              - Sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận;

     

              - Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ);

     

              - Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai vợ chồng đã có con riêng (con đẻ); không áp dụng cho trường hợp hai vợ chồng đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống;

     

              - Phụ nữ thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số chưa kết hôn, cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

     

              Định mức hỗ trợ: Hai triệu đồng/người.

     

              Thời điểm hỗ trợ: Tính từ tháng đầu sau khi sinh con thuộc đối tượng được hỗ trợ.

     

              Phương thức hỗ trợ: Bằng tiền, cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng.

    Câu 3. Ông Bàn Văn Năm trú tại xã Xuân Mãn, huyện Lộc Bình hỏi: chế độ, chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số quy định như sau:

     

    1. Cung cấp thông tin

     

    a) Người có uy tín được cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cư trú định kỳ hoặc đột xuất phổ biến, cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách, pháp luật mới của Đảng, Nhà nước; tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương;

     

    b) Người có uy tín được cấp (không thu tiền, Báo Dân tộc và Phát triển, báo tỉnh nơi người có uy tín cư trú;

     

    c) Người có uy tín được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức hoặc tham quan học tập kinh nghiệm về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh do địa phương xác định.

     

    2. Hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần

     

    Người có uy tín được cấp ủy, chính quyền địa phương nơi cư trú:

     

    a) Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết của các dân tộc thiểu số; mức chi không quá 400.000 đồng/người/năm;

     

    b) Thăm hỏi, hỗ trợ vật chất khi người có uy tín ốm đau; mức chi không quá 400.000 đồng/người/năm;

     

    c) Hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn, bố, mẹ, vợ, chồng, con chết do hậu quả thiên tai được cấp ủy, chính quyền các cấp đến thăm hỏi, động viên, hỗ trợ vật chất. Mức chi không quá 2.000.000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan Trung ương; không quá 1.000.0000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan cấp tỉnh; không quá 500.000 đồng/gia đình/năm đối với cơ quan cấp huyện;

     

    d) Người có uy tín tham gia đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội tại địa phương mà bị thương hoặc hy sinh, được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định công nhận là thương binh hoặc liệt sỹ và được hưởng các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật hiện hành.

     

    3. Chế độ khen thưởng

     

    Người có uy tín có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh, trật tự được xét khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các quy định hiện hành về thi đua, khen thưởng.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 12 tháng 12 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hoàng Văn Phúc trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: Các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hiện nay, trong quá trình sử dụng đất người sử dụng có hành vi vi phạm pháp luật đất đai như: sử dụng đất không đúng mục đích, khai thác sử dụng chưa hợp lý. Nhằm phòng chống và khắc phục vấn đề này thì căn cứ Điều 64 – Luật đất đai 2013 đưa ra những trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị thu hồi, đảm bảo nguồn đất được sử dụng hiệu quả:

     

    - Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

     

    -Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

     

    -Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

    - Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

     

    -Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

     

    -Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

     

    -Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

     

    -Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

     

    -Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

     

    Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Trọng Thắng trú tại phường Đông Kinh, thành phố Lạng Sơn hỏi: cảnh sát giao thông được dừng xe người đi đường trong những trường hợp nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 14, Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung, hình thức tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông thì cảnh sát giao thông chỉ được dừng phương tiện trong 5 trường hợp sau:

     

    - Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;

     

    - Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên;

     

    - Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên;

     

    - Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;

     

    - Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông.

     

    Ngoài ra, theo Điều 10 Thông tư 45/2012/TT-BCA quy định về biển hiệu và Giấy chứng nhận Cảnh sát tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ thì cảnh sát phải, mang theo giấy chứng nhận và xuất trình khi có yêu cầu, phải đeo biển hiệu (thẻ xanh).

     

    Nếu dừng xe để kiểm tra hành chính nhất thiết phải có chuyên đề, hoặc mệnh lệnh, kế hoạch do trưởng Công an cấp huyện trở lên ký. Nếu xử lý lỗi vi phạm luật giao thông, cảnh sát giao thông phải chứng minh được lỗi vi phạm bằng hình ảnh.

     

    Có 2 phương thức xử phạt vi phạm hành chính là xử phạt tại chỗ hoặc lập biên bản chờ quyết định xử phạt của cấp có thẩm quyền.

     

    Việc xử phạt tại chỗ được áp dụng cho các lỗi có mức phạt dưới 250.000 đồng. Cảnh sát giao thông sẽ lập quyết định xử phạt hành chính theo mẫu. Trong các trường hợp khác, cảnh sát giao thông sẽ lập biên bản và bạn sẽ chờ quyết định phạt gửi về nhà trong 7 ngày và bạn phải nộp phạt tại Kho bạc Nhà nước.

     

    Câu 3. Ông Lành Văn Chung trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa trong sản xuất, kinh doanh hóa chất được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hóa chất, quy định yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa trong sản xuất, kinh doanh hóa chất như sau:

     

        1. Nhà xưởng phải đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, phù hợp với tính chất, quy mô và công nghệ sản xuất, lưu trữ hóa chất;

     

       2. Nhà xưởng, kho chứa phải có lối, cửa thoát hiểm. Lối thoát hiểm phải được chỉ dẫn rõ ràng bằng bảng hiệu, đèn báo và được thiết kế thuận lợi cho việc thoát hiểm, cứu hộ, cứu nạn trong trường hợp khẩn cấp;

     

       3. Hệ thống thông gió của nhà xưởng, kho chứa phải đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về hệ thống thông gió;

     

       4. Hệ thống chiếu sáng đảm bảo theo quy định để đáp ứng yêu cầu sản xuất, lưu trữ hóa chất. Thiết bị điện trong nhà xưởng, kho chứa có hóa chất dễ cháy, nổ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ;

     

       5. Sàn nhà xưởng, kho chứa hóa chất phải chịu được hóa chất, tải trọng, không gây trơn trượt, có rãnh thu gom và thoát nước tốt.

     

       6. Nhà xưởng, kho chứa hóa chất phải có bảng nội quy về an toàn hóa chất, có biển báo nguy hiểm phù hợp với mức độ nguy hiểm của hóa chất, treo ở nơi dễ thấy. Các biển báo thể hiện các đặc tính nguy hiểm của hóa chất phải có các thông tin: Mã nhận dạng hóa chất; hình đồ cảnh báo, từ cảnh báo, cảnh báo nguy cơ. Trường hợp hóa chất có nhiều đặc tính nguy hiểm khác nhau thì hình đồ cảnh báo phải thể hiện đầy đủ các đặc tính nguy hiểm đó. Tại khu vực sản xuất có hóa chất nguy hiểm phải có bảng hướng dẫn cụ thể về quy trình thao tác an toàn ở vị trí dễ đọc, dễ thấy;

     

       7. Nhà xưởng, kho chứa phải có hệ thống thu lôi chống sét hoặc nằm trong khu vực được chống sét an toàn và được định kỳ kiểm tra theo các quy định hiện hành;

     

       8. Đối với bồn chứa ngoài trời phải xây đê bao hoặc các biện pháp kỹ thuật khác để đảm bảo hóa chất không thoát ra môi trường khi xảy ra sự cố hóa chất và có biện pháp phòng chống cháy nổ, chống sét;

     

       9. Nhà xưởng, kho chứa phải đáp ứng đủ các điều kiện về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, an toàn và vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật có liên quan.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 05 tháng 12 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Trương Minh Lộc trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi:  Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 9, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

     

    1. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

     

    a) Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;

     

    b) Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

     

    c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

     

    d) Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

     

    đ) Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

     

    e) Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

     

    g) Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;

     

    h) Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

     

    i) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

     

    k) Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

     

    2. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các nghĩa vụ sau đây:

     

    a) Chấp hành quyết định, yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam;

     

    b) Chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, quy định của Luật thi hành tạm giữ tạm giam và pháp luật có liên quan.

     

    Câu 2. Ông Nguyễn Hoàng Trung trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các hành vi nào vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh rượu Điều kiện bán buôn rượu và điều kiện để bán lẻ rượu?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 7 Nghị định Số: 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu quy định các hành vi vi phạm quy định về kinh doanh rượu như sau:

     

    1. Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép theo quy định tại Nghị định về kinh doanh rượu.

     

    2. Sử dụng cồn thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn, cồn công nghiệp hoặc nguyên liệu bị cấm khác để sản xuất, pha chế rượu,

     

    3. Cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh rượu.

     

    4. Trưng bày, mua, bán, lưu thông, tiêu thụ các loại rượu không có tem, nhãn đúng quy định của pháp luật, rượu không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn thực phẩm, rượu không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

     

    5. Bán rượu cho người dưới 18 tuổi, bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet, bán rượu bằng máy bán hàng tự động.

     

    6. Quảng cáo, khuyến mại rượu trái quy định của pháp luật.

     

    * Điều kiện để bán buôn rượu được quy định như sau:

     

    1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của phập luật.

     

    2. Có quyền sử dụng hợp pháp kho hàng hoặc hệ thống kho hàng với tổng diện tích sàn sử dụng từ 50 m2 trở lên.

     

    3. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

     

    4. Có hệ thống bán buôn rượu trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi thương nhân đặt trụ sở chính với ít nhất 03 thương nhân bán lẻ rượu.

     

    5. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu khác,

     

    6. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

     

    * Điều kiện bán lẻ rượu được quy định như sau:

     

    1. Là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật.

     

    2. Có quyền sử dụng hợp pháp địa điểm kinh doanh cố định, địa chỉ rõ ràng.

     

    3. Có văn bản giới thiệu hoặc hợp đồng nguyên tắc của thương nhân sản xuất rượu, thương nhân phân phối rượu hoặc thương nhân bán buôn rượu.

     

    4. Rượu dự kiến kinh doanh phải bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định.

     

    5. Bảo đảm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu điều kiện về phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường theo quy định.

     

    Câu 3. Ông Vương Văn Tân trú tại Xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi:Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về vệ sinh thú y đối với giết mổ động vật nhỏ lẻ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định Số: 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y

    Quy định xử phạt hành vi vi phạm về vệ sinh thú y đối với giết mổ động vật nhỏ lẻ; sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật nhỏ lẻ như sau:

     

    1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi người trực tiếp tham gia giết mổ động vật, sơ chế, chế biến sản phẩm động vật không bảo đảm tiêu chuẩn về sức khỏe và vệ sinh thú y trong quá trình thực hiện.

     

    2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi trang thiết bị, dụng cụ, nước sử dụng không bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y trong quá trình giết mổ, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật.

     

    Nhắn tin: Trong tuần vừa qua chúng tôi cũng đã nhận được cuộc gọi từ thính giả Vy Văn Đèn, số điện thoại…….. trú tại thôn Bản Lam, xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng hỏi: Gia đình ông thuộc diện hộ nghèo nhưng không được hỗ trợ tiền điện thắp sáng, như vậy có đúng không? và những đối tượng nào được hưởng chính sách này?

     

    Thưa ông theo Điểm a, Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 190/2014/TT-BTC ngày 11/12/2014 của Bộ Tài chính quy định thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội. Theo đó, đối tượng được hỗ trợ tiền điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt là một trong những hộ gia đình sau:

     

    Phải là hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo tiêu chí quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nếu có (Văn bản hiện hành áp dụng là theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020); Trường hợp địa phương có hộ nghèo theo chuẩn quy định của địa phương cao hơn chuẩn hộ nghèo quốc gia thì thực hiện theo chuẩn hộ nghèo thực tế tại từng địa phương, kinh phí hỗ trợ tiền điện cho số hộ nghèo có chuẩn nghèo cao hơn chuẩn quốc gia do ngân sách địa phương đảm bảo theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

     

    Qua điện thoại, ông chỉ nói gia đình ông là hộ nghèo nhưng không được hỗ trợ chính sách tiền điện thắp sáng, nên chúng tôi không có căn cứ rõ ràng để xác định gia đình ông có phù hợp với tiêu chí quy định là hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt hay không. Vì vậy đề nghị ông liên hệ trực tiếp với UBND xã Liên Sơn, huyện Chi Lăng để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 28 tháng 11 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lý Văn Ba trú tại xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc hỏi: Nơi tiếp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Thông tư số: 67/2013/TT-BCA ngày 11/12/2013 của Bộ Công an về việc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh vùng biên giới cho công dân Việt Nam qua lại biên giới Việt Nam - Trung Quốc thì nơi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh sang Trung Quốc được quy định như sau:

     

    - Công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc có nhu cầu cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh nộp hồ sơ tại Công an cấp xã nơi có hộ khẩu thường trú, khi nộp hồ sơ phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân; người dưới 14 tuổi phải xuất trình giấy khai sinh hoặc sổ hộ khẩu để kiểm tra, đối chiếu;

     

    - Cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước có trụ sở đóng tại vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ thì nộp hồ sơ tại Công an cấp huyện nơi cơ quan đóng trụ sở;

     

    - Người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.

     

     Thời hạn giải quyết thủ tục cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh là 01 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp hồ sơ của người đề nghị cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh chưa đầy đủ thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy thông hành thông báo cho người đề nghị biết và thời hạn được tính lại kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không giải quyết phải trả lời và nêu rõ lý do cho người đề nghị biết.

     

    Thẩm quyền cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh

     

    - Trưởng Công an cấp huyện tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan có trụ sở đóng tạihuyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đó được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ. Trường hợp Trưởng Công an cấp huyện vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp huyện được Trưởng Công an cấp huyện ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp huyện chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp huyện và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    - Trưởng công an cấp xã tiếp giáp đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cấp giấy thông hành xuất, nhập cảnh cho công dân Việt Nam thường trú tại xã, phường, thị trấn đó. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã vắng mặt thì một Phó trưởng Công an cấp xã được Trưởng Công an cấp xã ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Phó trưởng Công an cấp xã chịu trách nhiệm trước Trưởng Công an cấp xã và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.

     

    Câu 2. Ông Trần Hoàng Giang trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Hành vi vượt biên sang nước khác để lao động bị xử lý như thế nào? Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ tại Khoản 3 Điều 17 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

     

     Về Vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại sẽ bị xử phạt như sau:

     

    "3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    a) Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định;

     

    b) Trốn hoặc tổ chức, giúp đỡ người khác trốn vào các phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài;

     

    c) Cho người khác sử dụng hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

     

    d) Sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh;

     

    đ) Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định hoặc sử dụng chứng nhận tạm trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú ở Việt Nam quá thời hạn từ 16 ngày trở lên mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

     

    e) Người nước ngoài đã được cấp thẻ thường trú mà thay đổi địa chỉ nhưng không khai báo để thực hiện việc cấp đổi lại."

     

    Theo Điểm b Khoản 1 Điều 67 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã. 

     

    Như vậy, hành vi vượt biên trái phép trước tiên sẽ bi xử lý hành chính với mức phạt: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi: qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định.

     

    Theo điều 274 Bộ luật Hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009 về tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại nước ngoài hoặc ở lại việt Nam trái phép.

     

    "Người nào xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở  lại nước ngoài, ở  lại Việt Nam trái phép, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Thành trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật các hành vi nào bị nghiêm cấm trong an toàn vệ sinh lao động?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động quy định về các hành vi bị cấm như sau:

     

    1. Che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không thực hiện các yêu cầu, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến người, tài sản, môi trường; buộc người lao động phải làm việc hoặc không được rời khỏi nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, tính mạng của họ hoặc buộc người lao động tiếp tục làm việc khi các nguy cơ đó chưa được khắc phục.

     

    2. Trốn đóng, chậm đóng tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không chi trả chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không đúng quy định của pháp luật; truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

     

    3. Sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không được kiểm định hoặc kết quả kiểm định không đạt yêu cầu hoặc không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường.

     

    4. Gian lận trong các hoạt động kiểm định, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, quan trắc môi trường lao động, giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động, người sử dụng lao động.

     

    5. Phân biệt đối xử về giới trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân biệt đối xử vì lý do người lao động từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình; phân biệt đối xử vì lý do đã thực hiện công việc, nhiệm vụ bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, an toàn, vệ sinh viên, người làm công tác y tế.

     

    6. Sử dụng lao động hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động.

     

    7. Trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 14 tháng 11 năm 2017

    Câu 1. Ông Lương Minh Thao trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Số định danh cá nhân là gì? trình tự thủ tục cấp số định danh cá nhân được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Ngày 20/11/2014, Quốc hội thông qua Luật Căn cước công dân. Theo đó, từ ngày 1/1/2016 chứng minh thư nhân dân sẽ được thay thế bằng thẻ Căn cước công dân.

    Đối với chứng minh thư nhân dân được cấp trước ngày Luật Căn cước công dân có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định. Khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ căn cước công dân.

    - Số định danh cá nhân là dãy số của thẻ căn cước công dân khi trẻ em đủ 14 tuổi. 

    - Thẻ căn cước công dân là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bao gồm 12 nội dung sau: Số định danh cá nhân, ảnh, họ và tên, tên thường gọi, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh, quê quán, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, số chứng minh nhân dân, nơi thường trú, nơi ở hiện tại, nhóm máu, số hộ chiếu, họ tên cha, họ tên mẹ (số định danh cá nhân đối với người Việt Nam và quốc tịch đối với người nước ngoài, không quốc tịch), tình trạng hôn nhân, họ tên vợ hoặc chồng, họ tên con, ngày tháng năm mất.

    - Về thẩm quyền cấp mã số cá nhân, công an cấp huyện, cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền cấp cho công dân đối với người đã đăng ký khai sinh trước ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực.

    - Sau khi Luật Hộ tịch có hiệu lực, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường cấp số định danh cá nhân cho công dân mới sinh khi công dân đăng ký khai sinh.

    Trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đăng ký khai sinh:

    Trường hợp Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đã được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì khi nhận đủ giấy tờ để đăng ký khai sinh, cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch, quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử có trách nhiệm chuyển ngay các thông tin của người được đăng ký khai sinh cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; trong đó phải thu thập các thông tin sau đây để cấp số định danh cá nhân:

    - Họ, chữ đệm và tên khai sinh;

    - Ngày, tháng, năm sinh;

    - Giới tính;

    - Nơi đăng ký khai sinh;

    - Quê quán;

    - Dân tộc;

    - Quốc tịch;

    - Họ, chữ đệm và tên, quốc tịch của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp; trừ trường hợp chưa xác định được cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp.

    Trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú:

    Công dân đã đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân theo quy định thì khi làm thủ tục cấp thẻ Căn cước công dân, cơ quan quản lý căn cước công dân có trách nhiệm thu thập, chuyển các thông tin về công dân theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Căn cước công dân cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an; trong đó ít nhất phải có các thông tin quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này và các thông tin dưới đây để cấp số định danh cá nhân:

    - Nơi thường trú;

    - Họ, chữ đệm và tên, số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân của chủ hộ, quan hệ với chủ hộ.

    Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Bộ Công an kiểm tra thông tin của công dân, cấp và chuyển ngay số định danh cá nhân cho cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân.

    Câu 2. Ông Hoàng Ngọc Tú trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Điều kiện để trở thành người giám hộ là gì? thủ tục hồ sơ đăng ký làm người giám hộ được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 49, Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015 thì cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:

    Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ; Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

    Về Thủ tục, hồ sơ đăng ký làm người giám hộ:

    Người có yêu cầu đăng ký giám hộ nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp phường, xã có thẩm quyền.

    Hồ sơ đăng ký giám hộ được lập thành 01 bộ hồ sơ, gồm các giấy tờ sau:

    Giấy tờ phải nộp: Người được cử làm giám hộ phải nộp Giấy cử giám hộ. Giấy cử giám hộ do người cử giám hộ lập, nếu có nhiều người cùng cử một người làm giám hộ, thì tất cả phải cùng ký vào Giấy cử giám hộ.

    Trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, thì người cử giám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản đó, có chữ ký của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ.

    Danh mục tài sản được lập thành 3 bản, một bản lưu tại Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi đăng ký việc giám hộ, một bản giao cho người giám hộ, một bản giao cho người cử giám hộ.

    Giấy tờ phải xuất trình:

    Bản chính Giấy CMND, hộ khẩu của người giám hộ, người cử giám hộ và người được giám hộ; Bản chính giấy tờ chứng minh điều kiện của người giám hộ (chỗ ở, thu nhập…); Bản chính giấy tờ chứng minh mối quan hệ giữa người giám hộ với người được giám hộ và người cử giám hộ.

    Câu 3. Bà Nông Thị Mai trú tại thị trấn Lộc Bình huyện Lộc Bình hỏi: mức phí đóng bảo hiểm ý tế tự nguyện cho hộ gia đình hiện nay là bao nhiêu theo quy định của pháp luật?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế thì: “Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất".

    Như vậy, với việc tăng mức lương cơ bản từ 1/7/2017 lên 1,3 triệu đồng/tháng. Do đó, giá mua bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2017 cho hộ gia đình đối với các thành viên cụ thể như sau:

    + Phí đóng BHYT

     tự nguyện người thứ nhất là 702.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ hai là 492.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ ba là 422.000 đồng/năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ tư là 351.000 đồng/ năm;

    + Phí mua BHYT tự nguyện người thứ năm trở lên 281.000 đồng/năm

    Tương tự với những thành viên tiếp theo của những gia đình có nhân khẩu nhiều người hơn.

     Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

    1. Bà Ma Thị Thiểm trú tại thôn Nà Mèo, xã Hòa Bình, huyện Bình Gia thắc mắc về việc UBND huyện Bình Gia thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà.

    Đề nghị bà khiếu nại đến UBND huyện Bình Gia theo quy định của Luật Khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

    2. 20 hộ dân trú tại thôn Nà Trang, khối 6, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn tố cáo về việc các doanh nghiệp trên địa bàn khu dân cư sinh sống gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến các hộ dân.

    Đơn của 20 hộ dân chúng tôi đã chuyển đến UBND thành phố Lạng Sơn để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.


    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

    Thứ ba, ngày 07 tháng 11 năm 2017

    Câu 1. Ông Vy Văn Báu trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là thương binh hạng 3/4, con tôi nhập học tại một trường cao đẳng nghề Lạng Sơn. Vậy tôi xin hỏi con tôi có được miễn giảm học phí không?

    Trả lời:

    Theo Khoản 2 Điều 62 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 quy định về Chính sách đối với người học như sau:

    “2. Người học được Nhà nước miễn học phí trong các trường hợp sau đây:

    a) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng là người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa;

    b) Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp;

    c) Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương quy định; người học các ngành, nghề chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.”

    Đồng thời, Điểm a, Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 09/2016 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021 cũng quy định như sau:

    “2. Đối tượng được miễn học phí:

    a) Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được hợp nhất tại văn bản số 01/VBHN-VPQH ngày 30 tháng 7 năm 2012 của Văn phòng Quốc hội. Cụ thể:

    – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Thương binh; Người hưởng chính sách như thương binh; Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến (nếu có);

    – Con của người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (nếu có); con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (nếu có); con của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; con của Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; con của liệt sỹ; con của thương binh; con của người hưởng chính sách như thương binh; con của bệnh binh; con của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học…”

    Như vậy, theo quy định trên, con ông thuộc diện được miễn giảm học phí.

    Hồ sơ miễn giảm học phí bao gồm các giấy tờ sau:

    – Đơn xin miễn, giảm học phí (theo mẫu);

    – Giấy khai sinh (công chứng hoặc bản sao có dấu đỏ);

    – Giấy xác nhận đối tượng do cơ quan quản lý đối tượng người có công hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường xác nhận;

    – Giấy chứng nhận (hoặc quyết định) người có công với cách mạng…

    Câu 2. Ông Đinh Khắc Tùng trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chấp hành viên không được làm những việc gì theo quy định của Luật thi hành án dân sự?

    Trả lời:

    Những việc Chấp hành viên không được làm quy định tại Điều 21 Luật Thi hành án dân sự 2014 như sau:

    Những việc Chấp hành viên không được làm bao gồm:

    - Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm.

    - Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.

    - Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án.

    - Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án.

    - Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:

    a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;

    b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;

    c) Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

    - Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

    - Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.

    - Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.

    Câu 3. Bà Lành Thị Sao trú tại Phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Chế độ học tập, sinh hoạt của học sinh tại trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 18, Nghị định số 02/2014/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.

    1. Chế độ học tập

    a) Học sinh được học văn hóa theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc học văn hóa đối với học sinh chưa phổ cập giáo dục là bắt buộc. Đối với những học sinh khác thì tùy theo khả năng và điều kiện thực tế của trường mà tổ chức học tập. Đối với học sinh đã bỏ học trước khi vào trường giáo dưỡng mà không có hồ sơ, học bạ thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện nơi trường giáo dưỡng đóng trụ sở tổ chức kiểm tra kiến thức hai môn văn và toán bằng hình thức kiểm tra viết. Căn cứ vào kết quả kiểm tra, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định xếp lớp học văn hóa cho phù hợp. Quyết định này thay cho học bạ những năm trước đã mất để xét tốt nghiệp cho học sinh.

    Ngoài việc học văn hóa, học sinh phải được học tập chương trình giáo dục công dân, giáo dục hướng nghiệp, học nghề và chương trình giáo dục khác do Bộ Công an quy định. Kinh phí chi cho việc dạy và học nghề theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

    b) Kinh phí mua sách, vở, đồ dùng học tập cho mỗi học sinh hàng tháng tương đương với 07 kg gạo tẻ loại thường tính theo giá thị trường của từng địa phương;

    c) Trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức cho học sinh thi học kỳ, thi kết thúc năm học, thi chuyển cấp, thi tuyển chọn học sinh giỏi, thi vào lớp chuyên và cấp chứng chỉ hoặc bằng tốt nghiệp tương ứng với chương trình học cho học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    d) Sổ điểm, học bạ, hồ sơ và các biểu mẫu liên quan đến việc giảng dạy và học tập ở trường giáo dưỡng phải theo mẫu chung thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an;

    đ) Văn bằng, chứng chỉ học văn hóa, học nghề trong trường giáo dưỡng có giá trị như văn bằng, chứng chỉ của các trường phổ thông.

    2. Chế độ sinh hoạt

    a) Ngoài giờ học văn hóa, học nghề, lao động theo quy định của pháp luật, trường giáo dưỡng phải tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách, báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác cho học sinh;

    b) Mỗi trường giáo dưỡng được thành lập một thư viện; mỗi phân hiệu của trường được thành lập một phòng đọc sách, báo, khu vui chơi, nhà luyện tập thể dục, thể thao, sân thể thao để học sinh rèn luyện thể lực; được trang bị hệ thống truyền thanh, truyền hình. Mỗi phòng ở tập thể được trang bị một vô tuyến truyền hình màu, được phát một tờ báo Thanh niên và một tờ báo phù hợp với từng lứa tuổi.

    3. Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình học tập và đào tạo, cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp, bố trí giáo viên dạy văn hóa, dạy nghề cho các trường giáo dưỡng.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 31 tháng 10 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Hứa Viết Tưởng trú tại thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia hỏi: những khoản phụ cấp, trợ cấp nào không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân?

     

    Trả lời: Các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, gồm:

     

    - Trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng và trợ cấp một lần theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công;

     

    - Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần đối với các đối tượng tham gia kháng chiến, bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ;

     

    - Phụ cấp quốc phòng, an ninh; các khoản trợ cấp đối với lực lượng vũ trang;

     

    - Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm;

     

    - Phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực;

     

    - Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội;

     

    - Trợ cấp đối với các đối tượng được bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật;

    - Phụ cấp phục vụ đối với lãnh đạo cấp cao;

     

    - Trợ cấp một lần đối với cá nhân khi chuyển công tác đến vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ một lần đối với cán bộ, công chức làm công tác về chủ quyền biển đảo theo quy định của pháp luật. Trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

     

    - Phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản;

     

    -         Phụ cấp đặc thù ngành nghề.

    -          

    Câu 2.  Ông Liễu Văn Tam trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Thông tư số 30/2012/TT-BYT ngày 05 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố như sau:

     

        Về điều kiện về địa điểm, trang thiết bị, dụng cụ :

     

        - Bố trí kinh doanh ở khu vực công cộng (bến xe, bến tầu, nhà ga, khu du lịch, khu lễ hội, khu triển lãm), hè đường phố; nơi bày bán thực phẩm cách biệt các nguồn ô nhiễm; bảo đảm sạch sẽ, không làm ô nhiễm môi trường xung quanh.

     

        - Trường hợp kinh doanh trên các phương tiện để bán rong phải thiết kế khoang chứa đựng, bảo quản thức ăn ngay, đồ uống bảo đảm vệ sinh, phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng gây hại.

     

       - Nư­ớc để chế biến đơn giản đối với thức ăn ngay, pha chế đồ uống phải đủ số lượng và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT; nước để sơ chế nguyên liệu, vệ sinh dụng cụ, rửa tay phải đủ và phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 02:2009/BYT; có đủ nước đá để pha chế đồ uống được sản xuất từ nguồn nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) số 01:2009/BYT.

     

        - Có đủ trang thiết bị, dụng cụ để chế biến, bảo quản, bày bán riêng biệt thực phẩm sống và thức ăn ngay; có đủ dụng cụ ăn uống, bao gói chứa đựng thức ăn bảo đảm vệ sinh; có đủ trang bị che đậy, bảo quản thức ăn trong quá trình vận chuyển, kinh doanh và bảo đảm luôn sạch sẽ; bàn ghế, giá tủ để bày bán thức ăn, đồ uống phải cách mặt đất ít nhất 60 cm.

     

       - Thức ăn ngay, đồ uống phải để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp vệ sinh và phải chống được bụi bẩn, mưa, nắng, ruồi nhặng và côn trùng xâm nhập.

       - Người bán hàng phải mang trang phục sạch sẽ và gọn gàng; khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn, đồ uống ăn ngay phải dùng găng tay sử dụng 1 lần.

     

       - Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bao gói, chế biến sẵn bảo đảm có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định.

     

       - Trang bị đầy đủ, sử dụng thường xuyên thùng rác có nắp, túi đựng để thu gom, chứa đựng rác thải và phải chuyển đến địa điểm thu gom rác thải công cộng trong ngày; nước thải phải được thu gom và bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường nơi kinh doanh.

     

        Đối với người kinh doanh thức ăn đường phố: Ng­ười kinh doanh thức ăn đường phố phải tập huấn và được cấp Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm theo quy định. Người kinh doanh thức ăn đường phố phải được khám sức khoẻ và cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ theo quy định.

     

    Câu 3. Ông Nguyễn Trung Đức trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chế độ ăn, mặc và sinh hoạt của học viên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 111 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, quy định đối tượng được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

     

    1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện;

     

    b) Gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

     

    2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

     

    a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện;

     

    b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy;

     

    c) Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.

     

     3. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc người đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị có ý kiến trước khi quyết định.

     

    Quyết định miễn hoặc hoãn chấp hành phải được gửi cho cơ quan thi hành quyết định, người phải chấp hành quyết định; trường hợp người chưa thành niên được hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thì quyết định được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

     

    Nhắn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thắc mắc của thính giả Chu Văn Pho trú tại xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng về việc gia đình ông có 6 người, trong đó có 2 người dưới 15 tuổi, 4 người trong độ tuổi lao động thì có được xác định là hộ nghèo không và tiêu chí để xác định hộ nghèo như thế nào?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 thì chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 đối với khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;


    – Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.( Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin).

     

    Như vậy, để xác định một hộ gia đình là nghèo hay cận nghèo thì phải căn cứ vào các tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Do ông cung cấp không đầy đủ thông tin nên chúng tôi không thể xác định được hộ gia đình nhà ông có đủ điều kiện xét hộ nghèo không.

     

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 24 tháng 10 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Nguyễn Ngọc Châu trú tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn hỏi: Theo quy định của pháp luật người lao động phải bồi thường thiệt hại trong những trường hợp nào?

     

    Trả lời:

     

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động được quy định tại Điều 130 Bộ luật lao động 2012 và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 32 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động, theo đó:

     

    -  Người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề trước khi gây thiệt hại bằng hình thức khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố.

     

    -  Người lao động phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường khi thuộc một trong các trường hợp sau:

     

    + Do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố;

     

    + Làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao;

     

    + Tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của người sử dụng lao động.

     

    -  Trường hợp người lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều này mà có hợp đồng trách nhiệm với người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.

     

    -  Trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa hoặc do sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người sử dụng lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì người lao động không phải bồi thường.

     

    - Trình tự, thủ tục và thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại được áp dụng theo trình tự, thủ tục và thời hiệu xử lý kỷ luật lao động.

     

    Câu 2. Ông Vũ Văn Giang trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: Người có hành vi gây tiếng ốn tại khu dân cư như mở nhạc to vào đêm khuya, gây tiếng ồn lớn, làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung thì sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Hành vi gây tiếng động lớn, làm ồn ào tại khu dân cư được quy định tại Điều 6 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó:

     

    - Thứ nhất, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    + Gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo tại khu dân cư, nơi công cộng trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau;

     

    + Không thực hiện các quy định về giữ yên tĩnh của bệnh viện, nhà điều dưỡng, trường học hoặc ở những nơi khác có quy định phải giữ yên tĩnh chung;

     

    + Bán hàng ăn, uống, hàng giải khát quá giờ quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

     

    - Thứ hai, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi: Dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.

     

    Như vậy, người có hành vi mở nhạc to vào ban đêm, gây mất trật tự tại khu dân cư. Theo đó, hành vi này sẽ bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

     

    Câu 3. Ông Hứa Mạnh Tú trú tại thị trấn Na Sầm, huyện Văn Lãng hỏi: những đối tượng nào được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật?

     

    Trả lời:

     

    Căn cứ theo Điều 22 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung năm 2014 có quy định: 

    Mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh được áp dụng cho các đối tượng sau:

     

    1. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;

     

    2. Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;

     

    3. Trẻ em dưới 6 tuổi;

     

    4. Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;

     

    5. Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;

     

    6. Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

     

    7. Trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;

     

    8. Người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

     

    Như vậy, người tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì sẽ được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh kể từ lần khám chữa bệnh tiếp theo.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 17 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Hoàng Minh Trường trú tại xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn hỏi: Các mức xử phạt khi người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có nồng độ cồn trong người?

     

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP, các mức phạt liên quan đến hành vi lái xe khi đã uống rượu, bia như sau:

     

    Với người điều khiển ôtô và các loại xe tương tự 

     

    - Phạt tiền 2.000.000-3.000.000 đồng với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người vi phạm bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

     

    - Phạt tiền 7.000.000-8.000.000 đồng với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

     

    - Phạt tiền 16.000.000-18.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở; hoặc không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 4-6 tháng.

     

    Mức phạt vi phạm nồng độ cồn với người điều khiển xe máy

     

    - Phạt tiền 1.000.000-2.000.000 đồng với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1-3 tháng.

     

    - Phạt tiền 3.000.000-4.000.000 đồng với người điều khiển xe không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ; hoặc điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 3-5 tháng.

     

    Câu 2. Ông La Mạnh Hiếu trú tại thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng hỏi: pháp luật quy định khi xin cấp phép xây nhà cần phải có các loại giấy tờ nào?

    Trả lời:

     

    Theo Nghị định 53/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/6, cá nhân, tổ chức, hộ gia đình muốn xin cấp giấy phép xây dựng cần có một trong 12 loại giấy tờ sau:

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

     

    - Báo cáo rà soát, kê khai hiện trạng sử dụng đất.

     

    - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản chấp thuận về địa điểm xây dựng của UBND  cấp huyện đối với công trình xây dựng biển quảng cáo, trạm viễn thông, cột ăng ten tại khu vực không thuộc nhóm đất có mục đích sử dụng để xây dựng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

     

    - Giấy tờ về đất đai đối với trường hợp được nhà nước giao đất, cho thuê đất.

     

    - Giấy tờ về xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đối với trường hợp cấp phép xây dựng để thực hiện xây dựng mới, chửa chữa, cải tạo hoặc di dời các công trình lịch sử.

     

    - Hợp đồng thuê đất.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

     

    - Hợp đồng thuê đất được giao kết giữa chủ đầu tư xây dựng công trình và người quản lý, sử dụng công trình giao thông hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giao thông đối với công trình được phép xây dựng trong phạm vi đất đanh cho giao thông theo quy định pháp luật.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

     

    - Văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đề nghị của ơ quan cấp phép xây dựng.

    Câu 3. Ông Mã Văn Kha trú tại xã Quang Lang, huyện Chi Lăng hỏi: Quy định về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống và mức xử phạt đối với hành vi vi phạm?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định của pháp luật, các hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn, hôn nhân cận huyết là vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm để bảo vệ, xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể các hành vi trên như sau:

     

     1. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, cụ thể là nam chưa đủ 20 tuổi trở lên, nữ chưa đủ 18 tuổi trở lên; Tổ chức tảo hôn, là hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho những người mà mình biết rõ là chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định.

     

     - Chế tài xử lý

     

     Về hành chính: Nghị định 67/2015/NĐ-CP, ngày 14/8/2016 quy định:

     

     + Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

     

    + Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.

     

    Về hình sự: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi tảo hôn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ Hiếp dâm trẻ em”, nếu nạn nhân là người dưới 13 tuổi hoặc tội “ Giao cấu với trẻ em” nếu nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

     

     2. Hôn nhân cận huyết là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

     

    Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau. Những người có họ trong phạm vi ba đời, là những người cùng một gốc sinh ra, gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. (Bao gồm cả anh chị em trai, anh chị em gái).

     

    Kết hôn cận huyết làm suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật do kết hợp gen mang lại, gây suy thoái chất lượng giống nòi (như bệnh tan máu bẩm sinh có thể làm trẻ bị biến dạng xương mặt, bụng phình to, nguy cơ tử vong rất cao; sinh ra con dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá…) mở đầu cho cuộc sống tàn phế suốt đời.

     

    Ngoài ra, hôn nhân cận huyết còn ảnh hưởng không tốt đến văn hóa, đạo đức gia đình, phá vỡ và làm xói mòn giá trị truyền thống văn hóa gia đình tốt đẹp của dân tộc ta.

     

     - Chế tài xử lý:

     

     Về hành chính

     

     + Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

     

    + Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.

     

    Về hình sự: Tùy theo tính chất, mức độ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội loạn luân”.

     

    Nhăn tin: Trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được thư của ông Vũ Đức Minh trú tại thôn Lạng Giai A, xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng thắc mắc về việc giải quyết đơn xin ly hôn giữ ông và Bà Lương Thị Kiến.

     

    Thư của ông phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản cho ông trong thời hạn luật định.

     

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 10 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Mai Văn Cường trú tại phường Đông Kinh thành phố Lạng Sơn hỏi: Mức xử phạt đối với những trường hợp nuôi chó, mèo thả rông nơi công cộng?

    Trả lời:

     

    Theo Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn  xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định về mức xử phạt khi thả rông động vật nuôi như sau:

     

    "1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

     

    c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng"

    Bên cạnh đó, ngày 31 tháng 5 năm 2016, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BNPTNT quy định về phòng chống dịch bệnh động vật trên cạn. Theo Phụ lục số 15 kèm theo thông tư này, khi nuôi chó, mèo chủ vật nuôi cần thực hiện theo những quy định sau:

     

    - Đăng ký việc nuôi chó với Ủy ban nhân dân cấp xã tại các đô thị, nơi đông dân cư.

     

    - Đảm bảo các biện pháp an toàn khi nuôi. Cụ thể:

     

    + Xích, nhốt hoặc giữ chó trong khuôn viên gia đình;

     

    + Trong trường hợp đưa chó ra nơi công cộng cần phải bảo đảm an toàn cho người xung quanh bằng cách:

     

    Đeo rọ mõm cho chó hoặc xích giữ chó;

     

    Có người dắt;

     

    - Đảm bảo về vệ sinh môi trường, cảnh quan, không gây ồn ào....

     

    - Chấp hành quy định về tiêm vắc-xin phòng bệnh dại.

     

    - Chịu mọi chi phí trong trường hợp có chó thả rông bị bắt giữ, kể cả chi phí cho việc nuôi dưỡng và tiêu hủy chó. Trường hợp chó, mèo cắn, cào người thì chủ vật nuôi phải bồi thường vật chất cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

    Câu 2. Ông Ngô Văn An trú tại xã Kiên Mộc, huyện Đình Lập hỏi: nhà nước quy định như thế nào về tiêu chí để các hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện được?

     

    Trả lời:

     

    Ngày 30/10/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 60/2014/QĐ-TTg về việc quy định tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện. Theo đó, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện quy định tại Khoản 7 Điều 3 Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ cấu biểu giá bán lẻ tiền điện, là hộ có một trong những tiêu chí sau:

     

    1. Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng không thuộc diện hộ nghèo theo quy định của pháp luật và có lượng điện sử dụng cho mục đích sinh hoạt trong tháng không quá 50 kWh ở vùng có điện lưới;

     

    2. Hộ có thành viên đang hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật sống ở vùng chưa có điện lưới;

     

    3. Hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng chưa có điện lưới.

     

    Mức hỗ trợ tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành.

     

    Trường hợp hộ có nhiều thành viên hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc thuộc diện được hỗ trợ tiền điện theo các chính sách khác nhau thì chỉ được hưởng 01 mức hỗ trợ tiền điện cao nhất.

     

    Câu 3. Ông Vy Văn Soi trú tại xã Hoa Thám, huyện Bình Gia hỏi: các tiêu chí để xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2016-2020 được nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Điều 1 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều như sau:

     

    1. Các tiêu chí về thu nhập

     

    a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

     

    b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

     

    2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

     

    a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;

     

    b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

     

    Điều 2. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020

     

    1. Hộ nghèo

     

    a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

     

    - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

     

    2. Hộ cận nghèo

     

    a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

     

    b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

     

    3. Hộ có mức sống trung bình

     

    a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

     

    b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.

     

    Nhắn tin: trong Chuyên mục tuần này chúng tôi cũng đã nhận được đơn thư của những ông (bà) có tên sau:

     

    1. Bà Nguyễn Hồng Hạnh Giám đốc Công ty TNHH MTV Thương mại và dịch vụ xuất nhập khẩu Khánh Linh, địa chỉ: Số 100, đường Lê Lai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, thắc mắc về việc Đội quản lý thị trường số 10, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Lạng Sơn tạm giữ hàng hóa, ô tô trái pháp luật gây thiệt hại cho Công ty Khánh Linh.

     

    Đơn của bà phần nơi gửi đã gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản cho bà trong thời hạn luật định.

     

    2. Ông Hà Quang Pảu trú tại thôn Nà Ven, xã Hồng Phong, huyện Bình Gia hỏi về mức trợ cấp dành cho cán bộ xã nghỉ việc với chức danh, Chủ tịch, phó Chủ tịch, Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy.

     

    Trong thư của ông không nói rõ ông giữ chức vụ gì ở xã trước khi nghỉ việc. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xin gửi ông Thông tư số 04/2017/TT-BNV của Bộ Nội vụ về việc điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã nghỉ việc để ông nghiên cứu, tham khảo.

     

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 3 tháng 10 năm 2017

     

    Câu 1. Anh Hứa Văn Tuân trú tại xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về việc thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn?

     

    Trả lời:

     

    Theo Khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì mức cấp dưỡng được quy định như sau:

     

    "1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

     

    2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

     

    Theo Khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng (có thể hiểu chi phí này phải là những chi phí hợp lý). Khi quyết định mức tiền cấp dưỡng, tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường thấp hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng.

     

    Do vây, căn cứ theo Khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, anh có thể thỏa thuận lại với vợ cũ của anh về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu hai bên không thỏa thuận được thì anh có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

     

    Câu 2. Ông Trần Xuân Hạ trú tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình hỏi? Khi một người chết, việc đăng ký lại khai tử được thực hiện như thế nào, gồm những giấy tờ, thủ tục nào như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo Luật hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới có một số quy định mới về việc đăng ký lại việc khai tử như sau:

     

    Điều kiện đăng ký lại khai tử

     

    Theo quy định tại Điều 24 có quy định công dân dược yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Đăng ký lại khai tử khi có đủ các điều kiện sau:

     

    - Công dân đã được đăng ký khai tử tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất;

     

    - Người yêu cầu đăng ký lại khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật;

     

    - Chỉ thực hiện đăng ký lại khai tử cho người còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ;

     

    Về thẩm quyền đăng ký lại khai tử

     

    Căn cứ theo quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP  công dân có quyền lựa chọn: Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã cấp giấy tờ hộ tịch.

     

    Về hồ sơ giấy tờ cần chuẩn bị

     

    + Tờ khai theo mẫu có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký tử nhưng người đó làm mất giấy đăng ký khai tử;

     

    + Bản sao giấy khai tử (nếu có);

     

    + Các giấy tờ tài liệu cá nhân khác có liên quan đến nội dung người đó đã chết;

     

    Về trình tự, thủ tục

     

    - Công dân xuất trình tài liệu giấy tờ tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã cấp Đăng ký khai sinh; hoặc nơi đăng ký thường trú;

     

    - Sau khi tiếp nhận hồ sơ thì cán bộ tư pháp, hộ tịch xem xét hồ sơ nếu:

     

    1. Hồ sơ đầy đủ chính xác sẽ tiến hành đăng ký khai tử cho người có yêu cầu và ghi thông tin vào sổ hộ tịch;

     

    2. Hồ sơ chưa đầy đủ thì yêu cầu người có yêu cầu bổ sung thêm;

     

    3. Nếu không có căn cứ thì trả lời từ trối bằng văn bản

     

    - Trình Chủ tịch UBND cấp trích lục bản chính Khai tử;

     

    - Cho công dân ký xác nhận vào sổ hộ tich và trả kết quả cho người dân

     

    Về thời gian giải quyết

     

    Sau 5 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ cán bộ tư pháp hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai tử là đúng theo quy định thì thực hiện đăng ký lại khai tử như trình tự thủ tục trên. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 10 ngày.

     

    Câu 3. Bà Triệu Minh Phương trú tại Phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn hỏi: thẩm quyền xác nhận quan hệ cha, mẹ, con và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thẩm quyền giải quyết việc xác nhận quan hệ cha, mẹ, con như sau:

     

    "1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

               2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

     

    Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.”

     

    Như vậy, có hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc xác định quan hệ cha mẹ con, căn cứ vào tùy từng vụ việc thì việc giải quyết sẽ do cơ quan có thẩm quyền tương ứng giải quyết. Cụ thể:

     

    Đối với cơ quan đăng ký hộ tịch: Cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ có thẩm quyền xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp không có tranh chấp phát sinh khi một trong các bên muốn xác nhận quan hệ cha, mẹ, con.

     

    Đối với Tòa án: Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định quan hệ cha, mẹ, con rộng hơn cơ quan đăng ký hộ tịch bao gồm:

     

    Một là, việc xác nhận quan hệ cha, mẹ, con có tranh chấp.

     

    Hai là, việc xác nhận quan hệ cha, mẹ, con mà người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết.

     

    Ba là, việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

     

    Căn cứ theo quy định tại Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các chủ thể có thẩm quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con bao gồm:

     

    Một là, cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp việc yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con không có tranh chấp.

     

    Hai là, cha, mẹ, con là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015: “Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.” Theo đó, người có quyền yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha, mẹ, con cho mình trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết.

     

    Ba là, nhằm đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì các nhà làm luật đã dự liệu được điều này, do đó, ngoài những chủ thể trong hai trường hợp trên, một số cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định cũng sẽ có quyền yêu cầu Tòa án xác nhận quan hệ cha, mẹ, con gồm: Cha, mẹ, con, người giám hộ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.

     

    Tại Thông tư 15/2015/TT – BTP chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định Luật hộ tịch 2014 gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

     

    - Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

     

    - Trường hợp không có văn bản trên thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

     

    Tất cả những giấy tờ, căn cứ nêu trên cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật cho các bên khi thực hiện thủ tục này.

     

    Nếu trong quá trình giải quyết cơ quan đăng ký hộ tịch nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật có thể từ chối giải quyết hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch.

     

     TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI

     

    Thứ ba, ngày 26 tháng 9 năm 2017

     

    Câu 1. Ông Hứa Văn Mạnh trú tại thị trấn Văn Quan, huyện Văn Quan hỏi: Thủ tục đăng ký sang tên xe mô tô, ô tô đối với trường hợp xe đã chuyển quyền sở hữu qua nhiều chủ được pháp luật quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 24, Thông tư số 15/2014/TT-BCA của Bộ Công an về giải quyết đăng ký sang tên xe đối với trường hợp xe đã chuyển quyền sở hữu qua nhiều người như sau:

     

    1. Trường hợp đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh, thành phố

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng, hồ sơ gồm:

     

    - Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

     

    - Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, hồ sơ gồm:

     

    - Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    2. Trường hợp đăng ký sang tên, di chuyển xe đi tỉnh, thành phố khác

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng, hồ sơ gồm:

     

    - Hai giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu của người bán cuối cùng.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, hồ sơ gồm:

     

    - Hai giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

     

    - Giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu).

     

    3. Trường hợp đăng ký sang tên xe tỉnh, thành phố khác chuyển đến

     

    - Giấy khai đăng ký xe (theo mẫu).

     

    - Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (theo mẫu) và Phiếu sang tên di chuyển, kèm theo hồ sơ gốc của xe.

     

    - Chứng từ nộp lệ phí trước bạ theo quy định.

     

    Câu 2. Bà Hoàng Thị Bền trú tại xã Mông Ân, huyện Bình Gia hỏi: người nghèo tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi được vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế - xã hội tối đa bao nhiêu, lãi suất và thời hạn vay được tính như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) vừa ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cho vay phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020.

     

    Theo đó, khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số  nghèo ở các thôn, bản, buôn…, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số  và miền núi; hộ nghèo ở xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn được vay vốn ưu đãi để tạo đất sản xuất hoặc chuyển đổi ngành nghề. Trong đó, người vay chỉ được vay vốn để sử dụng vào một trong các mục đích sau: Vốn vay được sử dụng vào việc chi phí khai hoang, phục hóa, phục hóa đất sản xuất hoặc tự nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất.

     

    Khách hàng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn; có phương án sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh. Trong đó, người vay chỉ được vay vốn để sử dụng vào một trong các mục đích: đầu tư vào sản xuất, kinh doanh ngành nghề không trái pháp luật (mua sắm máy móc, công cụ sản xuất, dịch vụ nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán…).

     

    Người vay thuộc đối tượng được vay vốn theo quy định có thể vay một hoặc nhiều lần nhưng tổng dư nợ cho vay không vượt quá mức cho vay áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ. Hiện mức vay cho vay tối đa đối với hộ nghèo là 50 triệu đồng/hộ.

     

    Lãi suất cho vay được tính bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo trong từng thời kỳ (Hiện mức lãi suất cho vay đối với hộ nghèo là 6,6%/năm). Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay. Người vay được miễn lệ phí làm thủ tục hành chính khi vay vốn.

     

    Thời hạn cho vay tối đa là 10 năm. Căn cứ vào chu kỳ sinh trưởng của đối tượng vay, khả năng trả nợ của người vay, người vay và NHCSXH thỏa thuận thời hạn cho vay cụ thể.

     

    Riêng đối với người vay vốn để tạo đất sản xuất thì ngoài các căn cứ nêu trên còn phải căn cứ vào thời hạn còn lại được sử dụng đất sản xuất của hộ vay và NHCSXH chỉ xem xét cho vay khi thời hạn còn lại được sử dụng đất sản xuất bằng hoặc lớn hơn thời hạn cho vay đã thỏa thuận nêu trên.

     

    Câu 3. Ông Vương Minh Thu trú tại phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn hỏi: điều kiện để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013 thì đối với hộ gia đình, cá nhân khi bị nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội được bồi thường khi thỏa mãn các điều kiện sau:

     

    1. Không phải là thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;

     

    2. Thuộc ít nhất một trong các trường hợp sau:

     

    - Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

     

    - Có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;

     

    - Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

     

    - Có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai 2013 mà chưa được cấp, trừ trường hợp đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

     

    3. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai mà chưa được cấp.

     

     

    TRẢ LỜI BẠN NGHE ĐÀI:

     

    Thứ ba, ngày 19 tháng 9 năm 2017

     

     

    Câu 1. Ông Lưu Minh Tấn trú tại phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn hỏi: các biện pháp cơ bản để ứng phó với thiên tai được nhà nước quy định như thế nào?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 26 Luật phòng chống thiên tai 2013, thì căn cứ vào loại thiên tai, cấp độ rủi ro thiên tai xảy ra, Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp quyết định lựa chọn một hoặc một số biện pháp cơ bản để ứng phó với thiên tai như sau:

     

    1. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, nước dâng, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy được quy định như sau:

     

     - Sơ tán người ra khỏi khu vực nguy hiểm, nơi không bảo đảm an toàn; tập trung triển khai biện pháp bảo đảm an toàn cho người, đặc biệt đối tượng dễ bị tổn thương trong tình huống thiên tai khẩn cấp;

     

    - Di chuyển tàu thuyền, phương tiện nuôi trồng thuỷ sản trên biển, ven biển, trên sông ra khỏi khu vực nguy hiểm; tổ chức kiểm đếm, hướng dẫn tàu thuyền neo đậu hoặc thực hiện biện pháp khác để bảo đảm an toàn;

     

    - Thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn đối với nhà cửa, công sở, bệnh viện, trường học, kho tàng, công trình và cơ sở kinh tế, an ninh, quốc phòng;

     

     

    - Chủ động thực hiện biện pháp bảo vệ sản xuất;

     

    - Kiểm tra, phát hiện và xử lý sự cố công trình phòng, chống thiên tai, công trình trọng điểm về kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng;

     

    - Giám sát, hướng dẫn và chủ động thực hiện việc hạn chế hoặc cấm người, phương tiện đi vào khu vực nguy hiểm trên sông, trên biển, khu vực và tuyến đường bị ngập sâu, khu vực có nguy cơ sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy và khu vực nguy hiểm khác;

     

    - Bảo đảm giao thông và thông tin liên lạc đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai;

     

    - Thực hiện hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống và nhu yếu phẩm khác tại khu vực bị chia cắt, khu vực ngập lụt nghiêm trọng và địa điểm sơ tán;

     

    -  Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai;

     

    -  Huy động khẩn cấp và tuân thủ quyết định chỉ đạo, huy động khẩn cấp về nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm để kịp thời ứng phó với thiên tai.

     

    2. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với hạn hán và xâm nhập mặn được quy định như sau:

     

    - Điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ phù hợp với dự báo, cảnh báo và tình hình diễn biến hạn hán và xâm nhập mặn;

     

    - Vận hành hợp lý hồ chứa nước, công trình cấp nước, ưu tiên cấp nước sinh hoạt; sử dụng tiết kiệm, chống thất thoát nước;

     

    - Ưu tiên cung cấp điện và vật tư, nhiên liệu cần thiết cho các trạm bơm;

     

    - Tổ chức quan trắc độ mặn, điều hành đóng mở cống lấy nước và ngăn mặn phù hợp với tình huống cụ thể.

       

    3. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với sương muối, rét hại được quy định như sau:

     

    - Triển khai biện pháp chống rét cho người, đặc biệt cho đối tượng dễ bị tổn thương;

      

    - Triển khai chống rét và bảo đảm nguồn thức ăn cho gia súc;

     

    - Triển khai biện pháp bảo vệ cây trồng phù hợp.

     

    4. Biện pháp cơ bản ứng phó đối với động đất, sóng thần được quy định như sau:

     

    - Chủ động trú, tránh, bảo đảm an toàn khi xảy ra động đất;

     

    - Chủ động sơ tán ra khỏi khu vực chịu ảnh hưởng của sóng thần;

     

    - Tổ chức tìm kiếm cứu nạn, cứu chữa người bị thương;

     

    - Bố trí nơi ở tạm, hỗ trợ lương thực, thuốc chữa bệnh, nước uống, nhu yếu phẩm khác cho người dân bị ảnh hưởng;

     

    - Bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân tại khu vực xảy ra thiên tai.

     

    5. Đối với nắng nóng, lốc, sét, mưa đá và các loại thiên tai khác thì căn cứ vào dự báo, cảnh báo, tính chất và diễn biễn thực tế của từng loại thiên tai, chủ động triển khai biện pháp ứng phó phù hợp với tình huống cụ thể.

      

    Câu 2: Ông Hoàng Văn Trang, trú tại thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc hỏi: Tôi là người dân tộc Nùng, nhận nuôi con nuôi là người dân tộc Kinh, nay tôi muốn yêu cầu xác định lại dân tộc của con nuôi theo dân tộc Nùng có được không?

     

    Trả lời:

     

    Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự 2015 về quyền xác định, xác định lại dân tộc như sau:

     

    1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.

     

    2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.

     

    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghịcủa người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghịcủa người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

     

    3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.

     

    4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.

     

     

     

    5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.

     

     

     

     

    Theo quy định trên, pháp luật không quy định việc cho phép xác định lại dân tộc của một người từ dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi. Việc yêu cầu xác định lại dân tộc Kinh của con nuôi sang dân tộc Nùng là không được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.