Trả lời bạn xem truyền hình ngày 04/04/2023

Thứ 3, 04.04.2023 | 09:35:03
1,891 lượt xem

LSTV - Tuần 1 Thứ ba, ngày 04 tháng 4 năm 2023

Câu 1. Ông Triệu Văn Chung, trú tại thị trấn nông trường Thái Bình, huyện Đình Lập hỏi: Theo quy định của pháp luật có được đăng ký thường trú tại nơi từng bị xóa đăng ký thường trú không? 

Trả lời:

Tại Điều 23 Luật Cư trú 2020 có quy định về địa điểm không được đăng ký thường trú mới như sau:

Địa điểm không được đăng ký thường trú mới 

1. Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn, chiếm hành lang bảo vệ quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng, khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật.

2. Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn, chiếm trái phép hoặc chỗ ở xây dựng trên diện tích đất không đủ điều kiện xây dựng theo quy định của pháp luật.

3. Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Chỗ ở bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; phương tiện được dùng làm nơi đăng ký thường trú đã bị xóa đăng ký phương tiện hoặc không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

5. Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, không có quy định không cho phép công dân không được đăng ký thường trú lại tại nơi ở từng bị xóa đăng ký thường trú.

Cho nên, người bị xóa đăng ký thường trú được đăng ký thường trú lại nếu đáp ứng điều kiện đăng ký thường trú.


Câu 2. Ông Huỳnh Thanh Chương, trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn hỏi: Bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà trong trường hợp nào theo quy định của pháp luật?

Trả lời

Tại khoản 2 Điều 132 Luật Nhà ở 2014 có quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở như sau:

- Bên cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, nhà ở xã hội cho thuê không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng điều kiện theo quy định của Luật này;

- Bên thuê không trả tiền thuê nhà ở theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;

- Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng;

- Bên thuê tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê;

- Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê;

- Bên thuê làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục;

- Bên cho thuê thực hiện cải tạo nhà ở và điều chỉnh giá thuê nhà ở nhưng không được bên thuê nhà ở đồng ý.

Câu 3. Bà Lý Minh Thu, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc hỏi: theo quy định của pháp luật có được bán rượu bia tại cơ sở cai nghiện ma túy không? Hành vi bán rượu bia tại cơ sở cai nghiện bị xử phạt hành chính như thế nào?

Trả lời

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia 2019 quy định về các địa điểm không bán rượu bia như sau:

“1. Cơ sở y tế.

2. Cơ sở giáo dục.

3. Cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi.

4. Cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác.

5. Cơ sở bảo trợ xã hội.

6. Nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia.”

Theo quy định nêu trên, cơ sở cai nghiện được quy định là địa điểm không bán rượu bia.

Do đó, hành vi bán rượu bia tại cơ sở cai nghiện ma túy là không được phép.

Theo quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 31 Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính với hành vi bán rượu bia tại cơ sở cai nghiện ma túy như sau: 

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm.

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm.

  • Từ khóa